Nguyễn Đạo Vinh
BỐ LẠY THẦY
Cũng như mọi ngày, cứ cơm nước xong là bọn tôi lại tụ tập ở nhà lão Còm, để uống nước, tán gẫu.
Vừa vào đến cửa, tôi nhìn thấy lão Còm đứng quay lưng vào chiếc ti vi, mặt mày cau có, mồm lẩm bẩm:
- Mẹ! Chỉ có ăn với nói thôi mà cũng không xong.
Thấy lạ tôi liền hỏi:
- Ông nói ai đấy?
Lão chỉ tay vào chiếc ti vi rồi luyến thoắng:
- Ti vi đưa tin, nó bảo rằng, hôm nay, ông nọ, bà kia, đi thăm hỏi, chúc tết tặng quà cho, nơi nọ, nơi kia. Thế tôi hỏi ông, có phải tiền túi của các ông, các bà ấy bỏ ra không? Hay tiền đó là tiền của dân? Nói lấy được. Ngứa mắt, ngứa tai!
- Họ có quyền, có tiền, công cụ lại ở trong tay, thì họ nói đúng, nói sai, nói hay, nói dở, thế nào mà chẳng được.
Lão Còm lên mặt giận giữ rồi la lớn:
- Nói như ông thì khác đ.. gì ‘’đánh bùn sang ao’’? Lão đưa mắt lườm tôi rồi cằn nhằn:
- Đảng viên mà ‘’Mũ ni che tai, quan Nhất cũng ừ, quan Tư cũng gật’’, thì dân hết cậy, hết nhờ. Dân trí bây giờ khác xa cái thời ‘’Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ/ Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ’’ rồi. Họ không dám phản ứng nhưng họ khinh. Nói gì thì nói nhưng phải đúng. Nói sai, người ta ỉa vào mặt. Càng nghe, càng tức.
Bị lão Còm đá xoáy, tôi cũng hơi chạnh lòng. Để hạ bớt cơn giận của lão, tôi vờ quay đi không để tâm tới câu chuyện ấy nữa. Lát sau tôi đột ngột quay lại hỏi:
- Ông pha nước chưa?
Vẫn vẻ mặt cau có, lão Còm cộc lốc:
- Pha rồi! Rót ra mà uống!
Thấy lão Còm vẫn hừng hực như chực đấm ai, tôi liền buông vài câu dàn hòa:
- Thôi bố ơi, người xưa đã dạy chúng ta rằng: “Một điều nhịn, chín điều lành” và còn câu này bố nhớ găm vào đầu nhé: ”Lục thập nhi nhĩ thuận”. Bố năm nay đã ngót nghét tám mươi rồi, còn chấp cạ những lời nói của thiên hạ để làm gì?
Những tưởng nói ra vài câu khôi hài như vậy, thì lão Còm sẽ nguôi cơn giận. Nào ngờ, khi nghe tôi nói xong lão đâm ra nổi khùng. Lão quát:
- Đừng có thở ra bằng cái giọng ba phải! Giá như tôi với ông, hay với một ai đó, có xích mích thì ông nói “Một điều nhịn, chín điều lành”, tôi xin phục tùng ngay. Còn cái câu ”Lục thập nhi nhĩ thuận” tức là đến tuổi sáu mươi nghe cái gì cũng thuận tai, nó chỉ nằm trong giới hạn con mắt của mỗi cá nhân với nhau thôi. Đằng này nó lại mang tính quốc gia đại sự, thì ông nói thế nào? Như sợ người nghe hiểu nhầm, lão Còm vội vàng phân trần:
- Đáng ra họ phải nói là, ông A, bà B, thay mặt Đảng và Nhân dân cả nước, đến thăm hỏi, động viên, chúc tết, tặng quà mới đúng. Chỉ thêm có mấy từ thôi, mà cũng không cho vào được là thế nào?
Nói xong câu này, hình như đã trút được cơn giận, lão Còm bắt đầu hạ giọng:
- Nói như thế thì người dân còn hỉ hả, vì họ nghĩ, có mình trong đó. Chỉ nói cụt lủn mỗi câu như vừa rồi thì dân họ bảo ”Của người phúc ta”, từ đó họ sinh ra oán ghét, khó moi được tiền ủng hộ của người ta lắm. Cầm chén lên nhấp, nhấp, một chút, lão xuống giọng từ tốn:
- Ông cứ cho tôi là chấp cạ, các cụ xưa đã chẳng dạy: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hay ‘’Lời nói gói bạc, lời nói đọi máu’’. Như ti vi nói ban nãy, thì có khác gì, thọc xà beng vào tai người ta, ai chẳng nổi cáu. Ngồi một lúc lâu, lão Còm lại bắt đầu thủ thỉ:
- Tôi nói với ông câu này – Nói để người ta há hốc mồm lên nghe thì hãy nói. Còn nói để người ta quay mặt, chổng đít vào, thì đừng nên nói. Là người thì phải có chữ Liêm, chữ Sỉ ở trong đầu.
Qua chuyện vừa rồi của lão Còm, làm tôi chợt nhớ tới một câu chuyện đã đi vào dĩ vãng.
Cách đây chừng bảy, tám, năm. Hôm đó, tôi có việc phải đi qua làng Đồng Trài, làng này chỉ cách trung tâm Thủ Đô khoảng ngót mười cây số.
Cảnh sắc nơi đây thật là đẹp. Nổi bất nhất là một hồ lớn nằm ở khu trung tâm. Nước trong xanh, phía đông bắc có một dải đất nhô ra trông như một bán đảo. Ở đó họ dựng lên mấy ngôi nhà cao tầng mang dáng dấp biệt thự.
Xung quanh hồ có hàng lan can được xây dựng bằng bê tông, toàn bộ được phủ lớp sơn màu cánh sen trông rất đẹp mắt.
Bên trong hàng lan can là những cây liễu xanh rờn rủ bóng xuống mặt nước hồ lăn tăn gợn sóng.
Cạnh đó Nhà văn hóa thôn đồ sộ mặt quay ra phía hồ. Nối liền đó là nhiều quán giải khát, hàng ăn, lúc nào cũng nhộn nhịp đông khách.
Sát với con đường nhựa rộng thênh thang là một cái cổng lớn, trên đó có treo một tấm biển to với hàng chữ: “ Làng văn hóa thôn Đồng Trài ”.
Thấy hiện tượng là lạ tôi đứng ngắm mãi, mồm lẩm bẩm. “Đã làng lại còn thôn. Hàng ngày nghìn người, vạn người đi qua họ nghĩ sao?”
Đứng lúc lâu ngẫm nghĩ, tôi quyết định đánh bạo vào gặp mấy ông lãnh đạo hỏi xem sao.
Tôi liền hỏi thăm một vị đang ngồi nhấm nháp ly café xem ông ta có biết ai là lãnh đạo ở đây? Ông ta trả lời:
Họ đang ngồi cả trong hội trường nhà văn hóa đây này. Cảm ơn vị khách nọ xong, tôi rảo bước đi vào.
Thì ra hôm nay là buổi giao ban, các ông đã họp xong đang ngồi uống nước tán gẫu.
Chào các ông, các bà. Tôi cất lời. Một ông có dáng dấp là lãnh đạo cao nhất ở đó đứng dậy hỏi?
Ông có việc gì? Tôi trả lời:
Tôi thấy cái cổng ngoài kia của các ông trang trí tuyệt đẹp nhưng lại thấy dòng chữ trên biển hơi là lạ, muốn hỏi các ông một tý. Dừng lại một lát để thăm dò ý tứ xong, tôi nói tiếp:
Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi thì cái dòng chữ trên biển của các ông phải sửa đi. Ông lãnh đạo kia gắt:
Ông bảo sửa là sửa thế nào? Tôi trả lời:
- Làng là một từ thuần Việt để chỉ cụm dân cư ở một nơi nào đó. Thôn cũng là từ chỉ một cụm dân cư, nhưng chữ thôn mang âm ngữ Hán Việt và từ xưa tới nay, chỉ có thôn nằm trong làng, chứ không có làng nằm trong thôn. Nên viết Làng văn hóa Đồng Trài hay Thôn văn hóa Đồng Trài thôi.
Nghe xong ông lãnh đạo trừng mắt quát:
Ông lại giỏi hơn cả huyện, cả tỉnh à? Huyện, tỉnh ghi như thế nào, chúng tôi để nguyên như thế ấy. Muốn thắc mắc lên huyện, tỉnh mà thắc mắc. Ông ta cau có, vừa quay đi, vừa xổ ra một tràng:
Đồ hâm! Đồ chập mạch! Đồ dở hơi!
Đến đây thì tôi chỉ còn nước chắp tay:
Bố lạy thầy!
Vừa mới đây thôi, ngày… tháng 11 năm 2025 tôi lại đọc được một khẩu hiệu mang dòng chữ ‘’ Nhiệt liệt chào mừng những vị đại biểu tổ dân phố… về dự ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc’’. Đáng ra chỉ ghi ‘’ Nhiệt liệt…….đại đoàn kết toàn dân’’ là đủ, còn thêm chữ ‘’tộc’’ vào làm gì cho chối tai, gai mắt người đọc. Cứ cái đà này thì tôi cũng chẳng biết, mình sẽ còn phải chắp tay, cúi đầu để ‘’Bố lạy thầy’’ thêm bao nhiêu lần nữa./.
TIỀN CHÙA
Cách đây mấy năm, lúc đó quê tôi vẫn gọi là làng, vài năm sau mới chuyển thành Phường.
Để duy trì, gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa ở địa phương, nhiều đoàn cán bộ văn hóa của huyện, xuống làm việc. Họ thống kê, kiểm tra lại toàn bộ, các ấn phẩm, vật phẩm và những gì có trong khuôn viên, ở đình, ở chùa, để bàn giao, khi lên phường, lên quận.
Vài tuần sau đó tôi được mời ra dự, với tư cách là phóng viên ghi hình không chuyên.
Khi đến nơi, thấy sân đình làng được trang hoàng lộng lẫy. Các dãy bàn ghế được kê thẳng tắp, phủ thêm lớp khăn trải bàn màu trắng muốt. Bên trên mỗi bàn có một bát hoa trông thật đẹp mắt.
Tôi bật máy, lia chầm chậm, bỗng tôi phát hiện ra điều lạ, cái cây nhãn ở mép ao trước sân đình, hôm nay lại được khoác lên mình một tấm vải đỏ, phía trên cài một bông hoa hồng bằng lụa, trông giống người thi đỗ Trạng nguyên về làng thời xa xưa. Liếc mắt sang trái lại thấy dòng chữ: Lễ đón nhận quyết định cấp giấy chứng nhận cây di sản, nhân lễ hội truyền thống rằm tháng … năm…. Trong đầu tôi nảy ý thắc mắc: ‘’Quái lạ, cây nào là cây di sản nhỉ?”
Đang mải suy nghĩ thì từ ngoài cổng, một đoàn cán bộ, huyện, xã, và những đại biểu, đại diện cho hơn một ngàn người dân làng Nam Xá tiến vào. Nam vận comle, cổ đeo cà vạt, nữ vận áo dài đủ các gam màu sặc sỡ. Trên ngực mỗi người cài một bông hồng đỏ thắm. Hai người đi trước khênh một lẵng hoa to có dải băng đỏ in dòng chữ: Nhiệt liệt chúc mừng cán bộ và nhân dân làng Nam Xá đón nhận danh hiệu cây di sản.
Họ ngồi lần lượt theo thứ tự, cấp bậc, vừa chật bốn dãy bàn, ước tính hơn trăm người.
Những người giúp việc nấu nướng, cùng mấy cô tiếp tân chạy lăng xăng đi mời nước các quan khách.
Ông chủ tọa năm nay đã ngoài tám mươi, người nhỏ thó vận bộ comle màu sữa tiến đến bàn tổ chức, ông long trọng tuyên bố:
Lễ đón nhận quyết định, cấp giấy chứng nhận cây di sản bắt đầu.
Sau tiếng hô, dàn nhạc cùng những tiếng vỗ tay nổi lên một chặp, tiếp đến là một tràng kính thưa, kính gửi, cùng bài diễn văn khai mạc, mất khoảng hai mươi phút.
Trong bài diễn văn của ông, người ta đếm được, mười sáu lần ông bày tỏ lời cảm ơn, mà lần nào cũng có câu chân thành và sâu sắc nhất tới các vị lãnh đạo. Cuối bài diễn văn của ông vẫn là câu “ Xin trân trọng cảm ơn ”.
Vài tiếng vỗ tay lẹt đẹt phát ra. Tiếp đến từng đoàn đại biểu lên tặng hoa. Mỗi đoàn lên tặng, cầm một bó hoa có gài chiếc phong bì vào đó, hết hơn chục đoàn tặng hoa là đến tiết mục ông trưởng thôn lên đọc báo cáo. Ông kể lể về công lao của các vị, đã chăm sóc, tu tạo, bảo tồn và xây dựng hồ sơ đề nghị cấp trên xét công nhận cho cây nhãn ở trước sân đình là Cây di sản. Trong báo cáo có đoạn viết:
‘’Đình làng Nam Xá được xây dựng từ thời Lê sơ, cây nhãn trước cửa cũng được trồng vào thời điểm ấy, do vậy tính đến nay, cây đã có tuổi đời trên ba trăm năm. Nay tiểu ban bảo tồn di tích làng Nam Xá, khẩn thiết đề nghị, Phòng văn hóa thông tin huyện, cấp giấy chứng nhận, công nhận cây nhãn ở đình làng Nam Xá là cây di sản’’.
Sau báo cáo, một cán bộ phụ trách phòng văn hóa, thông tin huyện lên đọc quyết định công nhận cây nhãn ở đình làng Nam Xá là Cây di sản của làng, giao cho cán bộ và nhân dân Nam Xá trông coi. Ông trưởng thôn lên tiếp nhận quyết định và hứa hẹn.
Đến tiết mục gắn danh hiệu, tất cả mọi người kể cả quan khách đi ra khỏi bàn, tập trung hướng mặt vào cây nhãn. Sau một hồi trống, chiêng, thanh la, tù và rúc inh ỏi, anh Hưng bắc chiếc thang nhôm vào rồi trèo lên, rút cái đinh cùng chiếc búa ở túi quần sau đóng cạch, cạch. Chiếc đinh dài gang tay xuyên qua tấm biển, cắm ngập vảo thân cây. Tiếng vỗ tay râm ran. Tiếng nhạc lại nổi lên ruỳnh ruỳnh.
Trong lúc mọi người ra làm lễ gắn biển thì bộ phận hậu cần đã bê cỗ bầy ra các bàn. Ông trưởng ban tổ chức mời các quan khách và những người đến dự ngồi vào bàn để thụ lộc.
Tiếng cười nói rộn rã, họ nâng chén, chúc tụng nhau bằng đủ những lời hoa mĩ nhất.
Mặc cho mọi người ăn uống nhậu nhẹt, tôi bỏ ra gốc nhãn ngồi. Nhìn dòng nước đen ngòm chảy dưới chân. Từng đám những con lăng quăng dún da, dún dẩy bơi qua, bơi lại. Bỗng nghe như có tiếng thì thầm bên tai. Tôi vội đứng lên, ngơ ngác nhìn xung quanh, cố trấn tĩnh xem mình tỉnh hay mơ, thì lại nghe thấy những điệp khúc ấy.
Áp sát tai vào thân cây, ngửa mặt nhìn lên tán lá. Một dòng nhựa đỏ như máu, đang chảy ra ở chỗ cái đinh đóng biển ban nãy. Cùng lúc đó có tiếng nói từ trong lõi cây phát ra:
Bác ơi, bác giải oan cho tôi đi!
Hoảng quá tôi định bỏ chạy, nhưng từ trong lõi cây lại phát ra “Đừng sợ, đừng sợ”. Tôi lấy lại bình tĩnh ngồi xuống, áp sát tai vào thân cây, rồi mạnh dạn hỏi:
Thưa cụ, cụ cần gì ạ!
Không dám, không dám! Tôi chỉ hơn bác có vài chục tuổi thôi. Năm vỡ đê tôi còn ở cái nước Mandi nào đó, mãi mấy năm sau mới được ông chim mang về đây. Tôi từ bụng ông chim tòi ra gặp đất phù sa màu mỡ, tôi nảy mầm và lớn nhanh như thổi ở đây.
Tranh thủ lúc cây lấy hơi tôi hỏi:
Cụ định nói đến trận vỡ đê Hoàng Mạc năm Ất Mão (1915) chứ gì?
Đúng, đúng đấy, bác nhớ giỏi quá. Sau cái trận vỡ đê năm ấy thì tôi mới về đây. Tôi được cụ gạo kể lại, ngôi đình này đã có từ đời nảo, đời nào rồi, cổ kính rêu phong lắm, cột kèo xô lêch, phải qua ba, bốn, đợt trùng tu nó mới được như thế này. Phía tây ngôi dình có một cây gạo, phải gọi là ông gạo, cụ gạo, mới đúng. Bởi, cụ cao khoảng năm mươi thước tây, gốc sáu người ôm không xuể, cành lá xum xuê, về mùa tháng Ba khi làng mở hội là hoa cứ đỏ rực trên cây, sáng cả góc trời. Ai đi xa về gần đều nhớ đến cây gạo đó. Ngừng một lát cụ nói tiếp:
Tôi còn nhớ, cách đây khoảng dăm, sáu chục năm, các ông phát động phong trào cách mạng gì đấy. Họ đưa ra chương trình, là, bài trừ tận gốc những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. Họ cho rằng, đình là nơi tập trung quyền lực của bọn phong kiến, đế quốc và là nơi chứa chấp các hủ tục lạc hậu, họ định đập bỏ. Nhưng vì thiếu cơ sở vật chất, họ đành giữ lại ngôi đình làm kho chứa vật liệu như, phân đạm, thuốc trừ sâu, làm chuồng lợn, chuồng bò rồi trường học v v. Suốt bao năm chẳng có ai nhòm ngó, tôi bị các loại cây dây leo trùm kín, không thở nổi, đã mấy lần, xuýt mất mạng. Các đồ thờ cúng trong đình thì họ mang đi đâu không rõ, quanh năm hương lạnh, khói tàn, kéo dài suốt mấy chục năm trời. Giá văn, ngựa gỗ… họ chẻ ra làm củi đun cám lợn v v. Nay nhờ vào cái chỉ thị gì ấy rồi nhờ vào khoản tiền công đức của những người hảo tâm, mấy tay cán bộ địa phương bắt đầu huênh hoang, tỏ ra quan tâm tới ngôi đình. Quan tâm cái quái gì, họ chỉ quan tâm đến đống tiền công đức của dân, tiền của nhà nước rót về mà thôi. Dừng một lát để suy nghĩ, sau đó cụ than thở:
Phá tan, phá nát. Giờ thấy sai, lại sửa sang rõ lắm, vinh cái nọ, danh cái kia. Rõ là tởm lợm. Mạt hạng! Mạt hạng đến mức không còn gì để nói?
Nghe cụ nhãn nói vậy, tôi hào hứng tiếp lời:
Họ không làm thế thì làm sao moi được tiền ra để xài? Rồi sau này, họ còn vẽ ra hàng trăm, hàng nghìn các hạng mục cần phải, đắp điếm, sửa sang, tu bổ, để họ còn có cái đánh chén nữa chứ!
Phải đấy, phải đấy! Từ ngày dấp dính đến việc công nhận di tích lịch sử văn hóa cho cái nọ, cái kia ngày nào chả có tiếng dao, tiếng thớt. Hết xã lại huyện, hết huyện lại xã. Họ bù khú với nhau kinh lắm, vì họ tiêu toàn tiền chùa mà.
Vì muốn biết tuổi thực của cây, để có cơ sở nói chuyện với mấy ông lãnh đạo, bởi thế cho nên tôi lễ phép hỏi:
Thưa cụ! Thể thì năm nay, cụ cũng đã ngót trăm tuổi rồi nhỉ?
Đúng đấy, đúng đấy! Vì vậy, tôi mới bảo bác giải oan cho tôi.
Tuy đã tin vào lời nói của cây, nhưng tôi vẫn cảnh giác, liền đưa ra một câu, nửa đùa, nửa thật để thăm dò:
Cụ được họ phong cho danh hiệu cao quý, sung sướng, oai phong thế, mà còn than thở à?
- Cao quý, cao quý cái nỗi gì, cao quý thì tôi đã chẳng phải rỉ máu và nước mắt ra, bác nhìn lên chỗ họ đóng biển ấy.
Một lần nữa tôi lại ngước lên, dòng nước như dòng máu vẫn chảy ra gần đến chỗ tôi ngồi. Lúc sau cây lại thủ thỉ:
- Quanh tôi có cây bằng tuổi, có cây ít hơn tôi vài ba tuổi, họ đang vẫy cành, vẫy lá, không phải để chúc mừng, mà họ đang dễu cợt tôi đấy. Họ bảo tôi là loại háo danh, xấu hổ lắm, xấu hổ lắm.
Cứ mỗi lần nói xấu hổ lắm, là các cành lá của cây nhãn lại rũ xuống, trông rất tội nghiệp. Lát sau, cây than thở tiếp:
Cái này mới là cái đau đớn nhất của cuộc đời tôi bác biết không? Họ nhãn nhà chúng tôi là cứ năm ăn quả năm trả cành, như vậy suy ra là cứ hai năm là lại có một thế hệ nhãn con vì vậy tôi chỉ đứng vào hàng chút chít chụt chịt, mà nay lại ngồi ngang hàng với cụ Tổ. Thật là điên rồ, bởi, cụ Tổ đã khuất núi đâu, vẫn ngồi sờ sờ ở đất Hưng Yên, quê hương của cụ kia kìa. Nghe tới đây tôi hỏi lại cụ:
Thế tại sao lúc họ làm hồ sơ đưa cụ lên cụ không cãi, dứt khoát không nhận thì họ làm gì được. Cụ bảo:
Nào ai biết là họ làm? Mấy tháng trước thi thoảng lại thấy có đoàn về, họ đứng đằng xa chỉ trỏ, cứ ngỡ họ muốn hạ tôi xuống để xẻ ra đóng bàn ghế cho học sinh. Mới đầu tôi cũng hơi buồn, sau nghĩ lại mình có được hạ xuống đóng thứ nọ, thứ kia giúp ích cho đời thì cũng tốt. Nghỉ một lát để lấy hơi, cụ lại phều phào:
Mãi tới hôm nọ, họ chụp ảnh làm hồ sơ, tôi mới rõ là họ quyết định phong cho tôi cái danh hiệu cây di sản thì còn cãi sao được nữa? Có cãi cũng chả được với mấy ông cán bộ, háo danh, mồm loa mép giải đâu. Họ đã định làm gì, thì họ cố tình làm cho bằng được, bất kể việc đó đúng hay sai. Bác cứ ngẫm mà xem, chỉ có ba chữ cây di sản, mà họ cũng đánh chén, năm, bảy, bữa, bỏ túi bạc triệu, chứ có ít đâu? Họ đưa tôi ra làm cái vỏ bọc, làm cái bình phong, để moi tiền của nhà nước, tiền công đức của dân đấy, tôi biết hết. Họ còn mang tiền công đức của dân đi ăn, chơi khắp đó đây, khi về mỗi người xách theo một túi quà nặng, tôi còn lạ gì, bởi ‘’Vải thưa sao che được mắt Thánh’’. Ngẫm nghĩ một lát cụ nhãn nói tiếp:
Rồi cũng sẽ tới lúc, Thánh quở trách, Thánh phạt, cái lũ ăn không ngồi dồi, tham lam vô độ này cho mà xem.
Đến lúc này, tôi mới hoàn toàn tin vào những lời nói của cụ nhãn. Chờ cho mọi người ăn xong, khách khứa đã ra về, tôi mới lân la tới chỗ mấy ông cán bộ để nói lại câu chuyện vừa rồi. Ông trưởng ban tổ chức nghe xong nói:
Mất gì của mình mà ông cứ vạch áo cho người xem lưng.
Tôi bực quá gắt toáng:
Ông chả mất gì, tôi cũng chả mất gì, nhưng, trong khi dân tình còn đang nghèo đói, các ông vứt ra hàng trăm triệu đông tiền quĩ của dân để làm một việc, nhố nhăng, vô bổ.
N.Đ.V