Trần Quang Quý
NIỀM VINH QUANG CỦA LÀNG
Với làng Hạ, một làng nhỏ bé và heo hút ở vùng thôn dã này, thì hẳn đó là sự kiện lịch sử. Làng đang chuẩn bị đón người anh hùng đầu tiên của mình sau chiến tranh. Cả làng xôn xao đã mấy ngày rồi. Người lớn ngỡ ngàng thăm hỏi, trẻ con phấp phỏng muốn biết anh bộ đội của làng mặt mũi ra sao mà những trận đánh được người ta kể li kỳ đến vậy. Những câu chuyện không đầu không cuối, không biết bọn trẻ lỏm được ở đâu, cứ thế như một đám cháy âm ỉ lan ra khắp đường thôn ngõ xóm. Câu chuyện có vẻ càng hấp dẫn vì trong nhiều năm nay, người ta đồn rằng anh đã hy sinh trong một trận đánh đâu đó ở ven đô Sài Gòn.
Trụ sở Uỷ ban xã nhộn nhịp ngay từ chiều hôm qua. Người ta căng phông, chăng khẩu hiệu, cắm cờ đỏ cờ xanh rợp lên. Lễ đài được dựng một cái bục gỗ khá cao, ý chừng sẽ là nơi người anh hùng kia được mời lên phát biểu và tôn vinh. Tỉnh giao cho huyện, huyện giao cho xã, xã phải đón tiếp người anh hùng cho thật đúng tầm, cho thật ý nghĩa. Vừa là tự hào, hẳn rồi, vừa sự lạ, vừa trọng trách được giao, thành thử cứ cuống cả lên mà không biết phải làm thế nào cho phải nhẽ. Chủ tịch xã Lê Xiêm nhấp nhổm ngồi viết bài diễn văn, cặp kính viễn lúc thì hếch lên, khi lại ngó sang mấy cậu văn hoá xã và mấy chuyên gia lễ tân, trang trí phố huyện tăng cường xem họ làm có thuận mắt không. Ngày mai quan khách tỉnh, huyện đổ về, phông màn luộm thuộm, khẩu hiệu khẩu hò xộc xệch chả hoá bôi nhọ cái mỹ quan xã?
Giữa không khí có vẻ long trọng ấy của làng Hạ, người bất ngờ và xúc động nhất là bà Thuận. Những ngày trước, lúc bà Thuận đang lụi hụi thổi cơm chiều, chợt có tiếng dép lệt xệt ngoài sân, ngó ra, bà thấy hình như là ông Chủ tịch xã. Lạ nhỉ, bao năm làm chủ tịch, có bao giờ ông ấy đến nhà bà? Chẳng riêng ông, nhiều vị cán bộ chủ chốt, cán bộ đoàn thể dường như chẳng ai biết đến một bà Thuận gầy gò đang tồn tại trong túp lều ọp ẹp từ lâu lắm. Ông Chủ tịch Xiêm thật rồi. Bà mơ hồ về một điều hệ trọng gì đó liên quan đến bà. Bà vội thắt lại chiếc khăn gụ cũ kỹ cho gọn hơn trên mái đầu chớm bạc, lòng hồi hộp.
- Bà Thuận có nhà không? Như là đang thổi cơm hả? - Tiếng ông Chủ tịch vừa tới hiên nhà.
- Dạ, mời ông quá bộ…
- Chà, cái nhà của bà nghe chừng cũng ọp ẹp rồi nhỉ. Sao không xin mua ít gạch của hợp tác xã mà tu sửa?
- Đề nghị mãi rồi ông ạ. Đi mòn cổng nhà người ta mà chỉ được nghe một câu “chờ”! Sống một mình, lại không tiền không bạc, thôi thì tạm bợ cho qua ngày.
- Bà tố khổ ghê quá! - Chủ tịch Xiêm ngượng. Ông nhớ hình như bà có vài lần lên nhờ xã giúp đỡ, với lý do gia đình bộ đội neo đơn. Ông cũng nhớ căn nhà này đã bị bão thổi tốc mái một vài lần. Ông vội lảng sang chuyện khác - Bà Thuận này, bà có tin vui đấy.
- Thật hả ông Chủ tịch?
- Thật chứ bỡn. Tôi đến là mang tin vui cho bà đây. Thằng Minh nhà bà sắp về!
- Giời Phật! Ông nói… thằng Minh nhà tôi… về? - Bà Thuận nhìn chằm chằm vào ông Chủ tịch xã như muốn hỏi, có phải ông vừa báo cái tin kia không, có phải ông ấy vừa nói đó không nhỉ?
- Phải, chúng tôi đang chuẩn bị đón cậu ấy đây. Cậu ấy không những về, mà về với danh hiệu anh hùng quân đội. Vinh dự cho bà, vinh dự cho cả làng ta. Chúng tôi sẽ đón tiếp cậu ấy thật chu đáo, thật long trọng cho đúng tầm cỡ. Giấy trên báo về đây - Ông mở cặp, xòe cái giấy báo ra trước mặt - Bà thật phấn khởi nhá!
Bà Thuận luýnh quýnh hỏi đi hỏi lại nhiều lần mà chưa dám tin là thật. Bà pha trà nhưng lại quên bỏ trà vào ấm. Bà rót nước tràn chén mà vẫn cứ rót. Cái thằng con bằng xương bằng thịt của bà sẽ trở về? Cái tin bất ngờ quá, sung sướng quá! Nó như một giấc mơ. Một cơn mưa trong mơ tưới lên cõi lòng khô cằn của bà. Trên gương mặt xương xương khắc khổ hai ngấn nước ứa ra, dù bà cố kiềm chế trước Chủ tịch xã Lê Xiêm. Chủ tịch Xiêm quay mặt đi. Còn ai khác ngoài ông hiểu rõ gia cảnh bà Thuận. Chính ông là người cùng thời, không những thế, ông còn là người từng mang lòng trắc ẩn mến thương cô Thuận xa xưa.

Sau buổi gặp gỡ ấy, căn nhà lá ba gian kẽo kẹt tiếng mọt khoét của bà Thuận cứ tấp nập láng giềng. Phụ nữ nhai trầu, chuyện trò râm rỉ. Các lão nông kéo thuốc lào sòng sọc, nói cười choang choang. Những lời khen về mẹ con Bà Thuận dường ém kỹ lâu ngày, giờ mới được xổ ra, không kiệm lời. Lạ lẫm hơn, người ta bỗng thấy những xe công nông của hợp tác xã chở về sân bà Thuận ùn ùn nào vôi, cát, tre, ngói… Chiều nào chủ tịch Xiêm cũng từ trụ sở đoảng qua, giục đám thợ: “Khẩn trương, khẩn trương… không kịp thì liệu đấy!”. Có người hàng xóm đứng bên kia bờ ao nói với sang: “Chao ôi, ông chủ tịch lo cho dân chu đáo quá”. Cứ thế, làng Hạ náo nức hẳn lên.
Suốt đêm bà Thuận ngồi đó trong căn nhà còn nồng mùi vôi, mùi tre ngâm khăn khẳn. Nén hương trên bàn thờ héo dần trong chấm sáng mỏng manh hư ảo. Bà ngồi xếp chân trên chiếc giường tre cũ kỹ lên nước bóng loáng. Như nó vẫn bóng nhẵn tự cổ xưa và không còn khả năng bóng hơn nữa. Bà ngồi trò chuyện với đứa con trai của mình và người cha của nó. Tiếng bà lúc to lúc rủ rỉ, có lúc bà cười khanh khách. Gần sáng, có một người hàng xóm sang xin lửa ngó vào, thấy chỉ mình bà ngồi khấn lầm rầm trên giường, mới rờn rợn mà lui ra. Lúc đầu thì lui, sau thì chạy. Người ta thường kể bà đã ngồi như thế hồi nghe tin thằng Minh hy sinh trong chiến trường miền Nam. Người ta còn tưởng bà bị tâm thần, hay bị ma ám. Về sau, hàng xóm hỏi bà ngồi một mình trò chuyện gì, bà bảo bố thằng Minh vẫn thường về trò chuyện với bà. Cũng như đêm nay, trong căn nhà vừa được xã sửa sang cho, tiềm thức bà lại phiêu diêu về một chốn xa xăm nào đó. Cái thời xa xăm, đã mấy mươi năm ấy, sao cứ mồn một như vừa hôm qua thôi. Nó như một hồi chuông ngân lên mà tiếng ngân còn văng vẳng, thảng thốt…!
Bấy giờ bà còn là cô Thuận chớm tuổi hai mươi. Cô Thuận sớm mồ côi cha, suốt ngày lặn lội với mấy thửa ruộng đồng chiêm trũng. Mẹ cô Thuận chưa già lắm nhưng mắc chứng tê thấp. Những ngày đổi trời, bệnh tê thấp lại nhức buốt. Cô Thuận gầy phần vì làm ăn cực nhọc, phần vì lo chăm mẹ. Tuổi con gái rồi mà không phổng phao được mấy chút. Chân lúc nào cũng lấm bùn, tóc lúc nào cũng vương rơm cỏ. Bấy giờ làng Hạ nằm sát vùng tề, lọt giữa bốn bề đồn bốt Tây. Dường như ngày nào Tây đen, Tây trắng cũng càn sang. Những căn nhà cổ của làng hầu như không còn nữa. Chúng đốt rồi lại đốt. Hết đốt đến ném bom, câu moọc-chê. Làng như một cái túi đựng tất cả nỗi hậm hực, cay cú của giặc Pháp, vì ở đó người ta rào làng kháng chiến. Một cái làng bé như cái nia, vài cây mút-cơ-tông, mấy thanh mã tấu, lại cứ huơ lên trước mắt chúng, thì sao chúng chịu nổi?
Đến lúc những luỹ tre cuối cùng không còn nữa thì làng trở thành vành đai trắng. Những đội du kích phải lùi xa, khi ấy, người cán bộ kháng chiến lại phải lần về gây dựng cơ sở, nắm tình hình địch, chuẩn bị lực lượng công đồn.
Dưới bụi tre cụt ngọn nhà cô Thuận, một cái hầm bí mật được khoét thông ra bờ ao bèo. Đó là căn hầm kháng chiến đầu tiên ở làng Hạ. Cái đêm ngâm mình dưới nước đổ từng chậu đất sao Thuận vui và hồi hộp thế. Bầu trời đầy sao. Tiếng côn trùng rỉ rả. Đôi khi nhịp tim của cô thắt lại. Thuận lo cho mình thì ít, người con trai đang nằm rạp trong vòm đen ẩm ướt để moi từng chậu đất kia mới làm cô lo đến ngẹt thở. Biết đâu, trong khoảnh khắc bất chợt, một ánh đèn pin của giặc phục kích loé lên… Nhưng rồi Thuận cũng bình tĩnh lại. Có cái gì đó làm cô bình tĩnh lại nhỉ? Mắt anh ấy? Ừ, ánh mắt sao tự tin thế. Cả giọng nói nữa, cái giọng nói trầm ấm nghe bình tĩnh thật ấy chứ.
- Thuận ơi, nghỉ đi, khuya rồi. Mai Thuận còn làm đồng chứ! - Anh bò từ vòm đen ra, nói khẽ.
- Cố đi anh, càng chậm càng không tốt đâu.
- Một mình anh làm được mà. Mấy hôm nay trông Thuận hốc hác quá.
- Em chịu quen rồi, chỉ sợ anh… - Thuận ngắc ngứ. Trong bóng đêm làm sao anh ấy biết mình hốc hác? Cô cảm giác anh đang nhìn cô ghê lắm. Những hôm còn nuôi giấu anh ngoài cánh đồng hoang, mỗi lần gặp, anh vẫn nhìn cô thăm thẳm như thế. Bằng linh cảm của người con gái, Thuận ngờ ngợ đoán trong cái nhìn và giọng nói lo âu, dịu dàng kia chứa đựng một tâm trạng khác thường. Nhưng cô vội vàng gạt bỏ ý nghĩ bồng bột chợt hiện và ngượng ngùng với chính mình. Không phải thế… Mình gầy gò, nhếch nhác thế này, ma nào nhìn. Anh ấy cảm thông như cảm thông một nỗi khổ, vậy thôi.
Thuận không biết mình xinh. Có một mảnh gương nào đâu mà biết xinh. Vả lại, hoàn cảnh Thuận như thế, có lúc nào nhàn rỗi để làm duyên. Khoảng đời thơ ấu của một người lam lũ luôn mờ mịt, thành thử đến lúc đã là một cô gái dậy thì rồi mà Thuận không kịp biết. Thi thoảng có lúc đứng bên vại nước mưa đầu hồi, cô thấy gương mặt mình mờ mờ trong màu nước nâu thẫm của mái rạ, làm sao có thể nhận rõ nhan sắc. May sao trên khuôn hình ấy lại là một gương mặt thanh thoát, rất duyên. Một đôi mắt lanh lợi và chịu đựng, đến nỗi có một anh trai làng đem lòng yêu mến, đeo đuổi mãi. Người ấy là Xiêm.
Lúc Thuận vừa lớn Xiêm cũng vừa thôi học. Lẽ ra Xiêm có thể học cao nữa, nhưng anh chỉ dừng lại ở cái bằng tiểu học trường huyện và chương trình Tam tự kinh của một ông đồ làng. Gia đình Xiêm không giầu nhưng cũng không quá khó khăn trong việc cho cậu con trai cưng ăn học để thoát ly lam lũ đồng áng. Kháng chiến bùng nổ, anh trai làng có dáng dấp nửa thầy đồ, nửa nông dân ấy không theo đoàn người tản cư, cũng không vào du kích mà mải theo những đoàn buôn chè, buôn muối, buôn vải, luồn lách từ vùng tự do sang vùng tạm chiếm. Và vì vậy, Xiêm bắt đầu thấy phải có một nơi chốn để cái bị cói tiền toòng teng trên vai lúc nào cũng phồng lên của mình được gìn giữ… Trong rất nhiều cô gái mà anh gặp, không biết từ lúc nào bóng hình Thuận cứ chờn vờn hiện lên. Sau những chuyến buôn, Xiêm thường tìm cách để được gặp Thuận. Một vuông vải khăn, một lọ dầu xoa, một hộp thuốc bổ cho mẹ Thuận… mà Thuận cứ xa vời. Dù Thuận cười, Thuận nói, Thuận chào Xiêm từ tốn, nhưng sao cái cô Thuận gầy gò mà mê hoặc kia vẫn cứ chập chờn như ánh sáng một ngọn đèn mờ tỏ trong màn sương lúc chập choạng.
Xiêm không sao hiểu một cô gái nghèo và cực nhọc như Thuận còn ước muốn gì hơn?
Một lần, mẹ Thuận gọi cô lại gần:
- Con ơi, mẹ thấy thằng Xiêm được đấy. Con cái nhà người ta được học hành hơn khối người làng. Mặt mũi nó trông cũng sáng.Nó lại có tiền...
- Nhưng mà… Con thấy anh ấy thế nào ấy, khó gần.
- Nó đến luôn mà mày bảo khó gần là thế nào? Con gái đến thì rồi con ạ, người ta tự đến chứ mình có “đũa mốc mà chọc mâm son” đâu.
Thuận im lặng. Giọng mẹ tủi tủi. Nghe mẹ, cuộc đời Thuận rồi ra sao nhỉ, nó có tốt như mẹ mong muốn không? Đầu óc cô như một mớ cỏ rối, càng nghĩ càng rối hơn. Suốt một chiều căng thẳng. Chờ tới đêm, khi đã thả gói cơm xuống hầm cho anh ấy rồi, Thuận không vội đậy nắp hầm như mọi khi, cô nhảy xuống, hai bờ vai cứ thế mà rung lên.
- Ô kìa, Sao thế? Sao Thuận khóc?
Thuận giấu mặt vào hai bàn tay. Còn anh, anh luống cuống xoay trong không gian chật chội của căn hầm.
Trên làng vừa có một trận càn mới, một mất mát? Chắc anh đang lo âu như thế. Thuận không muốn nỗi lo của anh kéo dài, cũng không muốn mình héo hon hơn nữa, cô kể lại, kể tất cả những gì mà Xiêm muốn, những gì mẹ cô hy vọng. Bất chợt, anh dang hai cánh tay, vòng qua vai Thuận. Người cô run bần bật, nổi gai gà.
- Anh…!
- Thuận! Thuận có sợ… nghe anh nói không?
- Sợ… gì cơ?
- Anh muốn… có Thuận đấy. Thật đấy mà…, thật mà lỵ. Đừng nhận nhời người ta nhé.
Lần đầu tiên trong đời cô nghe thấy cái tiếng nói vụng về mà kỳ lạ. Cô run lên trong sung sướng, trong thấp thỏm, trong cái linh cảm bấy lâu vừa có lời giải đáp…
***
Bà Thuận chợt nhận ra rằng bà ngồi như thế đã lâu lắm thì phải. Hình như gần sáng rồi. Hình như có tiếng chân người. Sao lại có tiếng chân chạy vào giờ này? Hay trâu bò nhà ai xổng chuồng? Bà đi thắp thêm mấy nén hương và đứng trước ban thờ:
- Ông ơi, tôi tưởng con nó đã đi với ông, ai dè nó lại về với tôi rồi. Con nó được anh hùng rồi ông ạ. Sáng mai làng ta đón tiếp nó to lắm. Cả làng mừng cho nhà ta. Ông thấy không, người ta còn làm nhà mới cho nữa. Cả đời tôi lo mãi không nổi ba gian nhà cho tử tế, có lúc như kẻ ăn xin, chạy khắp nơi này nơi nọ mà không có lấy một viên gạch. Thế mà đùng một cái người ta lại làm nhà tặng mình. Số ông rõ khổ, chả được chứng kiến ngày này. Số tôi cũng chẳng ra gì, nuôi con lận đận mà suốt đời chịu tiếng là gái không chồng! Ông đừng giận tôi nhé, nhắc thế là nhắc chuyện đời nó cay cực, chứ một lời nguyện ước là vàng là ngọc ông ạ. Chả vợ chồng thì làm sao có thằng Minh hả ông? Chả vợ chồng mà suốt đời tôi đứng vậy để chứng giám cho lòng tôi với ông. Tôi mong ông về. Ông về vui với mẹ con tôi.
Bà Thuận ngả lưng xuống giường, hy vọng chợp mắt được một chút cho đỡ mệt. Hàng xóm đã có tiếng kẹt cửa. Ngoài đường có tiếng người đi chợ xa, chuyện trò râm ran. Nhưng bà Thuận cứ nhắm mắt vào là năm ấy, tháng ấy, bóng hình ấy hiện lên, từ từ nhập vào bà. Những ảnh hình nhoè mờ, trùng khít và tan biến, bà lại trở về cô Thuận của năm ấy, tháng ấy…
Lúc thằng Minh ra đời cũng là lúc kháng chiến chín năm kết thúc. Người làng từ các vùng tản cư lục tục kéo về dựng nhà, vỡ đất. Với Thuận, đứa con trai là niềm an ủi lớn, nhưng mẹ cô cũng vì thế mà vội khuất núi sau một cơn co giật. Ở tuổi bà, sức yếu, hẳn không chịu nổi ánh mắt giễu cợt, lời đồn của những miệng lưỡi cay độc, định kiến: “Gái không chồng có con mới giỏi… Thằng Xiêm có tài, khá giả lại không chịu gả… Trời quả báo rồi!”. Có người đặt vè, hát gần hát xa. Thuận chỉ còn biết cắn môi bước qua dư luận. Xót xa. Tủi phận. Đã có lúc cô định liều mình quyên sinh. Cô nghĩ đến anh, nghĩ đến đứa con máu thịt của anh ấy. Tình thương yêu anh giờ cô chỉ còn biết dồn cho đứa trẻ. Đôi mắt nó giống anh quá. Cái miệng cười như tạc từ bố.
Cái đêm ấy, đêm đau thương anh ra đi và mãi mãi không trở lại. Trước lúc ra khu du kích, anh còn hôn cô và bảo:
- Anh đi chuyến này có hai việc lớn. Đố em biết đấy?
- Chuẩn bị đánh đồn chứ gì.
- Còn việc nữa…?
Cô không nghĩ ra, lắc đầu chịu. Anh cù vào lưng Thuận:
- Việc thứ hai là… báo cáo cấp trên để cưới… này này! - Anh đặt ngón tay lên môi Thuận.
Cô đấm nhẹ lên vai anh. Cô chợt lo, đã có lúc cô và anh đắm đuối trong tình yêu không kìm giữ, như đã vợ chồng.
Anh vừa ra khỏi ngõ thì bị địch phục kích. Anh nhảy qua rào, chân vướng vào dây leo, chưa kịp vùng dậy thì bị bắt. Chúng đưa anh ra bắn tại đình làng rồi vứt xác xuống sông. Lòng Thuận tan nát. Thuận muốn ào ra cấu xé quân giết người. Nhưng Thuận làm được gì? Một cô gái tay không, yếu đuối thì làm được gì? Cô kịp hiểu rằng, mọi điều anh cần báo cáo với cấp trên đã mãi mãi im lặng cùng anh. Cô cố kìm nén cơn xúc động, cay đắng, khăn áo một mình lội đồng vào chân núi xa. Ở đó có hai việc lớn mà anh cần báo cáo, nhưng Thuận chỉ làm thay anh một nửa. Cái nửa cho công đồn, còn nửa cho hạnh phúc chính mình thì mãi mãi im lặng.
Thằng Minh càng lớn càng giống anh. Nó hiếu kỳ và hóm. Những câu chuyện cô kể về anh làm nó thích thú. Trong đầu nó luôn có một người bố thật tuyệt vời. Nó thườmg nằm trên giường làm những động tác bò trườn như du kích. Đến lớp, trong những lần nghe cô giáo kể chuyện về truyền thống lịch sử, nó lại có dịp khoe với bạn bè về bố nó một cách say sưa, tự hào. “Ngày ấy, cái ngày bố tớ…”. Nhưng đến một lúc nào đó bọn trẻ không còn ham nghe nó kể nữa. Có đứa bạo mồm còn nói: “Mày làm cứt gì có bố!”. Hôm đầu thằng Minh chỉ hơi ngạc nhiên và nghĩ rằng chúng bạn đùa mình. Điệp khúc ấy cứ lặp lại mãi làm nó phải nghe ngóng. Nó đã nghe thấy trong tiếng xì xào chỗ này chỗ kia của bọn trẻ những điều làm nó sững sờ. Cuối cùng, nó nhảy xổ vào bọn trẻ đấm, đá, húc… bằng mọi cách để trả thù, để đập tan ác ý mà nó cho rằng bọn trẻ dựng chuyện, xuyên tạc, dám động đến danh dự của bố mẹ nó.
Một buổi trưa Thuận thấy nó đi học về muộn hơn mọi ngày, mặt mũi thâm tím, xây xát, áo quần lấm lem đất cát.
- Con làm sao thế, Minh? - Cô kéo nó vào lòng, lay đôi vai bé nhỏ - Con đánh nhau à? Đứa nào đánh con? Đứa nào...
Thằng Minh đứng lặng câm. Môi nó mím chặt, quay ngoắt đi.
- Con trèo cây ngã hay đứa nào đánh? Trời ơi! Con tôi…!
Thằng Minh vẫn đứng lặng. Cô thấy trong mắt nó một ánh nhìn lạ! Cô chạy quanh nó như đèn cù, dỗ dành. Đột nhiên nó oà khóc, tay túm áo mẹ, lắc:
- Con có bố không, mẹ? Con có bố không?
Thế là cô hiểu ra. Trời ơi, sao số phận phũ phàng với cô thế. Lời dị nghị bắt đầu làm tổn thương đứa con trai của Thuận. Trong ánh mắt hồn nhiên, trong sáng của nó giờ thật lạ khi nhìn cô. Cái nhìn như mũi tên bắn vào trái tim cô. Cô chưa hoàn toàn thanh thản về những năm tháng cũ của mình. Giờ đây, có nỗi đau nào hơn khi chính đứa con nhìn cô bằng con mắt ngờ vực, xa lạ.
Minh bỏ học suốt cả tuần, cơm không chịu ăn. Nó lủi thủi đến nằm rú ở nhà người quen. Có lúc nó tha thẩn một mình dọc bờ sông. Có lần nó đi bộ đến gần chục cây số lên phố huyện với một đứa bạn quen hồi đi dự trại hè. Thuận hoang mang đến gặp nhà trường nhờ giúp. Có lúc cô cắm cúi lên xã mà chưa biết để làm gì. Con cô phải có bố, tất nhiên rồi, nhưng ai dám chứng nhận anh ấy là bố nó? Thậm chí cả làng này không ai biết về anh. Vì đã mang thai trái với tục lệ làng, sau khi anh hy sinh, cô cũng không bao giờ gặp một người có chức trách nào để bày tỏ.
Một hôm cô lên xã, đó là lúc bị ức chế kinh khủng. Cô đi phăm phăm với một quyết tâm làm cho mọi chuyện rõ ràng. Nhưng vừa nhô vào sân trụ sở thì bất ngờ thấy Xiêm đang nhoẻn cười sau khung cửa sổ. Chủ tịch xã bây giờ là Xiêm. Cô gặp Xiêm để làm gì nhỉ? Cô nhớ, ngày cô sắp sinh con, gặp cô ở đường, Xiêm nhếch mép cười: “Có kiện cái gì thì đừng kiện anh nhé. Dù sao người ta cũng biết anh hay đến nhà em”. Cô quát: “Bây giờ tôi mới rõ cái mặt lái buôn của anh!”. Từ đó cô tránh gặp Xiêm. Hoà bình, Xiêm ra làm ở văn phòng uỷ ban xã. Xiêm có chút học hành nên ăn nói hơn người. Đường buôn bán, giao du đủ hạng người nên Xiêm biết ứng xử nhu, cương. Người ta bảo Xiêm khôn khéo lắm. Thế là Thuận lại cắp nón quay về như quả bóng bỗng xì hơi.
Không còn cách nào khác là nói thật với con. Một sự thật cô nghĩ không có gì phải xấu hổ, chỉ chưa dám nói ra, con cô còn bé mà. Rồi con sẽ hiểu. Rồi con sẽ khôn lớn. Nó phải sống xứng với bố nó, cô tin thế. Đêm ấy, cô ôm con vào lòng, gãi đầu cho nó ngủ. Thằng Minh nằm im trong tay mẹ. Rồi nó oà khóc: “Mẹ ơi, đừng giận con… Mẹ đừng giận con… Thôi, mẹ đừng khóc…!”. Nó bảo mẹ thế nhưng tiếng nấc của nó còn to hơn cô. Cô cảm thấy con mình lớn hơn tuổi của nó rồi.
***
Sân trụ sở uỷ ban xã đã đông người. Cờ bay phần phật. Màu băng rôn khẩu hiệu đỏ chói. Một dòng chữ lớn nổi bật: “Nhiệt liệt chào đón Anh hùng Quân đội Đỗ Quang Minh”. Từ sáng sớm, một tốp thiếu niên trong ban nghi lễ đã chờ sẵn. Tiếng trống ếch ruỳnh ruỳnh, kéo theo sau là một đàn dài lếch thếch bọn trẻ ở làng. Chúng đến với sự hiếu kỳ. Các ban ngành, đoàn thể trong xã hầu như không sót một ai. Phía bếp ăn tập thể tiếng lợn kêu eng éc, nghe rộn mùi bếp núc.
Phải hơn tám giờ sáng quý khách tỉnh, huyện mới về. Chủ tịch Xiêm bận rộn nghinh tân. Ông cười nói, ra vào, bắt tay, mời mọc… Ông nhẩm gần thuộc lòng bài diễn văn mà ông viết khá hùng hồn trong hơn một tuần qua. Đây là dịp hiếm có để chứng minh năng lực, đức độ, và lòng mến khách của ông. Bên trái ông là chủ tịch huyện, bên phải là huyện đội trưởng, cán bộ tỉnh đội, ủy ban tỉnh… Chủ tịch Xiêm tranh thủ giới thiệu với khách về các phong trào của xã, chính sách hậu phương quân đội. Ông cũng hé cho quan khách hàng huyện, hàng tỉnh biết xã đã chăm lo cho gia đình bà Thuận ra sao. Bằng chứng là mới làm cho bà một căn nhà bốn gian bằng công quỹ bảo trợ xã hội. Ông bắt tay, chào hỏi từng cán bộ cấp trên về. Chủ tịch huyện gật gù với chủ tịch xã: “Ờ, ờ… cứ thế mà làm”. Nhiều cán bộ xã, thôn cũng tiến lại phía ông và chìa những bàn tay bắt chặt tay Xiêm. Ông chủ tịch xã nhắc lại đúng câu ông chủ tịch huyện vừa nói: “Ờ, ờ… cứ thế mà làm”.
Chủ tịch Xiêm nhìn khắp lượt chưa thấy bà Thuận đâu, cũng chưa thấy Minh và các sĩ quan đơn vị của anh đến. Chủ tịch Xiêm lo lắng ngoắt tay gọi anh thư ký ủy ban. Anh thư ký ủy ban bổ nháo bổ nhào chạy ra khỏi hội trường. Chợt ngoài cửa tiếng bọn trẻ con huyên náo:
- Anh ấy đấy, anh ấy đấy. Tớ biết từ chiều hôm qua cơ. Đơn vị đánh xe con đưa anh ấy về tận nhà, oai thật!
- Người ta bảo bố anh ấy đánh nhau với Tây tài lắm. Tây bắt được, bắn chết anh ấy vẫn không khai...
- Tớ chả thấy anh ấy oai tý nào nhỉ. Quần áo bộ đội cũng bình thường thôi.
- Trông bé thế kia mà bảo giết được mấy trăm lính Mỹ.
Tiếng loa rọ rẹ rồi réo lên: “Đề nghị mấy em bé ngoài cửa trật tự, trật tự…!”. Một ông lão làm bảo vệ cầm cái roi huơ lên. Bọn trẻ chạy ùa ra lẫn tiếng trống ếch cứ ruỳnh ruỳnh, ruỳnh ruỳnh…
Minh bước vào hội trường với những tấm huân chương đỏ chói trên bộ quân phục mới. Anh dắt mẹ đi lên phía trên giữa bốn người lính cùng đơn vị. Tiếng vỗ tay rào rào. Quả Thực, không có những tấm huân chương kia người ta khó tin cái vóc dáng bình thường thế mà lại quả cảm, anh hùng; khó tin những chiến công mà làng đã nghe đọc suốt mấy ngày nay trên đài truyền thanh của xã.
Chủ tịch Xiêm gõ cốc cốc lên micro, giọng ông vang lên trịnh trọng. Ông nói về truyền thống của xã trong hai cuộc kháng chiến. Ông dẫn lý do buổi đón và tôn vinh Đỗ Quang Vinh hôm nay. Bài diễn văn mùi mẫm cứ thế kéo dài ra.
Bà Thuận ngợp trong niềm vui sướng. Thỉnh thoảng bà lại ngước nhìn con trai mình. Bà thấy nó có vẻ già đi nhiều so với hôm qua, lúc nó từ xe con chạy vào nhà ôm lấy mẹ. Ấy là lúc bà vừa thiếp đi sau một đêm thức trắng phấp phỏng đón con. Những người lính cùng đơn vị cũng đứng lặng trong niềm xúc động quá lớn của mẹ con bà Thuận. Minh mở ba lô chia quà khắp lượt cho trẻ con hàng xóm đang ùa vào. Nó chạy ra vườn, thăm chuồng gà, chuồng lợn. Nó ngắm nhìn căn nhà, reo lên: “Mẹ đã làm được nhà mới rồi cơ!”. Bà không thanh minh gì, cứ đứng trân trân mà nhìn nó. Nó kể, người ta đã lầm Minh hy sinh, nhưng sau trận đánh ác liệt ở vùng ven đô. Sau đó, Minh không thư từ gì về cho mẹ vì phải tiếp tục một nhiệm vụ đặc biệt.
Bà đang triền miên trong hồi ức thì có tiếng giới thiệu con trai bà. Chủ tịch Xiêm mời Minh lên phát biểu, tâm sự với quê hương. Ông vẫy tay ra hiệu cho Minh đứng lên cái bục gỗ danh dự kê giữa nền lễ đài để tiện chụp ảnh luôn.
Minh bước lên vài bước nhưng không bước lên bục mà đứng giữa những hàng ghế đầu hội trường. Chủ tịch Xiêm đến nắm tay Minh, nói nhỏ: “Ấy, cháu phải lên trên kia chứ. Đấy là bộ mặt của xã ta.…”. Ông chưa kịp nói hết, Minh đã cảm kích:
- Kính thưa bà con cô bác, xin cho tôi được đứng đây giữa mọi người. Tôi thật xúc động, thật vui mừng khi được về với người thân, về với làng xóm… Xin cảm ơn xã, các vị khách và bà con cô bác dành cho tôi buổi đón tiếp này. Chiến công của tôi ư? Tôi nghĩ là rất nhỏ, thậm chí chưa nặng bằng những giọt nước mắt chịu đựng, hy sinh thầm lặng của mẹ tôi và bao bà mẹ khác. Chính cái thầm lặng, vô hình ấy mới đáng cho ta cảm phục. Chỉ điều ấy, cái bục cao kia cũng không đủ xứng với họ. Tôi xin cảm tạ những bà mẹ và xin được không bước lên vị trí ấy…!
Tiếng vỗ tay chợt rộ lên. Người ta xì xào, sao con trai bà Thuận nói hay, nói khéo thế. Cả hội trường không ai bảo ai, cùng đứng dậy hoan hô nồng nhiệt. Bà Thuận ngây ngất nhìn đứa con trai, mắt cứ nhoà đi. Từ cõi thẳm mênh mông, một gương mặt, một nụ cười chợt hiện lên. Nụ cười của Bình, người cán bộ năm xưa trong căn hầm bí mật. Lần đầu tiên bà thấy có hàng trăm ánh mắt nhìn mình ấm áp…!
Hà Nội, 1987
T.Q.Q