Phạm Thị Hồng Thu
TRẠNG HIỀN
Ở vùng Nam Định, thời Trần
Vào chùa, chú bé đã dần làm quen.
Tiểu Hiền quét dọn, nhang đèn
Xong xuôi công việc, sư rèn chữ cho.
Một học mười biết, chẳng lo
Không lâu tiếng đã nổi to - thần đồng.
Một hôm nghịch viết mấy dòng
Đày ba vạn dặm, lưng ông tượng chùa.
Đêm, sư vào giấc say sưa
Mộng Thần Tôn giả đang đưa tay chào.
Sư phân vân, sáng xem sao
Sau lưng tượng Phật, đứa nào viết đây.
Ngờ Hiền viết, bắt rửa ngay.
Đêm mơ Tôn giả tỏ bày cảm ơn.
Mọi người đoán Hiền sẽ hơn,
Năm mười hai tuổi lớn khôn, nên Hiền
Đi thi đỗ Trạng Nguyên liền.
Thấy Hiền loắt choắt, vua bèn hỏi nhanh:
- Thầy nào đã dạy học hành?
- Không ai dạy cả, tôi đành tự lo
Nhờ sư chỉ chữ khó cho.
Vua nghe đáp thế, phán: - Chờ ba năm
Tu rèn lễ nghĩa thật chăm,
Bé càng phải học, nước Nam mới bền.
Nhà Nguyên muốn thử trình lên
Quốc thư chữ Hán*, lo phiền khó thay.
Vua sai mời Trạng đến đây.
Quan về thấy trẻ đùa ngay đầu làng.
Quan ra đố, thử tìm chàng:
- Tự là chữ, nếu cắt giằng đầu đi
Tử là con, đúng còn gì.
- Vu - chân, nếu cắt lưng đi sẽ là
Đinh** - đứa, chính đứa này mà.
Đáp xong Hiền chạy về nhà một hơi.
Thấy Hiền đun bếp, đố chơi:
- Quân tử ở chỗ xa xôi lại thành
Nịnh ông bếp, vậy sao đành.
- Vốn ngôi khanh tướng, nêm canh tạm thời***.
Quan chắc là Trạng mừng, cười,
Đưa cho chiếu chỉ vua vời về ngay.
Thấy không đúng ý, tỏ bày:
- Cho về nhà học điều hay, được rồi
Vua cần, Hiền sẵn sàng thôi.
Nhưng không biết phép sao người bắt ta?
Vua cho võng lọng, kiệu ra.
Giữa sân, Hiền lấy than hoa viết liền
Chữ “điền” to tướng, vua khen.
Quá tài giỏi, sứ thua bèn rút lui.
Được vua ban thưởng Hiền vui,
Thượng thư nhận chức, tới lui luận bàn.
Hiền tài giúp nước vẻ vang,
Nhân tài trọng dụng, nước càng hiển vinh.
2022
*Trong Quốc thư có bốn câu thơ chữ Hán: Lưỡng nhật bình đầu nhật/ Tứ sơn điên đảo sơn/ Lưỡng vương tranh nhất quốc/ Tứ khẩu tung hoành gian. Có nghĩa là: Hai mặt trời bằng đầu nhau (đồng thời có nghĩa là có hai chữ nhật)/ Bốn hòn núi nghiêng ngả (tức là có bốn chữ sơn)/ Hai vua tranh một nước (tức là có hai chữ vương)/ Bốn miệng ngang dọc trong khoảng đó (tức là có bốn chữ khẩu).
**Các chữ trong tiếng Hán được viết: Tự = 字, Tử = 子, Vu = 于, Đinh = 丁, Điền = 田.
***Quan ra câu đối: Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo (Tôi nghe người quân tử xa chỗ bếp núc, sao lại nịnh ông bếp). Hiền đối lại: Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh (Ta vốn ở ngôi khanh tướng nhưng nay tạm nêm canh).
EM BÉ THÔNG MINH
Xưa vua quý trọng người tài,
Sai quan đi khắp trong ngoài dò la.
Quan đi suốt dặm đường xa
Oái oăm câu đố, chưa ra nhân tài.
Thấy cha con nọ miệt mài,
Hỏi ngay: - Ngày mấy đường cày vậy anh?
Cha run, con trả lời nhanh:
- Ngựa ngày mấy bước, xin quan bảo cùng?
Quan ưng về báo, vua mừng.
Vua xem có thực tài dùng được không?
Ban ba thúng gạo nếp ngon
Ba trâu đực đẻ chín con. Mang về
Cả làng rầu rĩ não nề
Trâu đực sao đẻ, bộn bề lo âu.
Bé cười: - Cha bảo làng mau
Nấu ăn hai nếp, hai trâu đàng hoàng,
Còn xin lộ phí lên đàng.
Lính canh sơ ý, vội vàng lẻn vô,
Giữa sân rồng, bé khóc to,
Vua nghe tiếng, thấy lạ cho mời vào.
- Mẹ mất, chẳng có em nào.
- Giống đực không đẻ, làm sao mà đòi.
- Bẩm vua, trâu đực ban rồi.
Vua cười: - Ta thưởng làng người ăn chưa?
- Làng con ơn lộc của vua.
Vua còn muốn thử nên đưa bảo làm
Chim sẻ ba cỗ, khó kham.
Đưa kim bé bảo nhờ làm thành dao.
Nhà vua sung sướng biết bao,
Nhân tài đất nước, vua trao thưởng liền.
Sứ thần bên nước làng giềng
Mang vỏ ốc, đố xâu xem người tài.
Triều đình quan, tướng thức dài
Vẫn không giải được, vua sai về làng.
Bé nghe kể, hát: - Tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng
Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang
Tang tình tang, tích tình tang.*
Triều đình sung sướng, sứ thần phục khen.
Vua phong danh hiệu Trạng Nguyên,
Sai xây dinh thự ở bên luận bàn.
Thông minh, tài giỏi trời ban,
Một lòng vì nước, dân càng ghi ơn.
2022
*Câu hát dân gian.