Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

TRỞ VỀ

Phạm Hồng Loan
 
NGỦ ĐI ANH TRONG LÒNG ĐẤT MẸ
          (Theo lời kể của cựu chiến binh Lương Xuân An -Khoá 1962/1965, trường cấp 3 Lê Hồng Phong, Nam Định)
 
         Sau 81 ngày đêm chiến đấu  ở thành cổ Quảng Trị, đầu năm 1973, chúng tôi được lệnh hành quân ra Bắc để củng cố đơn vị. Đến Kim Bảng, ngửa mặt lên trời, tôi khoan khoái đón nhận  làn mưa xuân dịu ngọt tưới đẫm cho cái đầu nóng bỏng, khét mùi súng đạn. Tết! Tết sắp đến rồi! Nghĩ đến giây phút trở về đón Tết cùng gia đình sau mấy năm lăn lộn ở chiến trường không một dòng thư gửi về cho bố mẹ, tôi thấy chộn rộn trong lòng.
Thu xếp xong một số công việc cần thiết ở đơn vị, sáng ba mươi Tết, tôi nhanh chóng ra bến xe Phủ Lý. Chà! Đoàn người xếp hàng rồng rắn thế kia thì bao giờ tấm vé xe khách mới đến tay mình? Hai ngày nghỉ. Làm sao bây giờ? Mỗi phút với người lính tranh thủ về nhà quí giá biết bao. Thôi đành vậy. Ba mươi cây số. Lưng đeo ba lô với bao thứ lỉnh kỉnh phải băng đèo, lội suối  còn vượt được nữa là quãng đường về quê êm ru này. Xốc ba lô lên vai, tôi mải miết đi như chạy, mong được nhìn thấy nụ cười của mẹ.
          Chiều mùng Một Tết. Tôi xuống nhà Hậu để bàn kế hoạch đưa hài cốt của bạn về. Nhìn gương mặt hốc hác của bố Hậu, tôi thấy tim mình như thắt lại. Tất cả ùa về trong tôi ứ nghẹn.
          Năm học cuối cùng của tuổi học trò trôi qua nhanh chóng. Tối ngày 29/5/1965, tôi bước ra khỏi phòng thi, thở phào nhẹ nhõm. Tôi quay người, nhìn về lớp học, nơi gắn bó bao kỉ niệm nhưng đã đến lúc phải rời xa, thấy lòng nao nao. Vừa lúc đó, Hậu ùa đến, bá vai tôi, kéo ra cổng trường. Chợt thầy Trinh, giáo viên chủ nhiệm bước đến trước mặt tôi:
-Mời hai em lên văn phòng, Ban giám hiệu muốn gặp các em.
           Bước vào phòng, tôi đưa mắt nhìn quanh. Rất nhiều bạn cùng khoá học đang ngồi ngay ngắn trên ghế. Tiếng thầy hiệu trưởng Trần Đức Dực dõng dạc:
- Các em thân mến! Kì thi tốt nghiệp đã xong, các em chỉ còn đợi nhận giấy báo nhập trường Đại học vì theo qui định của Bộ Giáo dục, các em không phải thi. Nhưng…
Thày ngập ngừng nhìn xoáy vào mắt chúng tôi rồi mở túi, lấy  ra một mảnh giấy nhỏ:
- Đây là giấy gọi nhập ngũ của các em. Trường ta có 15 em đi trong đợt này. Các em ạ, Tổ quốc đang cần các em. Hãy cố gắng lên, vững vàng vượt qua khó khăn, gian khổ để sống và chiến đấu cho xứng danh học sinh Lê Hồng Phong, xứng danh người lính Cụ Hồ.
      Tiếng thầy như nghẹn lại, ánh mắt hướng ra cửa, nơi cây phượng vĩ đang thả từng cánh hoa đỏ rực trong đêm.
      Giã từ khoảng trời hoa mộng, chúng tôi lên đường.
          Sau đợt huấn luyện, nhóm Lê Hồng Phong chúng tôi được phân về các đơn vị khác nhau. Tôi và Hậu về đơn vị pháo 57 cơ động chiến lược của Bộ Quốc phòng. Chúng tôi luôn ở tư thế sẵn sàng để đi bất cứ nơi nào khi có lệnh.
          Ngày 26/4/1970, khi đang chiến đấu bảo vệ đường 12 (Quảng Bình), đơn vị tôi được lệnh hành quân cấp tốc ra Nghệ An, bảo vệ đường 7 và chi viện cho mặt trận Cánh đồng Chum. Ngày 3/5/1970 có lẽ là ngày đỏ lửa nhất của cuộc chiến đấu bảo vệ các kho và con đường chiến lược được coi là hậu cứ của chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Vầng thái dương chưa kịp ló ra sau những dãy núi cao, hàng trăm lượt máy bay F105, F4 từ sân bay Thái Lan lao sang đánh phá các trọng điểm và trận địa bố trí rải rác trên những vạt đồi nhỏ, những sườn núi. Trên đoạn đường chỉ vỏn vẹn hơn chục km, chúng đã  trút xuống hàng ngàn tấn bom phát quang, bom bi, bom bi ổi, bom bi khoan. Cả đất trời rung chuyển, khói bụi tuôn trào. Những chiếc xe nguỵ trang lầm lụi trong mưa bom, bão đạn trườn qua từng hố bom, chuyển từng hòm đạn pháo đến các nơi. Trận đánh ngày càng  ác liệt. Trong lúc cùng đồng đội đánh trả những đợt phản kích của kẻ thù thì bên tôi, Hậu dồn hết tâm trí vào máy đo xa. Nhô hẳn người lên trên công sự, anh chăm chú quan sát từng sự dịch chuyển của máy bay Mỹ. Mỗi lời anh phát ra như một mệnh lệnh chiến đấu để từng loạt pháo trùm lên kẻ thù. Rồi điều bất ngờ đã xảy ra. Một viên bom bi xuyên thẳng vào ngực. Anh ngã xuống, hai tay vẫn ôm chặt máy như thúc giục đồng đội tiếp tục giáng sấm sét xuống đầu giặc.
          Mười một giờ trưa. Trận đánh kết thúc. Tôi nhảy ra khỏi bệ pháo, lao đến ôm chặt người bạn từ thưở ấu thơ trong tay. Nước mắt đẫm ngực áo còn loang vết máu của Hậu. Hậu ơi! Tiếng gọi của tôi tan giữa không gian khét lẹt, mù mịt, dội vào vách đá, vang giữa non ngàn.
          Tháng 3/1973, tôi xin nghỉ phép để đưa Hậu về với gia đình. Đến nhà hôm trước, hôm sau, tôi cùng với bố Hậu lên tàu vào Vinh. Đến Tương Dương, hai bố con hành quân bằng xe đạp. Con đường này trước đây là túi bom, giờ đây vắng tanh, ngổn ngang đá hộc, nham nhở hố bom chưa kịp san lấp. Thảng hoặc, tôi dừng lại ven đường, quì xuống bên khe nước tuôn ra từ mé rừng. Những dòng nước mát lạnh khiến tôi tỉnh táo lại. Hơn một ngày trời rong ruổi với bao cung đường cheo leo, khúc khuỷu, cuối cùng tôi đã đến Mường Xén.
          Chiều buông. Dựng xe bên đường, tôi quan sát cảnh vật nơi đã từng gắn bó. Chiến tranh vẫn hiện hữu trên từng nóc nhà, từng ngõ nhỏ. Chợt tôi thấy  một người đàn ông dân tộc Tày Hạy dáng vẻ khắc khổ đi đến:
          -Hai người chắc ở nơi xa đến đây có việc gì phải không?
          -Cháu chào bác. Hai bố con cháu từ Nam Định vào đây mà trời sắp tối rồi…Chưa để tôi nói hết câu, ông cười đôn hậu – Thôi, hai bố con về nhà tôi nghỉ ngơi.
         Đêm yên tĩnh. Chỉ có tiếng gió thì thào. Tiếng chim từ qui gọi bạn. Bất chợt đâu đây tiếng cắc…cụp…cum dội về. Âm thanh tiếng giã gạo chày đôi. Từ nơi này, những hạt gạo nối nhau ra trận. Đằng sau những thùng xe đạn pháo là những thùng gạo trắng tinh ấm tình tiền tuyến, hậu phương.
          Mờ sáng hôm sau, tôi đã thấy mâm cơm  để sẵn trên chõng:
          - Hai bố con ăn cơm rồi lên đường. Tôi đã chuẩn bị cuốc, xẻng, cả cuốc chim nữa. Đất ở đó rắn lắm.
          Cuối cùng, vạt rừng cao năm xưa hiện ra. Gốc cây  tôi chọn làm nơi Hậu yên nghỉ vẫn còn đó. Tôi ào lên. Hai đầu gối muốn khuỵu xuống. Tấm bia bằng gỗ vẫn  đặt ngay ngắn trên mộ. Ngày ấy, đơn vị đã có sẵn hộp sơn. Tôi cẩn trọng ghi từng nét rõ ràng, cẩn thận. Sờ tay lên tấm bia còn nguyên màu đỏ, lòng tôi quặn thắt: Phạm Đức Hậu, nhưng tên bạn tôi chỉ còn lại chữ H. Phần còn lại, mối đã gặm mòn. Những dòng chữ ghi tên đơn vị, quê quán vẫn còn đây: C502 –E230 –F367. Quê quán: Hoàng Văn Thụ - TP Nam Định. Cả ba chúng tôi hối hả bắt tay vào việc. Từng lớp đất hiện ra. Vừa lật hòn đất to như cục đá tảng, tôi sững sờ. Một phần hình hài Hậu hiện ra nguyên vẹn. Tấm ván đã bị mối xông hết. Mắt tôi hoa lên. Tỉ mẩn, tôi nhặt từng phần cơ thể của Hậu, nâng niu lau sạch bằng tấm khăn mang theo. Người cha ngã xuống bên nấm mộ, ôm chặt thiên hoa của con vào lòng. Đôi vai gầy rung lên từng hồi. Con ơi….Tiếng gọi của người cha trào ra trong từng hơi thở, từng nhịp đập của con tim, tắc nghẹn trong những dòng nước mắt xối xả. Tiếng gọi thân thương đó như vang lại từ những ngày cậu con trai bé bỏng  nhoẻn cười chào cha mỗi buổi đi học về. Từ những điểm 5 đỏ chói trên trang vở. Những giọt nước mắt nghẹn đắng như được chắt ra từ nỗi nhớ thương, khắc khoải dồn nén bao đêm ngày. Đây là lần đầu tiên tôi thấy đàn ông khóc. Họ chỉ khóc khi ở tận cùng nỗi đau thương, mất mát. Nước mắt nén chặt giờ bật ra đớn đau, xa xót.
          Người đàn ông chạy vụt đi. Lát sau, ông trở ra, ấn vào tay tôi một đùm xôi, con gà đã luộc chín. Đôi mắt đỏ quạnh, ông cầm lấy tay cha Hậu, rưng rưng:
      - Nó là bộ đội, đem nó về nhà đi thôi!
          Hai người đàn ông rơi lệ, ôm nhau từ biệt. Nước mắt tôi thấm vào gói xôi. Đây là kết quả của tiếng cắc… Cụp…Cum vang lên suốt  đêm qua. Là sự chắt chiu của cả nhà dành cho những khi có việc quan trọng. Lắc lư trên chiếc xe Gát từ biên giới về, ôm chặt hình hài người bạn gói trong ba lô, tôi vẫn mang theo ánh nhìn đau đáu và giọt nước mắt của người đàn ông Tày Hạy.
          Đến Tương Dương, trời sập tối. Anh lái xe dừng lại:
          - Mời các bác nghỉ ngơi, sáng sớm mai ta tiếp tục cuộc hành trình.
          Tôi xuống xe, nhìn quanh quất. Phía bên kia, một dãy lán lá của thanh niên xung phong men dài theo sườn đồi. Đưa bố vào lán nghỉ ngơi, tôi trở ra, trèo lên xe, buộc ngay ngắn quai ba lô vào lưng rồi ngả người trên ghế, gối đầu lên ba lô. Tôi thì thầm: “Hậu ơi! Tao với mày cùng ngủ nhé”.
          Ngày hôm sau, xe dừng ở Con Cuông. Biết tôi là bộ đội, người chủ quán trọ nhiệt tình sắp xếp nơi ăn, chỗ nghỉ. Đêm xuống. Tôi lại buộc chặt chiếc ba lô vào người, vừa thầm thì: “Chúng ta cùng ngủ nào” vừa chìm sâu vào giấc ngủ.
          Đêm thứ 12 của cuộc hành trình, tôi vào quán trọ gần sân ga Vinh đợi tàu. Ôm chặt chiếc ba lô, tôi nghe như có tiếng Hậu đâu đây vọng về: “Chúng mình cùng ngủ ngon nhé”. 4h30 phút. Con tàu rùng mình, chậm chạp, nặng nề dừng lại. Tôi nắm tay bố Hậu:
          - Bố về nhà báo cho gia đình để làm các thủ tục. Con đưa Hậu về nghĩa trang thành phố, đợi mọi người ở đó.
          Nghĩa trang vắng lặng. Những nấm mộ im lìm trong sương mù. Tôi đến bên tượng đài: “Hậu ơi, tao đã đưa mày về với gia đình, với quê hương rồi. Hãy yên lòng nhé.” Tôi thầm thì với nó bao điều và biết rằng Hậu sẽ hiểu những điều mình nói.
     Bước thấp bước cao, tôi trở về đơn vị. Đêm ấy chìm trong giấc ngủ tôi thấy nụ cười ấm áp của Hậu. Hai đứa nắm tay nhau chạy trên con đường tràn ngập nắng gió, tím biếc hoa bằng lăng, đỏ rực hoa phượng vĩ.
    Hậu ơi! Xin hãy ngủ yên trong lòng đất Mẹ!
trove1.m
   
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN TRONG TRÁI TIM  NGƯỜI LÍNH.

Sau bao mong mỏi, đến hôm nay, ước nguyện được đến với nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn của tôi mới được thực hiện. Bước qua cổng, cầm mấy nén hương sao tay tôi trĩu nặng. Trước mắt tôi, hun hút, hun hút  trắng xóa một màu với hơn mười ngàn nấm mộ xếp hàng thẳng tắp như những đoàn quân ra trận. Tôi lặng lẽ thắp hương, cắm lên từng ngôi mộ. Xin các anh về trong làn hương ngan ngát, nhận lấy tấm lòng tri ân của chúng tôi. Không hiểu sao mỗi khi thấy những hình ảnh của chiến tranh, dù là xem một đoạn phóng sự, nghe một bài hát, đọc một trang sách viết về người lính, trong tôi cứ dâng lên cảm xúc nghẹn ngào. Trước mắt tôi là những thước phim quay chậm. Tôi như thấy khói lửa ngút trời. Thấy bom rơi, đạn nổ. Thấy người anh trai thân thương của tôi, gày gò, bé nhỏ hăm hở đi đầu đoàn quân với trĩu nặng ba lô trên vai. Không hăm hở sao được khi đang trong những ngày ôn tập cùng đội tuyển gấp rút chuẩn bị cho kì thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc, xếp lại mơ ước đạt giải như ngày lớp 7 đã đạt được anh xung phong lên đường chiến đấu, để nằm lại mãi mãi nơi đây. Anh có biết tôi đang  đi trên mảnh đất Gio An (Quảng Trị) nơi anh  viết lá thư cuối cùng về cho gia đình. Tôi bước nhẹ. Liệu tôi có làm đau xương cốt các anh không khi tất cả đã hòa vào đất Mẹ, đã thành hồn thiêng sông núi. Dù anh đã được đón về với Mẹ quê hương nhưng tôi như thấy hiển hiện bên tôi là anh và bao người khác. Họ ở khắp mọi miền của đất nước. Họ bỏ lại đằng sau thửa ruộng đang cày dở, căn nhà sàn còn thiếu một mái nghiêng, những trang lưu bút tươi rói, thơm hương mùi mực tím. Để cùng đi chung một con đường theo lời hiệu triệu của Bác:“Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập”. Họ hiểu đất nước “là máu xương của mình” nên họ đã “hóa thân cho dáng hình xứ sở. Làm nên Đất Nước muôn đời” (Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm). Họ mang trong mình nguồn linh khí Quốc gia nên hội tụ về đây, thanh thản, yên bình khi đem tuổi thanh xuân viết nên khúc  tráng ca bất tử tạc vào lịch sử dân tộc. “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc. Hồn bay lên hoá nguyên khí Quốc gia". (Trần Thế Tuyển)
Trước mắt tôi, tán cây bồ đề thiêng xòe rộng, tỏa bóng  trọn tượng đài như vòng ôm núi rừng, của đất nước chở che các anh. Muôn nghìn chiếc lá như mười nghìn trái tim người lính nơi đây lan tỏa yêu thương. Tôi nghe trong gió như có tiếng thầm thì của các anh, tiếng xào xạc của lá, tiếng rầm rì của đất như bản hòa tấu của thiên nhiên, của non sông vọng về. Các anh mãi mãi trường tồn cùng sông núi Việt Nam, mãi mãi bất tử trong trái tim những người đang sống. Chợt tôi nghe đâu đây tiếng ghi-ta bập bùng với tiếng hát trầm hùng lan trong gió. Một nhóm Cựu chiến binh đứng thành hàng thẳng tắp nhìn thẳng vào những ngôi sao lấp lánh trên những tấm bia mộ khắc ghi: LIỆT SĨ CHƯA BIẾT TÊN. Một cảm giác lạ lùng lan tỏa trong tôi.Một buổi chào cờ đặc biệt. Vì người đã mất. Vì những người không biết tên. Dù không có tên do những hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh nhưng họ vẫn có tên: người chiến sĩ anh hùng. Chỉ có mười nghìn ngôi sao như giúp các liệt sĩ thấy bên họ vẫn có bao nhiêu thế hệ đã đấu tranh kiên cường, bất khuất, để giành độc lập, tự do bằng những dòng máu nóng từ trái tim trong một ngôi sao Tổ quốc gắn trên bia mộ sáng chói, lung linh trong đêm. Và tiếng hát. Vẫn là lời bài hát Quốc ca mà sao âm điệu lúc vút lên mạnh mẽ, sảng khoái, khi trầm xuống, nghẹn ngào. Phải rồi. Mười nghìn tiếng hát cùng cất lên hòa với tiếng hát của nhóm Cựu chiến binh. Mười nghìn tiếng hát cất lên từ những trận sốt rét rừng, từ những đêm dài băng rừng, vượt núi trong bão đạn, mưa bom, từ những trận đánh trong khói lửa ngút trời, cất lên từ mười nghìn trái tim chung nhịp đập làm sáng ngời lên tinh thần dân tộc Việt Nam, để giờ đây cùng chung bài ca Tổ quốc. Tôi chợt nhớ câu chuyện về một trường học ở Hà Nội tổ chức cho học sinh đến đây trong chương trình trải nghiệm. Bên đài tưởng niệm, trước khi chào cờ, thày hiệu trưởng nói: “Các em hãy đặt tay lên ngực trái và hát bằng trái tim mình.” Những giọt nước mắt đã rơi. Và tiếp tục rơi khi các em thắp hương trên những ngôi mộ. Và bài học nhận được hôm nay sẽ mãi mãi như một hành trang vững chắc khi các em bước vào đời.
Giờ đây, bên tôi là những bộ quân phục bạc màu. Những khuôn mặt khắc khổ hằn sâu nếp gấp của thời gian. Những ánh nhìn đau đáu, ầng ậng nước trong say sưa tiếng hát:“Đi ta đi giải phóng miền Nam khi quê hương nhà vẫn còn bóng quân xâm lược thì ta còn chiến đấu quyết sạch nó đi….”(Bác đang cùng chúng cháu hành quân - Huy Thục) Qua chuyện trò, tôi biết, hàng năm, các anh hẹn nhau về đây, bên những nấm mộ không tên,thắp nén hương thơm và hát cho những người nằm xuống nghe. Tiếng hát trải dài con đường Trường Sơn đầy máu và hoa, trải dài suốt cuộc trường chinh vạn dặm của dân tộc, trải dài suốt dọc dài đất nước. Tiếng hát đưa tôi về với những năm tháng hào hùng mở đường Trường Sơn, nơi “Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”(Tố Hữu)
Có ai biết được những năm 1958-1959, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy Trung ương, có những người lính của Đoàn 559 lầm lũi, can trường vừa vận chuyển vừa mở đường mà “quân đi tính từng người, hàng chuyển tính từng cân” trên con đường mòn dọc phía đông dãy Trường Sơn hùng vĩ, vượt qua bao đồn bốt của địch với phương châm "đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" để đảm bảo bí mật. Với đôi bàn tay chỉ biết cầm bút, cầm cày với bao dụng cụ thô sơ, họ đã làm nên con đường dài hàng ngàn km, tạo nên huyết mạch nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, trở thành tuyến vận tải quân sự, tuyến hậu cần chiến lược quan trọng. Nếu chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong”Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm ,cơm vắt”để “nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”(Tố Hữu) thì tuyến đường Trường Sơn trải qua gần 6.000 ngày đêm trong bão đạn, mưa bom. Nếu như kẻ thù chi tiêu hàng tỷ USD để dội xuống đây hơn 4 triệu tấn bom đạn, sử dụng nhiều lực lượng, phương tiện, công nghệ - kỹ thuật chiến tranh hiện đại với những vũ khí tối tân hòng xóa sổ con đường thì chúng ta có sức mạnh tinh thần, trí tuệ, sáng tạo, có niềm tin theo Đảng“Ta hiểu vì sao ta chiến đấu. Ta hiểu vì ai ta hiến máu”(Tố Hữu) với những đoàn quân ra trận trong “Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu”(Chính Hữu) trong tiếng reo:“Ðường ra trận mùa này đẹp lắm”(Phạm Tiến Duật). Để“Mỗi ngọn núi, dòng sông. Cũng hiển hách chiến công, lừng danh dũng sĩ” (Tố Hữu) khi Binh đoàn Trường Sơn: “"Sống bám cầu, bám đường. Chết kiên cường dũng cảm". Với quyết tâm: "Máu có thể đổ nhưng đường không thể tắc” và "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” hàng ngàn, vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến  bằng trí tuệ, mồ hôi, xương máu xây đắp, để con đường ấy tiến thẳng đến Sài Gòn trong buổi trưa ngày 30 tháng Tư  mãi mãi đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca bất tử muôn đời trong tiếng reo vui nghẹn ngào của triệu triệu của người dân: “Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta” (Tố Hữu) đúng như điều nhà sử học Mỹ Côn-cô đã viết trong tác phẩm “Giải phẫu một cuộc chiến tranh”. “Đó không chỉ là con đường cụ thể mà còn là sự kết tinh lịch sử đấu tranh mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam; đồng thời, là biểu hiện của ý chí và khát vọng độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc của mỗi người Việt Nam. Do đó, nó trở nên bất diệt, không sức mạnh nào hủy diệt được.”
Đêm về khuya. Nhóm cựu chiến binh vẫn kề vai bên nhau. Những bài hát cứ nối dài. Những ca từ lúc thì thầm như lời tâm sự về nghĩa tình quê hương, gia đình, bạn bè, khi mạnh mẽ, hùng tráng như rầm rập bước chân của đoàn quân ra trận. Tôi  như thấy các anh quây tụ về đây trong ánh lửa hồng, hát cùng chúng tôi. Tự nhiên, tôi có cảm giác lạ lùng. Hình như các anh đọc được tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của chúng tôi. Hình như mọi cám dỗ về vật chất, sự nhỏ nhen, bon chen, danh lợi trong cuộc sống đời thường bỗng vụt tan biến, để thấy mình trở nên bé nhỏ, thấy tâm hồn như được thanh lọc, đẹp hơn, rộng mở hơn trong những lời ca trải dài, trải dài “Nặng tình non sông anh dâng trọn tuổi đời thanh xuân/Cho em thơ ngủ ngon…Cho yên vui mùa xuân…”(Thế Hiển)
TỪ NHỮNG GIẤC MƠ,  ANH VỀ
 
Sau 27 năm đằng đẵng xa quê, liệt sỹ Nguyễn Thế Quang trở về quê hương nhưng không phải trong tiếng kèn chiến thắng mà trong tiếng kèn đồng với những nghi thức quân đội. Người em rể Trần Trọng Vũ- cũng là một cựu chiến binh kể cho chúng tôi nghe về hành trình đi tìm anh về với gia đình qua những giấc mơ.
          Sau khi tốt nghiệp trường cấp III Lê Hồng Phong, Nguyễn Thế Quang thi vào trường Đại học Y. Tháng 5/1971, anh tạm biệt quê hương, gia đình, bạn bè, lên đường chiến đấu. Vào quân đội, anh được cử đi học lớp y tá. Đơn vị của anh đóng quân ở Thái Bình. Sau đợt huấn luyện, anh được lệnh vào miền Nam chiến đấu. Mải miết hành quân từ Thái Bình, qua phà Tân Đệ, anh như bừng tỉnh. Quê hương đây rồi. Ở nhà, chắc mẹ và các anh chị em đang mong ngóng anh đêm ngày. Anh gặp ban chỉ huy, bày tỏ nguyện vọng được ghé qua nhà, dù chỉ trong giây phút. Người chỉ huy trưởng gật đầu:
- Cho phép đồng chí về nhà, nhưng không được trễ hẹn vì thời gian của chúng ta không có nhiều.
Anh băng qua bao dãy phố, tìm về ngõ nhỏ quen thuộc (Ngõ Yên Thế, Hàng Tiện, thành phố Nam Định), nơi chứa đựng bao tình cảm gia đình, bạn bè  từ thuở ấu thơ. Nơi đầy ắp kỉ niệm của một thời cắp sách đến trường. Đây căn nhà nhỏ thân quen. Anh ùa vào, nghĩ đến giây phút ôm lấy bờ vai nhỏ nhắn của mẹ mà trào nước mắt. Nhưng anh chợt sững người. Cả nhà đi vắng, chỉ có bé Hiền ở nhà. Làm sao gặp được mẹ đây? Anh nhìn đồng hồ. Đã hết thời gian. Anh ôm chặt đứa em gái bé nhỏ vào lòng:
- Anh phải đi cho kịp đơn vị. Em nói với bố mẹ và mọi người là anh vẫn khoẻ. Đừng buồn, đừng nghĩ ngợi nhiều về anh nhé. Chiến thắng quân giặc, anh sẽ về. Nhét vào tay em phong lương khô, anh vội vã ra đi.
          Tháng 7/1972, gia đình nhận được giấy báo tử của đơn vị gửi về. Nỗi đau thương, mất mát bao trùm lên căn nhà bé nhỏ. Nhưng biết làm sao, bởi chiến tranh là mất mát, là đau thương.
          Sau ngày đất nước giải phóng, ước mong cháy bỏng của mẹ là đưa được anh về với quê hương. Nhưng tìm anh ở đâu giữa những nơi trước kia bom cày, đạn xới? Tìm anh nơi đâu khi thông tin về anh thật mơ hồ với dòng chữ vô cảm trên giấy báo tử: Hy sinh tại mặt trận phía Nam. Thôi thì đành đợi đến dịp 27/7 xem có thêm thông tin gì mới. Bao năm trôi qua, bao năm mẹ mòn mỏi đợi chờ trong vô vọng để rồi ra đi khi nguyện vọng cuối cùng là đưa anh về với gia đình không đạt được.
          Thế rồi một chuyện bất ngờ đã xảy ra. Một hôm, vào khoảng tháng 2/2008, người con trai của anh Trần Trọng Vũ nói với bố:
- Bố ơi, không hiểu sao đêm qua con nằm mơ thấy bác Quang. Bác nói: “Bác đang ở Quảng Trị, bị cụt một tay. Cháu hãy nói với bố mẹ vào đưa bác về.”
      Cả nhà bàng hoàng, bán tín bán nghi. Liệu giấc mơ của người cháu có đúng không? Có đúng là bác đã hiện về báo tin cho gia đình không? Nhưng nếu đi tìm thì phải bắt đầu từ đâu? Bao câu hỏi đặt ra, không có lời giải đáp. Trong lúc mọi người đang lưỡng lự thì một hôm, người con trai lại nói: “Bố ơi, đêm qua con lại thấy bác Quang về. Bác bảo: “Sao bác đã nói thế mà cháu không nói cho bố mẹ làm hồ sơ đưa bác về?” “ Thưa bác, bố mẹ cháu đang làm hồ sơ, chờ họ duyệt rồi sẽ vào đưa bác về ạ.” “ Được rồi, bảo bố mẹ là đi theo con đường to, đến ngã ba rẽ phải sẽ thấy hai hàng cây rậm, bên trái có một căn nhà nhỏ. Đến tượng đài rẽ phải. Bác nằm ở lô số 12, hàng số 2, mộ số 14”.
          Trong thời gian đó, gia đình nghe tin có một người quen ở Hà Tĩnh vừa đi tìm hài cốt liệt sỹ về. Anh Vũ gọi điện để tìm hiểu tình hình. Người đó cho anh số điện thoại của Trung tâm đón tiếp thân  nhân liệt sỹ ở Đông Hà (Quảng Trị) để liên hệ và nhờ tìm kiếm giúp. Anh lập tức điện vào, gặp cán bộ Trung tâm đề đạt nguyện vọng của gia đình và cung cấp mọi thông tin về liệt sỹ Nguyễn Thế Quang. Người cán bộ của Trung tâm hẹn một tháng sau sẽ trả lời.
          Trong lúc cả nhà đang hồi hộp đợi chờ tin tức thì một hôm người con trai lại nói với bố: “Bố ơi, đêm qua con lại mơ thấy bác Quang. Bác nói: “Sao không bảo bố mẹ đưa bác về? Bác đợi lâu lắm rồi.”
          Nghe con  nói,  anh Vũ điện thoại luôn cho Trung tâm đón tiếp thân nhân liệt sỹ. Người cán bộ trả lời:
- Chúng tôi đã đi tìm khắp 72 nghĩa trang liệt sỹ, chỉ duy nhất có một nghĩa trang ở xã Hải Lăng huyện Hải Thượng có tên liệt sỹ Nguyễn Thế Quang. Đối chiếu thông tin gia đình cung cấp và thông tin trên bia mộ, chúng tôi thấy trùng khớp, chỉ khác là trên bia mộ có địa chỉ quê, nhưng không ghi số nhà. Nhưng chúng tôi linh cảm đây chính là người mà gia đình đang tìm kiếm.
          Ngay lập tức, hai vợ chồng anh cùng người chị cả lên đường vào Quảng Trị. Đến nơi, mọi người được đón tiếp ân cần, chu đáo. Anh Chí -Giám đốc trung tâm nói với anh:
- Ngày mai, gia đình sẽ đến nghĩa trang xã Hải Lăng để tìm liệt sỹ. Anh có muốn mượn ô tô của tôi để đi không?
Anh Vũ ngạc nhiên:
- Anh biết tôi là ai không mà dám cho mượn xe?
- Nhìn các anh chị đây là tôi biết anh là người tốt rồi. Cái xe 7 chỗ này tôi mới mua hơn một tỉ, anh chỉ cần đổ xăng vào để đi. Hơn nữa anh là lái xe Trường Sơn thì tôi yên tâm rồi.
- Rất cảm ơn tấm lòng hào hiệp của anh. Nhưng tôi chỉ dám phiền anh một việc. Đó là anh cho chúng tôi mượn một xe khác, một người lái xe thông thuộc đường sá để đưa chúng tôi đi. Mọi chi phí, gia đình tôi sẽ lo chu toàn.
          Ngày hôm sau, anh  vào Uỷ ban nhân dân xã Hải Lăng làm việc với bộ phận chính sách - xã hội rồi tiếp tục lên đường. Ngồi cạnh người lái xe, anh Vũ hồi hộp quan sát cảnh vật trên đường. Trong tâm trí anh như hiện lên lời chỉ dẫn của  liệt sỹ Quang qua lời nói của con trai. Đây rồi, ngã ba rẽ phải. Kia, hàng bạch đàn xum xuê toả bóng dẫn vào nghĩa trang. Bên trái là nhà quản trang. Anh xuống xe gặp người quản trang trình bày mục đích của chuyến đi.
- Các anh chị có cần tôi hướng dẫn không?
- Không ạ. Chỉ xin anh cho biết lô 12 ở phía nào ạ?
- Kia là lô 9, lô 10, lô 11, lô 12 ở phía kia
          Nghe như tiếng liệt sỹ Quang văng vẳng bên tai anh Vũ: “Đến tượng đài rẽ phải. Bác nằm ở lô số 12, hàng số 2, mộ số 14”. Tim mọi người như đập dồn dập theo từng bước chân. Lát sau nấm mộ số 14 hiện ra. Anh đây rồi. Người con yêu thương mà bao năm mẹ mỏi mòn ngóng trông đây rồi. Bao cảm xúc nghẹn ngào vỡ oà trong những dòng nước mắt.
          Trở về Trung tâm nghỉ ngơi nhưng anh Vũ vẫn không yên tâm. Anh tìm đến Tỉnh đội Quảng Trị để tìm hiểu thêm. Biết đâu ở đó có sơ đồ mộ chí của liệt sĩ trong các nghĩa trang của tỉnh. Đến nơi, anh được biết tất cả các sư đoàn đều có sơ đồ mộ chí của liệt sỹ trong sư đoàn của mình. Anh lại trở về nhờ Trung tâm tìm hộ Sư đoàn F320B của anh Quang bây giờ ở đâu. Sau một hồi điện thoại đi các nơi, người cán bộ Trung tâm cho biết trước đây, sư đoàn ở Pleiku. Những năm 1970-1971, sư đoàn tham gia mặt trận Quảng Trị sau đó rút về Bỉm Sơn (Thanh Hoá). Tìm cách liên hệ được với sư đoàn, anh biết người phụ trách chính sách hiện đang học ở Hà Nội, hai ngày nữa mới về. Lại những ngày dài chờ đợi.
          Trở về đơn vị, người cán bộ mải miết mở máy dò tìm sơ đồ mộ chí. Không có. Mọi người nén tiếng thở dài. Anh tiếp tục mở sổ ghi chép. Cuốn thứ nhất, lật đến trang cuối cùng, anh gấp lại. Cuốn thứ hai. Không có. Anh mở tiếp cuốn thứ 3. Mới lật được mấy trang đầu, khuôn mặt anh rạng rỡ hẳn lên:
-Đây rồi. Liệt sỹ Nguyễn Thế Quang. Nghĩa trang liệt sỹ xã Hải Lăng, huyện Hải Thượng. Lô số 12, hàng số 2, mộ số 14.
          Mọi người thở phào nhẹ nhõm mà nước mắt tuôn trào. Thế là qua giấc mơ của người cháu, gia đình đã tìm thấy anh. Cả nhà lại được toàn tụ tuy âm dương cách biệt. Mẹ chắc cũng đang ngậm cười nơi chín suối. Đất Mẹ quê hương dang rộng vòng tay, ôm anh vào lòng với những tình cảm yêu thương giành cho người con đã hiến dâng trọn cuộc đời cho đất nước. Ngủ đi anh trong lòng đất mẹ Việt Nam.

                                                                                             P.H.L
 
 
 
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 39
Trong ngày: 214
Trong tuần: 3285
Lượt truy cập: 1235380
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông