Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

KHI LỊCH SỬ ĐI QUA

 Hoàng Kim Ngọc
 
KHI LỊCH SỬ ĐI QUA NHỮNG PHẬN NGƯỜI
Đọc tiểu thuyết Gió chiều Hoàng Đạo của nhà văn Lê Hồng Nguyên
 
    Một buổi sáng tháng Mười năm 2026, trong lúc cùng cô bạn dạo chơi bên Hồ Gươm, tôi tình cờ được nghe giới thiệu về một người bạn mới: nhà văn Lê Hồng Nguyên, tác giả vừa ra mắt tiểu thuyết Gió chiều Hoàng Đạo. Bạn tôi gọi điện cho Nguyên. Khoảng nửa giờ sau, cô xuất hiện. Ấn tượng đầu tiên của tôi về người phụ nữ ấy không chỉ là khuôn mặt khả ái, những đường nét thanh tú mà còn là đôi mắt rất có hồn, dường như luôn chất chứa những điều muốn sẻ chia.
     Chúng tôi nhanh chóng trở nên gần gũi. Sau những câu chuyện làm quen, những tấm ảnh lưu niệm, chúng tôi cùng dùng bữa trưa. Nguyên tặng mỗi người một cuốn tiểu thuyết và say sưa kể về hành trình viết, về những nhân vật, những số phận đã đi qua trang sách của mình. Có một điều khiến tôi đặc biệt xúc động. Trong câu chuyện ấy, Nguyên đã hai lần phải dừng lại vì nghẹn ngào. Cô khóc khi nhắc đến những nhân vật của mình, những con người với bao mất mát, đau khổ, những cuộc đời nhiều trắc trở mà cô đã dành không ít tâm sức để khắc họa.
Tôi đã gặp một nhà văn qua một cuộc trò chuyện rất đời thường, nhưng điều đọng lại sâu sắc hơn cả là tấm lòng đầy trắc ẩn của người cầm bút. Có lẽ, chỉ khi thực sự yêu thương và thấu hiểu những con người mình viết về, người viết mới có thể xúc động đến thế trước số phận của những nhân vật do chính mình sáng tạo.
     Trở về nhà, tôi bắt đầu đọc Gió chiều Hoàng Đạo. Những trang sách mở ra một thế giới khác với cuộc gặp gỡ ban sáng. Một ngôi làng bên dòng sông Hồng, những con người bình dị, những cuộc chia lìa kéo dài qua nhiều thập niên, những tình yêu dang dở và những nỗi nhớ không dễ nguôi ngoai. Càng đọc, tôi càng hiểu hơn vì sao người viết lại có thể xúc động đến vậy khi kể về các nhân vật của mình. Họ không còn đơn thuần là những cái tên trong một câu chuyện mà đã trở thành những phận người với những nỗi đau, khát vọng và niềm hy vọng rất thật.
   Tôi tự nhủ sẽ còn trở lại với tác phẩm, sẽ dành cho nó một khoảng thời gian đủ dài để suy ngẫm và viết một bài tiểu luận dày dặn hơn trong một ngày không xa. Nhưng ngay từ lần đọc đầu tiên, Gió chiều Hoàng Đạo đã để lại trong tôi một dư âm khó quên. Dư âm về những con người đi qua biến động lịch sử, về một miền quê có thể không còn trên bản đồ nhưng vẫn sống mãi trong ký ức và về một người viết đã khóc khi kể câu chuyện của chính những nhân vật mình tạo ra.
 
