Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

GIẤC MƠ CÓ THẬT

Phạm Hồng Loan

GIẤC MƠ CÓ THẬT (Trích trong tập "Trở về")


          Cuối tuần. Tôi mải miết ra xe buýt về quê. Cũng không có gì là vội vã. Thời gian với tôi bây giờ quá dư thừa. Không như trước kia, mỗi khi có việc về quê phải tính toán cho hợp lý từng giờ. Xuống xe, tôi cứ đi mãi. Quê mình đây. Mỗi ngõ nhỏ, gốc cây,  cả tiếng sóng biển lúc thầm thì, lúc dữ dội đều rất đỗi thân quen. Đi trong miên man, chợt nghe tiếng nói thân thương như vọng về từ đâu đó: “Em gái của anh đã về đấy à? Lâu rồi anh không được gặp em.” Tôi quay lại. Anh Tư! Là anh đó ư?  “Anh đây. Kìa. Sao em lại khóc? Gặp anh, em phải vui lên chứ. Nước mắt  có giải quyết được chuyện gì đâu em. Bây giờ trông em đã từng trải, già dặn nhiều rồi, không như ngày anh còn ở nhà. Ừ. Ngày anh đi bộ đội, em chỉ là cô bé chín tuổi, nhỏ thó, suốt ngày làm nũng anh. Mỗi tuần anh đi học về, cứ nhõng nhẽo bám theo anh suốt ngày. Anh làm gì cũng xán vào, đòi làm cùng. Thương lắm, cô em gái bé bỏng của anh. Nào lại đây, anh có nhiều chuyện để kể cho em  đấy. Em nghe nè.

  “Tùng…Tùng…Tùng…Hình như tiếng trống. Gì thế nhỉ? Anh mở mắt. Sắp đến giờ bọn anh tập hợp, chào cờ và luyện tập rồi. Mọi ngày là tiếng kẻng lệnh vang xa cơ mà. Sao hôm nay lại là tiếng trống. Anh nghiêng tai. Ba hồi, chín tiếng. Đúng rồi. Tiếng trống khai trường. Em có hình dung tâm trạng của anh lúc này không? Tự nhiên tim anh như vọt ra khỏi lồng ngực. Anh bước ra khỏi căn nhà nhỏ xinh mà gia đình mình đưa anh về ở sau 29 năm nằm lại mảnh đất Triệu Đông (Quảng Trị), đến với mái trường mà anh đã từng gắn bó suốt những năm tháng tuổi thơ. Nơi ấy, các cháu học sinh đang tưng bừng trong ngày khai trường, đón chào năm học mới, giống như anh em mình thuở xưa. Nhưng chợt anh dừng lại. Phải rủ đồng đội đi cùng. Vì họ cũng như anh. Ai cũng có một thời thơ ấu gắn bó với mái trường này. Ai cũng yêu gia đình, quê hương mình. Còn bây giờ, em biết không, anh đang đứng trước cổng trường. Cả sân trường lặng phắc. Tiếng quốc ca hùng tráng vang lên. Trong giây phút đón chào năm học mới, có ai biết đằng sau đội ngũ chỉnh tề của các em học sinh và các thày cô giáo là một đội ngũ  những người lính đã hy sinh vì mái trường này, vì quê hương, đất nước? Bọn anh xếp thành hàng nghiêm trang, giơ tay chào và cùng hát với các em. Hát bằng cả trái tim mình. Ôi. Sao anh lại khóc. Không. Anh không khóc. Nhưng sao nước mắt cứ rơi? Có ai biết hàng ngày bọn anh vẫn nghe âm vang tiếng trống báo hiệu giờ vào lớp, giờ tan học, nhìn từng tốp học sinh đến trường? Đôi khi, học sinh về hết, mình anh thơ thẩn, lang thang trong sân trường, tìm lại những kỉ niệm xa xưa. Ngày ấy, trường học đâu được khang trang như bây giờ. Đó là những lớp học lợp rạ, xung quanh là hào giao thông. Đang chăm chú nghe cô giáo giảng, chợt nghe tiếng kẻng báo động lanh lảnh vang lên là bọn anh không ai bảo ai, lặng lẽ nhanh tay xếp sách vở, ấn vào túi, chụp vội mũ rơm lên đầu rồi nhanh chóng tản vào giao thông hào, chui vào những chiếc hầm chữ A. Không hiểu sao anh lại nhớ đến hệ thống chiến hào ở Quảng Trị. Em lại hỏi chiến hào là gì, phải không? Cô em gái bé nhỏ của anh làm gì biết chiến tranh, hoặc có biết thì cũng chỉ qua sách vở thôi, đúng không? Chiến hào cũng giống như hào giao thông ấy, nhưng người ta đào sâu hơn và có nhiều ngách. Có khi mỗi ngách là một căn hầm để bộ đội ta nghỉ ngơi sau những trận đánh hoặc tránh bom, pháo kích của kẻ thù. Nếu như công việc đào giao thông hào ở quê mình dễ dàng xúc từng xẻng đất hất lên thì ở vùng đất Quảng Trị chỉ đào được vài xẻng đất là anh đã bở hơi tai với những lớp đất rắn câng, nói như các cụ hay nói là chó ăn đá, gà ăn sỏi, em nhớ không? Nhưng chẳng khó khăn nào anh không vượt qua được. Người lính mà em.

Rời mái trường, anh về nhà mình. Anh đi mà như lướt trên đường chứ không như em, cứ nhẩn nha bước một. Với anh, tất cả đều nhẹ như mây khói. Đến đầu ngõ, anh sững lại. Mẹ! Mẹ đang ngồi trên hiên nhà. Mắt mẹ cứ dõi vào nơi nào đó, xa lắm. Mẹ đang đợi anh về, đúng không em? Anh đã về đây sao mẹ không nhìn thấy anh? Anh kêu lên thật to: “Mẹ ơi!” rồi ào đến bên mẹ. Em nhìn này, anh đang ôm mẹ trong tay đấy. Sao mẹ cứ lặng im? Ánh mắt mẹ vẫn cứ hướng ra đầu ngõ, giống như ánh mắt ngày xưa mỗi chiều thứ bảy mẹ đón anh và bố đạp xe từ Nam Định về sau một tuần học căng thẳng. Anh muốn gào lên thật to: “Mẹ ơi, con là Tư đây. Con là con trai mẹ đây. Con đã về với mẹ rồi đây ạ. Sao mẹ không nhận ra con?”. Nhưng anh kịp dừng lại. Làm sao mẹ nhận ra anh. Anh chỉ là sương là khói, là ảo ảnh thôi. Có điều này em không biết đó thôi. Từ ngày mảnh đất Quảng Trị đón anh vào lòng, anh vẫn về với mẹ, với gia đình mình. Mỗi lần về, anh đều thấy mẹ với dáng ngồi như thế. Và lần nào anh cũng quì xuống, gục đầu vào lòng mẹ để cảm nhận bàn tay ấm áp vuốt tóc anh, thấy nước mắt của mẹ rơi xuống ướt cả má mình. Anh thầm thì với mẹ và tin mẹ sẽ nghe thấy: “Mẹ ơi, bao nhiêu tình yêu thương, niềm tin, hy vọng mẹ giành cho con nhưng con chưa  một lần đền đáp. Dù đang dốc sức ôn tập chuẩn bị cho kì thi chọn học sinh giỏi Văn của miền Bắc sắp đến gần, nhưng con vẫn xếp sách vở lại, lên đường đánh giặc. Bởi chí làm trai như chúng con không thể ngồi yên nhìn kẻ thù giày xéo đất nước. Hết chiến tranh, con lại về. Trang sách vẫn mở rộng đợi con. Bạn bè vẫn đợi con. Con sẽ học, học nữa, học mãi như mong ước của bố mẹ. Mẹ hãy tự hào vì con trai mẹ đã làm tròn chữ trung với đất nước. Con không mang về cho mẹ những tấm huân chương chói ngời nhưng trái tim  mẹ cho con, con đã hiến dâng cho đất nước. Mẹ đừng khóc nữa. Hãy coi như con vẫn còn sống. Nếu nước mắt có thể làm con người sống lại thì bây giờ trên đất nước mình có thêm bao dòng sông rồi. Bởi sự hy sinh của con còn quá bé nhỏ so với sự hy sinh của lớp lớp những con người làm nên lịch sử từ bao năm qua, mẹ ạ.

          Nào thôi, bây giờ anh em mình ra ao đi nào. Em nhớ không, những ngày anh em mình cùng vui đùa ở ao trước nhà. Cứ mỗi buổi chiều, anh leo lên cành sung chĩa ra gần giữa ao rồi nhún mình nhảy ùm xuống, bơi một mạch sang bờ bên kia. Lúc ấy bé Phương, bé Hải ngồi trên cầu ao khóc thét lên, còn em thì mặt mũi tái xanh tái xám sợ anh…chết đuối. Anh vội vàng bơi lại, lấy cây chuối đã chặt sẵn, thả xuống ao, rồi cho từng đứa bám vào, tập bơi. Tiếng cười đùa vang động trên mặt ao. Nhiều khi anh hít một hơi dài rồi lặn xuống. Em hoảng hồn, gào lên thất thanh: “Anh ơi, anh đâu rồi?”. Nước mắt chưa kịp tràn bờ mi, em đã cười hớn hở khi anh ngoi lên ngay trước mặt em. Mải mê vùng vẫy chỉ đến khi mẹ gọi thì anh em mình mới kéo nhau lên bờ. Nhưng anh biết em thích nhất là những lúc xem anh bắt cá, đúng không? Những lúc ao  cạn, anh lấy nơm úp cá. Chỉ vài nhát chụp, anh đã túm được một chú tươi roi rói, gãy đành đạch, quẳng lên bờ. Mấy đứa hè nhau bắt bỏ vào chậu  hò reo đến khản giọng,coi anh  như người anh hùng, đánh trận nào thắng trận đó. Còn nhiều chuyện lắm, lần sau gặp lại, anh sẽ kể cho em nghe nữa. Bây giờ muộn rồi, em về đi kẻo mọi người mong.”

          Chợt tôi mở mắt. Căn phòng ngủ dịu mát ánh điện. Không gian im lìm, vắng lặng. Thì ra đó là giấc mơ. Giấc mơ có thật.

     trove2

ÂN  TÌNH VỀ VỚI HÀ NAM    

          Cứ vào tuần đầu tiên mỗi tháng, Câu lạc bộ Cựu chiến binh-Cựu học sinh trường Lê Hồng Phong lại gặp mặt, lên kế hoạch hoạt động cho việc đi tìm kiếm và tri ân các gia đình liệt sỹ. Cuộc gặp mặt đầu tháng 5/2018 trở lên sôi nổi khi Trưởng ban liên lạc Trần Thái Sơn thông báo: Xuất phát từ việc tìm thân nhân liệt sỹ Trần Văn Thoan (Khóa 1965/1968, trường Lê Hồng Phong) ở xã Hoà Hậu, anh Trần Khắc Bạo được ông trưởng thôn xóm 13 giới thiệu anh Trần Đăng Hồng, đang ở xóm 14, là cựu học sinh khóa 1967/1970. Anh Hồng cho biết bốn liệt sỹ nữa học cùng lớp C với anh. Khi nào anh Bạo có địa chỉ của 5 gia đình thân nhân liệt sỹ, Ban liên lạc sẽ lên đường.

          Niềm vui lan toả trong chúng tôi mỗi khi nhận được thông tin mới về liệt sỹ. Ai cũng mong mau chóng tìm được gia đình họ, để hiểu thêm về những chàng thư sinh của thời: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, đưa họ về nơi đã có những tháng ngày miệt mài học tập, rộn rã niềm vui cùng bạn bè, rồi xếp lại sách vở, lên đường hiến dâng cuộc đời mình cho đất nước. Vẫn còn ẩn khuất đâu đó những liệt sỹ đang ngày đêm mong ngóng đợi ta tìm đến, mong ta tìm về. Và biết đâu nơi cao xanh, các liệt sỹ cũng đang quây tụ bên nhau, hướng về gia đình, về bạn bè và mái trường thân yêu.

 Ngày chủ nhật, chúng tôi lên đường. Mới sáng mà trời đã chang chang nắng, lồng lộng gió. Hình như trận mưa rào đêm qua đã gội rửa sạch sẽ bầu trời, gom hết mây dồn vào túi để khi cần thì bung ra cho mưa giật, sấm rền, trả lại cái  xanh trong vời vợi cho vòm trời tiết đầu hạ. Ra khỏi thành phố, chúng tôi đi vào con đường đang sửa sang, mấp mô đá sỏi. Gần đến cầu Sắc, cả đoàn dừng lại. Một tấm bảng cắm ở bên đường: “Đường đang sửa”. Vượt qua cây cầu nhỏ, sang bên kia bờ mương, ngồi trên xe, tôi có cảm giác lắc lư như đưa võng với con đường mòn chông chênh, nhỏ hẹp đầy ắp những ổ gà, ổ lợn trơn tuột có thể làm trượt bánh xe bất cứ lúc nào xuống dòng kênh đục ngầu thản nhiên, lững lờ trôi. Vượt qua con đường khổ ải, tôi thở phào: “Các liệt sỹ lại thử lòng, thử sức anh em mình rùi. Bây giờ có thể yên tâm đi tiếp. Hương hồn các liệt sỹ đang đợi mình ở nhà rồi đấy ạ.”(Có một điều không thể lí giải nổi là suốt mấy năm qua, trong các cuộc hành trình đi tìm kiếm và tri ân liệt sĩ bao giờ chúng tôi cũng gặp những khó khăn, trục trặc, nhưng rồi tất cả lại qua đi, xuôi chèo, mát mái). Điểm dừng chân đầu tiên của đoàn là nhà anh Trần Khắc Bạo, bạn đồng ngũ của anh Thái Sơn đã miệt mài kiếm tìm các gia đình liệt sỹ trong suốt tuần qua, người đưa đường sôi nổi, nhiệt tình, tận tuỵ như bản chất con người anh.

          Bước chân trên mảnh đất Hoà Hậu, trong tôi trào lên cảm giác thân quen. Phải vì đây là quê hương của Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc với mỗi tác phẩm không chỉ là bức tranh xã hội thu nhỏ của làng Vũ Đại xưa mà còn là của xã hội Việt Nam dưới thời thực dân nửa phong kiến. Xe lướt qua trước cửa nhà Bá Kiến giờ đã trở thành di tích được bảo quản, giữ gìn. Ngôi nhà tồn tại hơn 100 năm vẫn giữ được nguyên vẹn những nét kiến trúc tinh tế cổ xưa của vùng đồng bằng Bắc bộ thuộc sở hữu của một người là Bá Bính mà cố nhà văn Nam Cao tiết lộ chính là nguyên mẫu của ngôi nhà nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo. Chính vì thế, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngôi nhà vẫn được giữ gìn, bảo quản, trở thành điểm tham quan của du khách khi có dịp về Hà Nam. Ai cũng ngắm nhìn ngôi nhà cổ im lìm cùng thời gian, thi gan cùng tuế nguyệt rồi ngoái nhìn với vẻ tiếc nuối vì công việc còn nhiều, không có thời gian dừng lại để chiêm ngưỡng, để tự hỏi nơi nào Chí Phèo rạch mặt ăn vạ? Nơi nào tràn ngập ánh trăng rờ rỡ trong cuộc gặp gỡ định mệnh Chí Phèo, Thị Nở để rồi từ một kẻ chuyên rạch mặt, ăn vạ, hắn đã đòi “làm người lương thiện!” (Chí Phèo). Làng Vũ Đại ngày nay được bê tông hoá đến từng ngõ xóm với bao con đường rợp bóng, những khu vườn tràn ngập cây xanh, hoa trái. Làng quê yên ả, thanh bình trong lách cách tiếng thoi dệt vải, trong hương vị thoang thoảng của mùa hoa nhãn còn sót lại, hứa hẹn mùa sai hoa trĩu quả. Nơi đây, chúng tôi đã cập nhật được sáu học trò trường Lê hy sinh vì đất nước trong một khoảng thời gian rất ngắn chưa đầy một tháng (trong đó có hai liệt sỹ khóa 1965 - 1968 và bốn liệt sỹ khoá 1967-1970). Có còn ai nữa không để các liệt sỹ rủ nhau về với mái ấm trường Lê?

          Khi cập nhật thông tin các liệt sỹ ĩ, tay tôi như trùng xuống bởi chỉ có liệt sỹ Trần Đình Hiệp được an táng tại nghĩa trang Thủ Đức, khi anh bị thương ở Phnôm Pênh đưa về thành phố Hồ Chí Minh chữa trị nhưng không qua khỏi. Còn lại là các dòng chữ: Hy sinh tại mặt trận phía Nam. Còn nỗi đau nào hơn đối với gia đình không khi không biết con em mình đang nằm đâu đó? Góc rừng heo hút, hay vực thẳm sông sâu? Dẫu nơi đâu trên đất nước này cũng là đất MẸ, nhưng sao vẫn thấy đắng lòng. Làm sao tìm lại được bởi thân thể các anh đã hoà vào cỏ cây, sông núi. Chỉ còn lại tên tuổi các anh vẫn mãi mãi với thời gian. Các anh vẫn mãi mãi tuổi hai mươi với Trần Ngọc Sức (Khoá 1967-1970) đang học trường Trung cấp Địa chất, gác lại ước mơ trèo đèo lội suối, tìm kiếm nguồn tài nguyên vô tận ẩn sâu dưới lòng đất, làm giàu cho đất nước và khám phá những vẻ đẹp huyền bí của đất nước để lên đường đánh giặc. Chắc hẳn khi ra trận, người lính ấy cũng trào lên ước muốn ngày giặc tan, trở về thực hiện tiếp ước mơ dang dở. Các anh vẫn mãi mãi tuổi hai mươi với Trần Huy Sắc (Khoá 1967-1970) với hai giấy báo nhận cùng một lúc. Một giấy báo của cánh cổng trường đại học rộng mở chào đón chàng sinh viên với những năm tháng say sưa trên giảng đường. Một giấy báo nhập ngũ với bao vất vả, khó khăn, hiểm nguy nơi mũi tên hòn đạn đang chờ đợi phía trước. Và anh đã cùng hát vang bài ca ra trận hào hùng với bao bạn bè. Gần nửa thế kỉ trôi qua, giờ đây, anh vẫn đón mọi người với nụ cười hiền hậu trên tấm ảnh treo cạnh Bằng Tổ quốc ghi công. Đó phải chăng là chí làm trai của anh cũng như của bao thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh.

          Bước chân vào nhà liệt sỹ Trần Duy Văn (Khoá 1967-1970) và liệt sỹ Trần Huy Sắc (Khoá 1967-1970), tôi đứng lặng trước hai tấm bằng BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG treo trang trọng giữa nhà. Mảnh giấy bé nhỏ là sự tri ân của Đảng và Nhà nước trước sự hy sinh vô giá của những bà mẹ Việt Nam mà khi cầm lên, ta sẽ thấy tay mình bỏng rát và trái tim ứa máu. Tôi lặng lẽ nuốt nước mắt vào trong khi nhìn tấm ảnh mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Sa. Mái tóc bạc, khuôn mặt đôn hậu giống như mẹ tôi. Chắc mẹ Sa cũng đau nỗi đau giống mẹ tôi khi nhận được tin người con trai yêu thương của mình đã hy sinh. Ngày ấy tôi còn nhỏ, làm sao cảm nhận hết được nỗi đau của mẹ. Chỉ biết có những đêm, chợt tỉnh giấc, tôi nghe tiếng khóc của mẹ dù cố nén nhưng vẫn cứ bật ra, nghẹn ngào. Biết mẹ nhớ anh, không dám hỏi, tôi ngồi dậy, bò xuống cuối giường, gục vào gối, để nước mắt trào ra. Có những đêm, giật mình tỉnh dậy, quờ tay sang, không thấy mẹ đâu, chỉ thấy hai đứa em ngủ ngon lành, tôi tụt xuống giường, lần mò ra cửa. Dưới ánh trăng suông, mẹ ngồi tựa vào cột hiên, bất động, ánh mắt vô hồn nhìn ra ngõ. Tôi tựa vào vai mẹ. Mẹ ôm lấy tôi, giấu mặt vào tóc tôi để kìm tiếng khóc. Tôi nhìn ra ngõ. Lạnh lẽo. Trống vắng đến run người. Ôi! Ước gì anh tôi xuất hiện ở đầu ngõ để không còn chia ly, cả nhà được đoàn tụ. Ước gì đừng có chiến tranh.

          Mười hai giờ trưa. Vẫn là chang chang nắng, hầm hập nóng nhưng công việc của đoàn vẫn chưa ngừng bởi gia đình liệt sỹ Trần Đình Hiệp vẫn cửa đóng then cài. Nhận lời mời của chị Xuân (vợ anh Bạo) chúng tôi trở lại gia đình anh. Hai chị em tíu tít làm cơm với các món ăn từ cá. Bây giờ tôi mới có dịp thưởng thức  món cá kho Nhân Hậu nổi danh từ lâu. Bắt mắt thực khách là đĩa cá màu vàng dịu của thịt cá, màu hồng nhạt của trứng cá, điểm xuyết màu nâu quyến rũ của những lát riềng. Khi thưởng thức, tôi thấy vị thơm nồng của cá, ngầy ngậy của thịt mỡ, cay cay của riềng, chua chua của các loại quả chanh, chay, khế pha lẫn. Có cảm giác như món ăn  giản dị gần gũi  này thấm đẫm hương vị  đồng quê, vừa dân dã  vừa tinh tế được chắt lọc  từ những tinh hoa đồng nội, làng quê đất Việt. Tôi hỏi chị: “Chị có bí quyết gì mà tạo được thương hiệu nổi tiếng thế ạ?”  Bà chủ của cơ sở chế biến cá kho nổi tiếng với trang Website Bà Xuân cười: “Có gì đâu em. Chẳng qua là mỗi cơ sở chế biến đều có bí quyết riêng thôi, nhà chị cũng thế. Điều quan trọng là có sự lựa chọn kĩ lưỡng về nguyên liệu và gia vị được trồng tại làng Đại Hoàng thì mới cho hương vị thơm ngon, em ạ”.

          Buổi chiều, tạm biệt chủ nhà hiền hậu, mến khách, giỏi giang, anh Bạo đưa chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình dang dở. Và sẽ còn nhiều những chuyến đi nghĩa tình đang đợi chúng ta ở phía trước. Trong mỗi cuộc hành trình đó đều có các liệt sỹ ngóng theo, tin tưởng, đợi chờ. Và có bao người như anh Trần Khắc Bạo sát cánh cùng chúng tôi, bao gia đình lặng lẽ ủng hộ để ngày mỗi ngày qua, tin vui lại đến: Tìm thêm được liệt sỹ về với mái nhà Lê Hồng Phong.

                                                                                                                           P.H.L

 

 

 

 


 

 

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 20
Trong ngày: 726
Trong tuần: 2016
Lượt truy cập: 1272378
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông