Hồ Bá Thược
Sự thôi thúc của chiến trường cuối năm 1965, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương gấp rút mở con đường chiến lược đưa người, phương tiện, vũ khí, lương thực vào các mặt trận. Yêu cầu cao nhất, con đường đó phải thông suốt bốn mùa, bỏ qua “túi nước” Xiêng Phan đường 12 trên đất Lào.
Quyết tâm chiến lược đó, được Bộ Giao thông Vận tải và Bộ tư lệnh Đoàn 559, đứng đầu là Tư lệnh trưởng Phan Trọng Tuệ cụ thể hoá, chọn hướng tuyến từ Phong Nha tỉnh Quảng Bình đến ngã ba Lùm Bùm trên đất Lào, phá thế “đôc tuyến”. Vấn đề kỹ thuật con đường dài 82 km, phải qua hai phần ba tuyến đá với hơn một triệu mét khối. Một thách thức quá lớn, khiến lãnh đạo Bộ tư lệnh 559 trăn trở. Có lẽ đây là trở ngại lớn nhất không chỉ lãnh đạo Bộ Tư lệnh mà còn gần một vạn bộ đội, thanh niên xung phong đã “ém quân” rải khắp tuyến đường. Máy móc thi công đưa vào chờ đợi phải “đắp chiếu”, nhường chỗ cho cuốc xẻng và thi công bằng bộc phá.
Bộ Giao thông điều bốn kỹ thuật viên bộc phá lớn Cát, Thu, Thược, Chuyển được chuyên gia Trung Quốc hướng dẫn thi công Đường 111 Lai Châu vào tuyến 20 cùng toàn thể cán bộ kỹ thuật của Bộ Giao thông tập huấn thi công hoàn toàn bằng thuốc nổ. Dù thi công bộc phá, nhưng yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật cho đến lúc con đường hoàn thành. Đó là yếu tố bí mật làm cho kẻ thù bất ngờ “ trở tay”không kịp. Yêu cầu làm xong “dàn mướp” nguỵ trang mới cho thi công đường .
Kể từ khi bộc phá nổ đầu tiên vào 17 giờ ngày 30 tết Bính Ngọ ( 1-1966) cho đến ngày 24-4-1966, sau 77 ngày đêm Đường 20 đã thông suốt từ Phong Nha đến Ngã ba Lùm Bùm, nối liền đông tây Trường Sơn. Một kỷ lục mở đường chưa từng có của ngành Giao thông Vận tải. Kỳ tích giống như huyền thoại, được Lãnh đạo Bộ Tư lệnh 559, các tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, kỹ sư của Bộ Giao thông Vận tải cùng các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, dân công hoả tuyến và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Bình xây đắp nên kỳ công đó. Bao gồm lực lượng Đội 25 TNXP Hà Nam,Đội 23 TNXP Hà Tĩnh, Đội 15 TNXP Thanh Hoá, Đội 4 TNXP Ninh Bình, Đội 3 TNXP Nghệ An, Quảng Bình,Trung đoàn 10 công Binh và hai trung đoàn E4, E5 bộ binh đi B dừng lại tham gia mở đường.

Sau khi thông đường kỹ thuật, các lực lượng TNXP được giải quyết chế độ. Số còn lại chuyển giao Binh Trạm 14 quản lý, tiếp tục, mở rộng, nâng cấp đường, bảo đảm giao thông, đối mặt với kẻ thù. Một cuộc chiến khốc liệt với sự tàn phá huỷ diệt của Mỹ chưa từng có trong lịch sử chiến tranh. Và cũng từ đó xuất hiện nhiều tập thể, nhiều chân dung người anh hùng.
Ngày 15 tháng 3 năm 1966, Đảng uỷ Binh trạm 14 họp phiên đầu tiên, tại Khe cạn , dốc Đồng Tiền ( km4 - km6) gồm Chính uỷ Nguyến Dân và tôi Binh trạm trưởng Hoàng Trá bàn triển khai nhiệm vụ. Ngày 6 tháng 4 năm 1966 mới có Quyết định chính thức của Chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần.
Sau khi thông đường 20, ngày 19/5/1966 tướng Đinh Đức Thiện đôn đốc Binh trạm cho xe chạy thử, tôi phải thưa lại :”Đường thông, nhưng xe chưa thông” Quả thực đây là con đường Quân sự làm gấp, các thông số kỹ thuật rất thấp, dốc cao, cua gấp, xe phải “1- 2 đỏ” mới vào được đường vòng. Đường chưa lát mặt , xe chạy 1 chiều khó khăn…Phải đến gần nửa mùa mưa, đường tốt hơn, xe mới thực sự “ lăn bánh” nhờ hệ thống Barie điều phối. Do Binh trạm mới thành lập, ban đầu chỉ có một trung đội xe Gát, DMC đã cũ nát. Vì vậy, kế hoạch vận chuyển mùa mưa đầu tiên không hoàn thành kế hoạch.
Tôi còn nhớ mùa mưa năm ấy, xe chưa chạy được. Quân cán đói khổ. Gạo hết, muối chẳng còn. Nhiều đơn vị phải húp cháo loãng. Thịt thúng, thịt thùng, rau rừng qua ngày. Chiến sĩ lái xe, TNXP mắc bệnh vàng da, rụng tóc, tắt kinh, sốt rét ác tính. Quân số ốm quá cao, xe không người lái, hàng không người bốc, đường sá không người sửa…Bộ đội trong các trạm giao liên đói khát phải dừng lại. Các chiến sĩ d7 giao liên leo dốc đá tai mèo Ba Thang, dốc U Bò… người đi trước gót chân chạm trán người đi sau, khiêng vác thương binh leo dốc Trường Sơn. Đó là một mùa mưa nặng nề nhất.
Với bản chất kiên cường của người lính, Binh trạm đứng vững trên địa bàn. Mặc dù địch đánh phá, ngăn chặn ác liệt khi mới phát hiện con đường. Nhưng mùa khô năm 1966-1967, Binh trạm đã thắng địch ngay ở cửa ngõ Đường 20: Phong Nha, Xuân Sơn, Cù Lạc, Khương Hà và hai trọng điểm trên Biên giới và cua chữ A. Khối lượng vận chuyển gấp 10 lần mùa mưa năm 1966. Đại đội 16 Cầu phà bảo đảm hai bến phà Phương Chảy và Xuân Sơn giống như “gai” đâm vào mắt kẻ thù. Dù địch đánh phá ác liệt đến đâu, nhưng phương tiện được dấu kín trong hang động Phong Nha không bao giờ bị đánh chìm. Binh trạm trưởng Hoàng Trá mỉm cười: “ Sau này động Phong Nha thành di sản thiên nhiên thế giới, không thể quên di sản con người làm nên lịch sử chiến tranh tại hang động này…”
Tôi còn nhớ đầu mùa 1966-1967 đêm 29 rạng ngày 30 tháng 10 năm 1967, Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên và tập thể chỉ huy Binh trạm thức trắng ở bến phà Phương Chảy, trực tiếp chỉ huy bắc cầu phao, đưa 1500 chiếc xe chở đầy hàng hoá của Đoàn 559 nhập tuyến sớm hơn thường lệ an toàn. Đây là kế hoạch vận chuyển rất táo bạo, phối hợp nhịp nhàng giữa lãnh đạo chiến dịch với chỉ huy các đoàn xe. Một kỷ niệm đẹp trong đời quân ngũ của tôi - Ông nói.
Ở cầu Bùng tỉnh lộ 2, sang Khương Hà có một cây cầu rất lạ; Bình thường cầu nổi là là sát mặt nước. Nhưng khi thuỷ triều lên, cầu chìm hẳn dưới nước, xe lăn bánh qua sông, không ai nghĩ xe đang đi trên cầu. Còn đường lên xuống cầu, nguỵ trang rất kỹ, đến nỗi máy bay trinh sát C130, 0V10 lượn lờ suốt ngày đêm mà không phát hiện cầu vượt sông ở vị trí nào. Nhờ vậy, xe của Tiểu đoàn 965 đẩy hàng vào Binh trạm 16 qua bến phà Long Đại mỗi ngày một tăng. Đây là công trình sáng tạo rất kỳ lạ của kỹ sư Phạm Ngọc Vũ đội trưởng Đội cầu 263 Đội 15 TNXP Thanh Hoá. Ông là người có nhiều kinh nghiệm , xây dựng hàng loạt cầu trên đoạn đường địch đánh phá rất ác liệt.
Ở biên giới Km 68 và“Cua chữA” Đường 20, Chính trị viên Hồ Huyền, Đội trưởng Chu Đức Châu Đội 25 TNXP mặc dù B52 rải bom suốt thời gian 105 ngày vẫn bám đường, chỉ huy bảo đảm giao thông. Vũ Tiến Đề anh hùng lái máy húc : “ Dù tôi có hy sinh trên cần tay lái, hãy để tôi lấp nốt hố bom cho xe thông qua” Anh hùng liệt sĩ Nguyễn thị Vân Liệu vừa hát hay vừa có sáng kiến phá bom nổ chậm không gây tắc đường. Chiến đấu trên mặt trận quân y thầm lặng,nhiều bác sĩ, y tá, chiến sĩ cứu thương không tiếc sức mình, kể cả hy sinh cứu đồng đội. Bác sĩ Bằng Trưởng bệnh xá Ba Khe, Bác sĩ Nguyễn Lân ở trọng điểm ATP đã hi sinh ngoài hiện trường, sống chiến đấu, như một người anh hùng.
Để thắng địch liên hoàn trọng điểm ATP, Binh trạm ta được tăng cường Lực lượng công binh và các tiểu đoàn xe vận tải, dốc sức cho trọng điểm quan trong này. Ngoài C15 TNXP của 2 đội TNXP 23,25 rút gọn. Bộ tư lệnh 559 và tỉnh Quảng Bình bổ sung cho binh trạm các tiểu đoàn công binh d33 , d335, d336, d52, d49, d84 . Họ vừa bảo đảm giao thông vừa mở các con đường tránh Làm mới 7 con đường tránh 20a, 20b,20c, 20d,20e,20k, đường lín qz25… Tổng cộng với độ dài gần 260 km.
Các tiểu đoàn xe chủ lực của Binh trạm thực sự là những con “ngựa chiến” với các tiểu đoàn xe d781 gồm 3 đại đội, d965 có 6 đại đội, d52 có 4 đại đội. dxe 990 3 đại đội…Thực sự lá cờ đầu “ tăng cung, vượt tuyến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mùa sau cao hơn mùa trước từ 2 đến 3 lần.
Phối hợp với Binh trạm, Sư đoàn F367 tên lửa- Cao xạ, trực tiếp là trung đoàn 224 Cao xạ nhiều năm chiến đấu trên đường 20 đã “chia lửa” với các lực lượng vận tải của ta. Đơn vị bắn hạ 83 máy bay và làm nhiều chiếc khác bị thương. Gương chiến đấu đến hơi thở cuối cùng của liệt sĩ anh hùng Ngô Xuân Quảng dấy lên tinh thần chiến đấu anh dũng của cán bộ chiến sĩ trên toàn tuyến.
Binh trạm trưởng Hoàng Trá cười sảng khoái, giọng Quảng Bình trong veo. Ông kể : Chưa ai dám nghĩ tên lửa của ta vượt đỉnh núi Trường Sơn sang Lào để săn lùng, tìm diệt B52 của Mỹ! Có lẽ chỉ tiểu đoàn 84, e 238 tên lửa là làm được điều đó. Trận địa tên lửa được bố trí km 66. Khi phát hiện một tốp 3 chiếc B52, phóng 2 tên lửa, hạ “gục 2 chiếc. Vì rừng rộng lớn của Lào, tiể đoàn không lấy được xác máy bay, nên cấp trên không công nhận. Tuy nhiên Bộ Tư lệnh 559 vẫn khen thưởng động viên. Từ đó B52 dạt xuống Ca Tốc, lùi về đường 9 Nam Lào, không dám bén mảng đến trọng điểm ATP. Các đơn vị vận tải của ta “thoát nạn” B52, tăng cung, vượt tuyến. mùa nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đại tá Hoàng Trá, sau chiến tranh Ông được đồng đội tôn vinh Trưởng Ban liên lạc đầu tiên. Ông buồn rầu kể: Trong tay ông có một tâp tài liệu bây giờ mới được hé lộ, đó là “Chiến dịch thời tiết” (OPERATION POPEYE) do Bộ Quốc phòng và trung tâm tình báo Mỹ thực hiện trên đường 20 của ta, khiến con đường phải chịu đựng cơn mưa dai dẳng kéo dài trong mùa mưa. Và bất chợt mưa vào mùa khô. Mỹ đã dùng tới 2600 phi vụ máy bay, rải 47.000 tấn hoá chất gây mưa, tập trung ở các đoạn đường đất từ U Bò đến Khe Tum. Từ ngầm Cà Roòng đến ngầm A Ky. Những đoạn đường đất này vốn dĩ mềm yếu sinh ra lầy lội rất nghiêm trọng, mặt đường đá chìm trong bùn nước, gây rất nhiều khó khăn cho TNXP, cho cánh lái xe. Đoàn xe chở đầy hàng nhích từng mét đường lát gỗ tròn, trong khi trên đầu máy bay gầm rú, đánh rát. Thời đó, ta có thuật ngữ đường “rong đanh.” Lát bằng gỗ tròn. Không lẽ, thời đó đường Rong đanh chống lại “chiến dịch thời tiết” của Mỹ chăng? . Chiến dịch thời tiết của Mỹ trên đường 20 kéo dài trong 5 năm từ năm 1967 đến 1972, cho đến khi thủ đoạn đê hèn này bị khui ra, dư luân trên thế giới cực lực lên án, Mỹ mới thật sự chấm dứt. “Dù bom đạn của Mỹ huỷ diệt đường 20 trắng phớ ra, chúng ta đành cam chịu. Nhưng với thủ đoạn “ thời tiết “ đê hèn này đúng là “ trời không dung, đất không tha”. Ông giận dữ kết luận.
Năm 1968 trước khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền bắc (1/11/1968) đường 20 bước vào cuộc chiến “sống còn”. Tuyến goòng từ Minh Cầm, chuyển tải hàng xuống đường thuỷ, xếp lên xà lan đi từ sông Nậy, sông Gianh, sông Son gần đến Khương Hà thì dính bom thuỷ lôi, phà chìm, xăng và máu liệt sĩ loang khắp một đoạn sông. Ba ngày tìm vớt thi hài liệt sĩ vẫn chưa hết xác. Trên đường 20 xuất hiện nhiều trọng điểm cú và mới phát sinh: Km12 Chà Ang, khe Rét, khe Ro, đèo 32, U bò, khe Tum , Cà roòng, A ky, biên giới km68… Đặc biệt trọng điểm ATP biến thành sa mạc trắng khổng lồ…
Nửa đêm đang làm việc trong hầm – Binh trạm trưởng kể : Tôi nhận được bức điện khẩn của Tư lệnh Đinh Đức Thiện “ Nếu Binh trạm 14 không tiếp xăng vào, sẽ có hàng vạn bộ đội,đói, chết ”. Tôi hoảng sợ thật sự liền triệu tập lãnh đạo Binh trạm, tổ chức ngay Sở chỉ huy gần kề trọng điểm Chà Ang. Tất cả chỉ huy binh trạm Chính uỷ, Binh trạm Trưởng, binh trạm phó, tham mưu trưởng cầu đường cùng với chỉ huy các tiểu đoàn d335, Đội TNXP 81, Đội TNXP 23 trực 24/24 giải quyết mọi vấn đề.
Trọng điểm Km12 Chà Ang là đoạn đường độc đạo, kề vách núi cao của động Phong Nha, địch ném bom khó trúng đường, đành phóng tên lửa vào vách núi, làm đá lở thành vôi đổ xuống đường gây tắc nhiều tháng trời. Dù trong tay có lực lượng công binh mạnh, nhưng địch đánh rát suốt ngày đêm, nên việc khai thông gặp rất nhiều khó khăn. Chưa khắc phục xong bãi bùn vôi lầy nhầy, địch ráo riết đánh, lại phát sinh thêm bùn.Trong tình thế bắt buộc, chúng tôi bố trí tiểu đoàn 49 và tiểu đoàn 3030 vận chuyển bộ lương thực và xăng dầu theo suối Chà Ang. Kết quả không khả quan, chiến sĩ bị thương nhiều do địch rải nhiều bom vướng, bom vải. Xăng dầu gùi bằng can nhựa, can sắt , thấm ướt vào người gây lở loét, nhiễm chì, thảm hoạ y tế xảy ra. Còn một cách khác vần phi xăng dưới suối cạn cũng chỉ được 30 phi xăng méo mó đến được nơi tập kết, phải đổi 29 mạng sống của bộ đội. Đau xót quá.
Một sự việc xẩy ra như huyền thoại. Đó là đêm 14 rạng ngày 15 tháng 8 năm 1968, 100 xe ô tô chở đầy xăng, gạo của tiểu đoàn xe d781 tập kết sát với trọng điểm Chà Ang do Tiểu đoàn trưởng Võ Quốc Khánh, Chính trị viên Đậu Đình Chế chỉ huy. Tại trọng điểm tập thể lãnh đạo Binh trạm trực tiếp chỉ huy cùng với hàng trăm chiến sĩ công binh, TNXP tương đương với 3 tiểu đoàn quyết liệt khai thông . Đường thông được mét nào, xe lăn bánh tới đó, gần sáng, đoàn xe 100 chiếc bò qua trọng điểm đưa hàng về kho NH an toàn. Trong chiến đấu có những thắng lợi bất ngờ. Nhưng bất ngờ này, do ta nắm chắc được hành động của địch ( qui luật) ngoài ra còn có ý chí chiến đấu, lòng quả cảm và trí thông minh của tập thể lãnh đạo mới giành được thắng lợi trọn vẹn. Ông bồi hồi nhớ lại: Vài ba trăm tấn hàng so với một mùa vận chuyển của Binh trạm chẳng thấm tháp vào đâu. Nhưng vì đường tắc “ ngàn cân treo sợi tóc” thì 100 xe hàng này giống như một liều thuốc thần, cứu được hàng ngàn bộ đội tuyến trong. Đồng thời cũng làm vơi đi nỗi lo âu của Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khi con đường huyết mạch đang gặp khó khăn. Đại tướng gửi điện khen tới cán bộ chiến sĩ Binh trạm 14.
Sau ngày Mỹ tuyên bố ngừng ném bom Miền Bắc, địch dành số bom đạn ấy tập trung đánh cửa khẩu đường 12 và đường 20 vô cùng khốc liệt. Là người đã từng đi qua nhiều trận chiến, ông thấy chưa bao giờ Mỹ điên cuồng huỷ diệt trong điểm ATP trên đường 20 khủng khiếp đến mức không một sử gia nào ghi chép nổi.
Ông nói: Với một Binh trạm cửa ngõ của chiến trường, chúng ta như một binh chủng hợp thành, quân số có lúc lên đến vạn người, nhưng mọi người như một ngẩng cao đầu chiến đấu với giặc thù. Là người chỉ huy Binh trạm, ông nói rất cảm ơn cán bộ chiến sĩ của mình, đã kề vai sát cánh với ông, đưa từng cân hàng vào chiến trường. Ông đã từng ngủ hầm, cơm nắm, nửa bánh lương khô, chia lửa trên các trọng điểm địch đánh phá ác liệt, đã từng ngồi trên xe húc của Vũ Tiến Đề, Nguyễn Phong Lưu san lấp hố bom. Cùng với Phạm Văn Thọ tham mưu phó ngồi trên xe phóng từ BTR phá bom từ trường, thậm chí cùng mọi người xuống ngầm Ta lê, cứu xe, cứ hàng. Ông cười, khoe với mọi người dù bận việc, nhưng chăm chỉ ghi chép, nhớ từng con người. Họ là những chiến sĩ ưu tú, được kính trọng, xứng đáng như những người anh hùng. Kẻ thù có thể huỷ hoại của chúng ta nhiều thứ, nhưng không thể huỷ diệt được ý chí của một dận tộc…
Trong chiến tranh, chúng tôi là người lính dưới sự chỉ huy của ông. Hoà bình về với đời sống thường nhật, ông tập hợp lại những chiến binh của mình, thành lập “Ban liên lạc Bạn Chiến đấu Binh trạm 14” đầu tiên. Lời đề tặng không chỉ riêng tôi – người viết lại chuyện này – Ông muốn nhắn gửi đến đồng đội trong Ban Liên lạc chúng ta: Xin trích bút tích cố Đại tá Hoàng Trá
Kinh tặng chú Hồ Bá Thược
Kỷ niệm năm tháng ở Đường 20 Quyết thắng – Binh trạm 14 anh hùng, gian khổ, ác liệt, sống chết bên nhau. Ta thắng địch, thắng trời trong tình nghĩa thuỷ chung. Đất nước này muôn thuở chẳng vong ân.
H.B.T
Người gửi / điện thoại