Lịch sử không chỉ được viết bằng những sự kiện lớn
    Có những cuộc chia ly tưởng chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng dư âm của nó có thể kéo dài suốt một đời người. Có những miền quê đã biến mất khỏi bản đồ địa lý, nhưng vẫn tồn tại nguyên vẹn trong tâm trí những người từng sinh sống ở đó. Và có những nỗi đau tưởng đã được thời gian xoa dịu, đến một ngày bất chợt trở về, khiến con người nhận ra rằng có những điều trong cuộc đời không thể dễ dàng khép lại. Gió chiều Hoàng Đạo của Lê Hồng Nguyên gợi lên những suy tư như thế.
Điều đáng chú ý ở tiểu thuyết là cách nhà văn đặt số phận cá nhân trong mối quan hệ với những biến chuyển của thời đại. Câu chuyện bắt đầu từ một ngôi làng Công giáo bên dòng sông Hồng, trong bối cảnh xã hội Việt Nam sau Hiệp định Genève năm 1954. Đó là thời điểm những lựa chọn ra đi hay ở lại đặt nhiều gia đình trước những giằng co không dễ giải quyết.
    Với gia đình thầy Nết, quyết định ở lại không đơn thuần là lựa chọn một nơi cư trú. Đó còn là sự gắn bó với nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, với cộng đồng đã bao đời sinh sống và đặc biệt là niềm hy vọng người con gái cả có thể trở về. Đằng sau quyết định tưởng như bình thường ấy là cả một thế giới tình cảm, những ràng buộc của cội nguồn và một niềm tin dai dẳng vào sự đoàn tụ.
    Từ lựa chọn của một gia đình, Lê Hồng Nguyên mở ra bức tranh rộng hơn về những biến động xã hội và những tác động lâu dài của lịch sử đối với đời sống riêng tư. Những người ra đi mang theo quê hương đến một miền đất khác. Những người ở lại phải làm quen với sự vắng bóng của những người thân yêu, với một không gian cộng đồng đã đổi thay. Cuộc sống tiếp tục vận động, nhưng không phải mọi mất mát đều có thể được lấp đầy.
      Lịch sử trong tiểu thuyết vì thế không hiện lên như một phông nền tĩnh tại mà thấm sâu vào từng quan hệ gia đình, từng lựa chọn tình cảm, từng ngã rẽ của số phận. Với các nhân vật, lịch sử không phải là những khái niệm xa xôi mà là hiện thực trực tiếp quyết định họ có thể sống bên người mình yêu hay không, gia đình có còn được sum họp hay không, một người có thể tự lựa chọn con đường đời mình hay phải chấp nhận những ràng buộc của hoàn cảnh.
    Có thể nói, Lê Hồng Nguyên đã chọn một điểm nhìn giàu tính nhân văn. Nhìn lịch sử từ phía những con người phải sống trong lịch sử. Chính những số phận bình thường ấy giúp người đọc nhận ra rằng đằng sau mỗi biến động của thời đại là biết bao cuộc đời với những niềm vui, nỗi đau và những khát vọng không dễ gọi thành tên.
gio1 
Những phận người và cái giá của những cuộc chia lìa
    Bi kịch của Vạn là một trong những mạch truyện tạo nên sức ám ảnh cho tiểu thuyết. Một đám cưới đã được chuẩn bị, hạnh phúc tưởng như ở rất gần, vậy mà Vạn đột ngột biến mất trước ngày cưới. Sự vắng mặt bất ngờ ấy làm đảo lộn cuộc sống của những người thân, đồng thời mở ra một khoảng trống kéo dài gần trọn một đời người.
    Từ một biến cố riêng tư, nhà văn gợi lên câu hỏi về những nguyên nhân sâu xa khiến con người phải rời bỏ những gì mình yêu thương, về cái giá của những lựa chọn và những hệ lụy mà một quyết định có thể để lại cho nhiều số phận. Điều đáng buồn là sự chia lìa, là những năm tháng chờ đợi, những câu hỏi không lời giải và những cơ hội đoàn tụ bị thời gian lấy đi.
   Nếu Vạn mang bi kịch của một cuộc đời bị chia cắt bởi những lựa chọn khó khăn, thì Hà lại cho thấy một dạng tổn thương khác. Đó là sự va đập giữa đời sống cá nhân với định kiến xã hội. Là một thiếu nữ Công giáo, Hà phải đối diện với những cái nhìn xa lánh, những rào cản trong quan hệ cộng đồng và những bất an trong đời sống tình cảm. Tình yêu của cô cũng không tránh khỏi những mất mát do chiến tranh và hoàn cảnh thời đại. Qua nhân vật này, tác phẩm chạm đến một vấn đề không chỉ thuộc về quá khứ. Đôi khi, điều khiến con người đau đớn nhất không phải những biến cố hữu hình mà là sự phán xét, kỳ thị và cô độc do chính cộng đồng tạo ra. Những tổn thương ấy có thể không để lại dấu vết trên thân thể, nhưng lại hằn sâu trong tâm hồn, ảnh hưởng đến cách con người nhìn nhận bản thân và tìm kiếm hạnh phúc.
     Điều đáng trân trọng là Lê Hồng Nguyên không vội vàng phân định đúng sai đối với những lựa chọn của nhân vật. Nhà văn dường như muốn lắng nghe nhiều hơn là phán xét, muốn đi sâu vào những giằng co bên trong mỗi con người hơn là chỉ nhìn nhận họ qua kết quả của hành động. Vạn, Hà và những người phụ nữ khác trong tác phẩm đều có những hoàn cảnh, tính cách và lựa chọn riêng. Họ có thể mạnh mẽ, quyết liệt, đôi khi có những quyết định gây tranh luận, nhưng phía sau mỗi hành động là một đời sống nội tâm phức tạp, là khát vọng được yêu thương và được sống cuộc đời của chính mình.
    Ở phương diện này, Gió chiều Hoàng Đạo đem đến một cách nhìn đáng chú ý về người phụ nữ Việt Nam. Họ hiện diện trong vai trò người mẹ, người vợ hay người giữ gìn nếp nhà. Họ là những cá nhân có ý thức về tình yêu, hạnh phúc, niềm tin và quyền lựa chọn. Họ với vẻ ngoài bình dị, có phần truyền thống nhưng không đồng nghĩa với sự cam chịu hay thụ động. Trong những thời khắc quan trọng, họ bộc lộ nội lực, bản lĩnh và khả năng vượt qua những ranh giới mà hoàn cảnh và định kiến đặt ra.
    Nhà văn không lý tưởng hóa những người phụ nữ ấy nhưng dành cho họ một cái nhìn cảm thông, trân trọng, qua đó khẳng định phẩm giá và sức sống của con người trong nghịch cảnh.
 
Đức tin và hành trình tìm kiếm sự bình an
    Một phương diện khác góp phần tạo nên chiều sâu tinh thần của tiểu thuyết là sự hiện diện của đời sống tôn giáo. Không gian Công giáo với tiếng chuông nhà thờ, lời cầu nguyện, những sinh hoạt tín ngưỡng bình dị cùng những biểu hiện của Phật giáo đã tạo nên một thế giới tâm linh đa dạng. Ở đó, đức tin không phải vấn đề chỉ được bàn luận bằng giáo lý hay những triết thuyết cao siêu mà hiện diện trong cách con người đối diện với đau khổ, tìm kiếm sự bình an và nương tựa khi cuộc đời trở nên quá sức chịu đựng. Điều đáng chú ý là tác phẩm không nhìn tôn giáo theo một chiều đơn giản. Đức tin có thể là điểm tựa tinh thần, giúp con người vượt qua những mất mát và giữ gìn sự thanh thản trong tâm hồn. Nhưng trong những hoàn cảnh nhất định, sự khác biệt về niềm tin cũng có thể trở thành nguyên nhân của định kiến, bất hòa và bi kịch.
    Bởi vậy, hành trình tìm kiếm sự cứu rỗi của một số nhân vật vừa là câu chuyện lựa chọn tôn giáo, vừa là hành trình tìm kiếm sự bình an nội tâm. Qua sự hiện diện song hành của Công giáo và Phật giáo, nhà văn gợi mở một tinh thần bao dung. Rằng điều quan trọng không phải con người thuộc về tôn giáo nào mà là niềm tin ấy có giúp họ sống nhân ái hơn, biết yêu thương và tìm thấy sự an ổn trong tâm hồn hay không.
    Có lẽ, giữa những biến động khó lường của cuộc đời, con người cần một điểm tựa tinh thần để không bị cuốn trôi bởi tuyệt vọng. Và khi những ranh giới về tín ngưỡng, xuất thân hay hoàn cảnh được nhìn bằng lòng bao dung, tình người có thể trở thành chiếc cầu nối những khác biệt.
 
Ký ức - nơi lưu giữ những gì thời gian không thể trả lại
    Nếu chỉ nhìn Gió chiều Hoàng Đạo như một tiểu thuyết về lịch sử, gia đình, tôn giáo hay thân phận phụ nữ thì vẫn chưa thể nhận diện đầy đủ mạch cảm xúc sâu xa của tác phẩm. Có lẽ, điều kết nối những câu chuyện tưởng như riêng rẽ ấy chính là ký ức và khát vọng trở về.
    Kết cấu hai phần Người ở lại và Người ra đi tạo nên một thế đối sánh giàu ý nghĩa. Hai nhóm nhân vật sống trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều mang trong mình một nỗi ám ảnh chung: sự chia lìa và những gì còn lại sau chia lìa.
    Người ở lại sống giữa những dấu tích quen thuộc, nhưng mỗi cảnh vật có thể trở thành một lời nhắc về người đã khuất xa. Người ra đi bước vào cuộc sống mới, phải thích nghi với môi trường mới, xây dựng những mối quan hệ mới, nhưng quê hương vẫn âm thầm tồn tại trong tâm trí. Đặc biệt, khi tuổi già đến gần, những ký ức tưởng đã lùi sâu vào quá khứ lại có thể trở nên rõ nét, da diết hơn bao giờ hết.
Ở đây, nỗi nhớ không chỉ là trạng thái tâm lý mà còn là một cách con người duy trì mối liên hệ với nguồn cội. Khi một ngôi làng không còn, khi những ngôi nhà cũ và bến đò xưa đã chìm vào biến động của thời gian, ký ức trở thành nơi lưu giữ những gì không thể tìm lại bằng những chuyến đi thông thường.
    Con người có thể rời khỏi quê hương, nhưng quê hương không dễ dàng rời khỏi con người. Nó tồn tại trong tiếng gọi của người thân, trong hình bóng một mái nhà, trong dòng sông, bến nước và những sinh hoạt đã gắn bó với tuổi thơ, tuổi trẻ.
    Chính vì vậy, sự trở về trong tiểu thuyết (theo tôi), không nên chỉ được hiểu theo nghĩa địa lý. Đó còn là sự trở về với gia đình, với những mối quan hệ từng bị đứt gãy, với những tình cảm tưởng đã ngủ yên và với chính bản thân mình sau một hành trình dài của cuộc đời. Nhưng trở về cũng không có nghĩa là mọi mất mát đều được bù đắp. Có những cuộc gặp gỡ diễn ra khi thời gian đã lấy đi tuổi trẻ; có những người chỉ còn có thể tìm lại nhau trong ký ức. Sự muộn màng ấy tạo nên chất buồn thấm thía của tác phẩm, đồng thời khiến khát vọng đoàn tụ trở nên đáng quý hơn.
 
Những hình ảnh nghệ thuật mang theo hồn vía một miền quê
     Từ mạch cảm xúc ấy, nhan đề Gió chiều Hoàng Đạo mang một sức gợi đặc biệt. Ngay từ đầu tiểu thuyết, tác giả đã cho ta biết: “Ở làng Hoàng Đạo, những câu chuyện buồn thường vào một buổi chiều có gió. Bi kịch của những số phận cũng bắt đầu từ đó”. Gió là chuyển động không ngừng của tự nhiên, nhưng trong cảm nhận văn chương, gió còn có thể là sự vận động của thời gian, là dấu hiệu của những đổi thay và là phương tiện đánh thức ký ức. Còn buổi chiều thường gợi cảm giác lắng lại, thời điểm con người ngoái nhìn những gì đã qua và nhận ra sự hữu hạn của đời sống.
    Đặt trong không gian Hoàng Đạo, hình ảnh gió chiều gợi lên một miền quê vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Một nơi chốn có thể không còn nguyên vẹn trong hiện tại nhưng vẫn sống trong tâm thức những người từng gắn bó với nó.
Bên cạnh hình ảnh gió chiều, dòng sông, bến đò, ngôi nhà cũ và tiếng chuông nhà thờ cũng góp phần tạo nên chất trữ tình, hoài niệm cho tác phẩm. Những hình ảnh ấy không chỉ có chức năng miêu tả không gian mà còn gắn với những cuộc đời, những cuộc gặp gỡ và chia lìa. Chúng như những chứng nhân lặng lẽ của thời gian, giúp câu chuyện về một gia đình vượt ra khỏi phạm vi một gia đình để trở thành câu chuyện về một cộng đồng và một miền ký ức.
    Có thể nhận thấy, Lê Hồng Nguyên đã lựa chọn một cách kể có sự kết hợp giữa chất hiện thực và chất trữ tình. Những biến động xã hội, những xung đột trong đời sống cộng đồng và những bi kịch gia đình tạo nên sức nặng hiện thực cho câu chuyện. Trong khi đó, những đoạn văn giàu cảm xúc, những suy tư về thời gian, quê hương và thân phận lại đem đến chiều sâu lắng đọng. Sự kết hợp ấy giúp tác phẩm tránh được cả hai cực: không khô cứng trong việc tái hiện lịch sử, cũng không chìm vào hoài niệm thuần túy mà thiếu đi sức nặng của đời sống.
 
Một cuốn tiểu thuyết buồn nhưng không tuyệt vọng
    Đọc Gió chiều Hoàng Đạo, có thể nhận ra một điều, rằng lịch sử không chỉ để lại những dấu mốc trong sách vở mà còn để lại những khoảng trống trong mỗi gia đình, những vết thương trong tâm hồn và những câu hỏi không dễ tìm được lời giải. Mỗi người đều có một phần lịch sử của riêng mình, được tạo nên bởi nơi chốn đã sinh ra, những người đã gặp, những điều đã yêu thương và những mất mát đã trải qua.
    Khi những câu chuyện riêng tư được kể lại bằng sự thấu hiểu và lòng nhân hậu, chúng không còn là ký ức của một cá nhân mà có thể trở thành ký ức chung của nhiều thế hệ.
    Với Gió chiều Hoàng Đạo, Lê Hồng Nguyên đã dành sự quan tâm đặc biệt cho những con người bình thường, những số phận không làm nên những biến cố lớn nhưng lại phải gánh chịu những hệ lụy sâu sắc của lịch sử. Tác phẩm vì thế không chỉ là câu chuyện về một ngôi làng, một gia đình hay những cuộc chia ly kéo dài nhiều thập niên. Đó còn là lời nhắc nhở về giá trị của cội nguồn, tình thân, lòng bao dung và quyền được lựa chọn hạnh phúc của mỗi con người.
    Có những điều thời gian có thể cuốn trôi, nhưng cũng có những điều càng đi qua năm tháng càng trở nên sâu đậm. Một ngôi làng có thể biến mất, một bến sông có thể không còn, những con người từng gắn bó có thể không bao giờ gặp lại. Nhưng nếu vẫn còn người nhớ, những gì đã qua chưa hoàn toàn mất đi. Ý nghĩa đẹp đẽ nhất mà Gió chiều Hoàng Đạo gửi đến người đọc nằm ở chính niềm tin ấy. Con người có thể đi qua nhiều biến động, chịu đựng nhiều mất mát, nhưng tình yêu thương và ký ức về cội nguồn vẫn có khả năng níu giữ họ, giúp họ không đánh mất phần sâu thẳm nhất của mình.
 
    Trở lại với cuộc gặp gỡ bên Hồ Gươm hôm ấy, tôi vẫn nhớ hình ảnh Lê Hồng Nguyên hai lần nghẹn ngào khi kể về những nhân vật của mình. Lúc ấy, tôi chưa biết hết những gì đang chờ đợi mình trong hơn hai trăm trang sách. Nhưng sau khi đọc tác phẩm, tôi hiểu thêm rằng những giọt nước mắt ấy không chỉ dành cho một nhân vật hay một số phận riêng lẻ. Có lẽ, đó còn là sự day dứt của người viết trước những mất mát mà thời gian không thể bù đắp, trước những cuộc đời đã đi qua bao biến động mà vẫn khát khao được yêu thương, được trở về.
    Một tác phẩm văn học có thể được bắt đầu từ trí tưởng tượng của nhà văn, nhưng để chạm đến trái tim người đọc, nó cần một tình yêu thương chân thành đối với con người. Ở phương diện ấy, Gió chiều Hoàng Đạo đã để lại trong tôi một ấn tượng đẹp. Tôi gặp Lê Hồng Nguyên trước khi thực sự bước vào thế giới nghệ thuật của chị và rồi từ những trang sách, tôi hiểu hơn tấm lòng của người phụ nữ đã dành nhiều yêu thương cho những phận người mình viết.
    Gió chiều vẫn thổi qua Hoàng Đạo, qua những mái nhà đã khuất bóng, qua dòng sông mang theo bao biến thiên của thời cuộc và qua tâm trí những người còn nhớ. Ngọn gió ấy mang theo nỗi buồn của một miền quê đã mất và mang theo sức sống bền bỉ của ký ức, của tình người và khát vọng trở về. Đó cũng là điều khiến người đọc muốn khép lại cuốn sách mà vẫn còn muốn nghĩ thêm về nó. Rằng những gì được viết bằng lòng trắc ẩn sẽ không dễ dàng kết thúc khi trang sách cuối cùng khép lại./.
                                                                     
                                                                      Tháng 11/2026
                                                                          H.K.N
 
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 19
Trong ngày: 718
Trong tuần: 979
Lượt truy cập: 1283976
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông