Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

CÔ LỤA

Đỗ Xuân Thu
 
CÔ LỤA
 
          Đang chuẩn bị ra dắt xe để tới trường tôi chợt nghe tiếng người hốt hoảng gọi tôi ở ngoài ngõ: “Trang ơi! Bà…bà Lụa đi rồi!”. Giật mình, suýt buông rơi cái cặp, tôi hỏi lại: “Ai đấy? Ai bảo sao? Bà Lụa làm sao?”. Chưa dứt lời, bà Thủy đã hớt hơ hớt hải chạy đến. Túm lấy tay tôi, giọng bà hụt hơi, đứt quãng: “Bà…bà Lụa…mất…mất rồi!”. Tôi trố mắt không tin ở tai mình. Sững sờ giây lát, tôi hỏi lại lần nữa: “Cô Lụa làm sao? Mất rồi á? Hồi nào?”. Bà Thủy gật đầu xác nhận: “Năm giờ sáng nay. Tao vừa ở đó về”.
          Tôi đứng ngây ra như trời trồng. Sao nhanh như vậy cơ chứ? Tối qua, tôi vừa ở nhà cô Lụa, cô ấy vẫn còn tươi cười nói chuyện với mọi người. Tuy ốm cả tuần nay nhưng nhìn cô có đến nỗi nào đâu? Khi tôi giục cô đi viện, bảo cô lên đó để các bác sĩ khám chữa cho, cô ấy còn bảo: “Mẹ mày yên trí. Cô không sao đâu. Bệnh già mà”. Vậy mà tin dữ sớm nay lại tới là sao? Tưởng ốm xoàng ai ngờ cô lại vội vã ra đi như thế? Đúng là sinh có hạn tử bất kỳ. Đời người chẳng biết thế nào được. Bà Thủy nói tiếp: “Đêm qua, tao ở lại ngủ với bà ấy. Hai chị em còn tâm sự cả đêm. Vậy mà sáng sớm nay, bà ấy dậy đi giải, vấp ngã ở hè. Tao ra vực bà ấy, đưa vào nhà. Không ngờ bà ấy cứ thế lịm đi rồi đi. Hoảng quá, tao kêu toáng lên. Mọi người kéo đến. Mỗi người mỗi việc. Sực nhớ ra mày, tao vội chạy về báo tin. Rõ tội. Bà Lụa ơi là bà Lụa! Sao bà lại bỏ chúng tôi mà đi hả bà?”.
          “Cháu phải sang ngay bên đó xem sao bà ạ”. Tôi vội nói với bà Thủy. “Thế còn việc lên lớp? Mày bỏ dạy à?”. Bà Thủy thôi rền rĩ, hỏi tôi. Lập tức, tôi nhớ ngay đến tình cảnh của mình. Hôm nay, thi học kỳ, không phải dạy, tôi chỉ làm nhiệm vụ coi thi. Vậy là khá thuận lợi cho việc trường bố trí thay người. “Bà nhắc, cháu mới nhớ. Để cháu gọi điện báo cáo hiệu trưởng”. Vừa nói, tôi vừa lấy chiếc Nokia bấm số gọi Lan. Nghe tôi trình bày, Lan đồng ý liền. Lan còn dặn tôi xem giờ giấc viếng đưa cụ thể thế nào cho Lan biết để cô ấy tổ chức đoàn của trường đến viếng. Tuy ít tuổi nhưng việc đối nhân xử thế Lan ứng xử đâu ra đấy. Rất chu đáo, chân tình. Thì thế mới làm hiệu trưởng được chứ. Tố chất lãnh đạo mà lị. Lan lại khá hiểu mối quan hệ của tôi với cô Lụa. Hơn nữa, cô Lụa lại rất có uy tín, cảm tình với dân làng hàng xã. Cho nên, việc cô đột ngột ra đi không chỉ là mất mát đối với riêng tôi mà còn là niềm tiếc thương của bao người trong làng xã nữa.
          Bà Lụa năm nay 78 tuổi, bằng tuổi bà Thủy. Tính theo tuổi ta thì cả hai bà đều đã 79. Bà Lụa không có chồng con nhưng ở cái tuổi ấy làng tôi mọi người vẫn gọi bà là cô. Từ đầu năm tới giờ, dịch Covid hoành hành. Người già, trẻ con, người có bệnh nền đều lo lắm. Tuy thế, bà Thủy vẫn tếu táo nói với cô Lụa: “Cánh già bọn mình có phải 5K không bà?”. Cô Lụa móm mém cười: “Có chứ lị. Bà chớ chủ quan. Càng già con covid nó càng dễ chén đấy”. “Chén thế nào được tôi. Cả bà nữa. Cứ vô tư đi! Ta mà có đi thì cứ phải bằng tuổi Cụ Hồ rồi mới đi bà ạ. À, mà không. Phải trăm tuổi chứ bà”. Nói đoạn, bà cười lớn. “Sức vóc chị em mình thế này, con covid nó nhìn thấy cũng ngán. Toàn xương với xẩu. Chén thế nào được? Bà nhỉ?”. Hai bà đấm nhau thùm thụp rồi ôm nhau cả cười. Vậy mà chỉ một trận cảm cúm, tăng xông cô Lụa của tôi đã ra đi.
          Tôi có mối quan hệ đặc biệt với cô Lụa. Không họ hàng máu mủ gì nhưng tôi coi cô như mẹ. Nếu không có cô Lụa, chắc gì đã có tôi hôm nay? Ngược lại, cô cũng coi tôi như con. Một điều cái Trang, hai điều cái Trang. Lúc tôi còn nhỏ đã đành, khi tôi làm cô giáo, rồi làm mẹ rồi mà cô ấy vẫn gọi tôi là “cái”. Bỗ bã, xởi lởi, thân tình lắm. Có miếng ngon của lạ nào cô cũng để dành phần cho tôi. Thấy cô Lụa và tôi lúc nào cũng ríu rít bên nhau, người ở nơi khác tới cứ nghĩ chúng tôi là mẹ con.
trucchien
          Mẹ tôi cùng thời với cô Lụa. Hồi chống Mỹ, hai người cùng là du kích, cùng ở trong tổ phòng không, gác máy bay trên đỉnh núi Hang Khay. Cả bà Thủy nữa. Mẹ tôi nhiều tuổi nhất, hơn hai bà kia gần hai tuổi. Lý ra vai chị nhưng mẹ tôi bảo cùng trà cùng trật cứ mày tao cho nó trẻ, cho nó vô tư. Được cái, hai bà kia cũng ào ào. Lúc chị chị em em, lúc khác lại mày tao chí tớ, cười hềnh hệch. Các cụ bảo “con chấy cắn đôi”, đằng này họ “cắn ba”, chí cốt lắm. Cái tổ tam tam này nổi tiếng cả xã lúc bấy giờ. “Ba đảm đang”, “ba khoan”, cả ba người đều có cái danh ấy. Dũng cảm, can trường, lạc quan, chịu khó không ai bằng. Bom đạn như thế, ác liệt như thế, thế mà cả ba vẫn bám trụ ở chòi gác trên đỉnh núi.
Hang Khay là ngọn núi cao nhất của xã tôi. Từ đỉnh núi này, có thể quan sát được toàn cảnh trận địa dưới mặt đất, nhìn rõ máy bay và bom trên bầu trời, đồng thời nghe rõ được tiếng kẻng từ các nơi khác truyền vọng tới. Máy bay địch ở xa thì gõ kẻng báo động. Khi chúng đến bổ nhào ném bom thì đếm máy bay, đếm bom. Mọi người xuống hầm tránh trú hết thì họ lại thay phiên nhau, hiên ngang đứng trên nóc hầm quan sát bầu trời. Hết loạt này đến loạt khác. Có loạt bom rơi ngay trên đỉnh núi. Máy bay gầm rú rít gào. Bom nổ đinh tai nhức óc. Đất đá bay vèo vèo. Mặc, họ vẫn thản nhiên đứng. Có trận ác liệt quá, vừa dứt tiếng bom, ông Thạc xã đội đã vội leo lên núi kiểm tra. Vừa leo, ông vừa gọi tên các cô gái. Ông sợ có cô nào đó hy sinh. Leo đến lưng chừng núi thì tiếng kẻng báo yên từ trên trạm gác dõng dạc vang lên. Chống gối dừng lại, ông vừa thở vừa cười. Miệng ông lẩm bẩm: “Cha bố các cô. Làm tao hết cả hồn!”. Lúc lên tới trạm gác, nhìn thấy ba cô gái mặt mũi, quần áo lấm lem, nhem nhuốc ông xót lắm. Vòng lá ngụy trang xộc xệch. Bụi đất, khói bom bám cả vào người họ. Ông gọi to tên từng người. Ba cô gái nghe thấy vội chạy lại ôm chầm lấy ông. Vậy mà khi ông vừa nhắc đến thay trực thì cả ba cùng giãy nảy. “Không. Chúng em không cần thay quân đâu. Cứ để chúng em trên này, chúng em quen rồi!”.
Ba cô gái “ba khoan”, “khoan yêu, khoan cưới, khoan đẻ”, cuối cùng còn lại mỗi cô Thủy là “khoan” được. Mẹ tôi lấy bố tôi trước khi có phong trào “ba khoan”, nay thực hiện “khoan đẻ”, nghĩa là chỉ cần “hai khoan” thôi, không tính đã đành, đằng này cô Lụa kiên trung như thế cũng “xé rào” mới lạ chứ. Số là, cô đột ngột đồng ý cho nhà người yêu, tức bên chú Tân đặt cơi trầu ăn hỏi. Điều đó có nghĩa là “khoan lấy chồng” của cô đã không thực hiện được. Chi đoàn kiểm điểm. Tổ tam tam góp ý. Cô cự nự: “Các đồng chí cũng phải tùy cơ ứng biến chứ. Giá bảo anh Tân ở nhà thì kiểm điểm sao tôi cũng nhận. Đằng này, anh ấy nhập ngũ, mai ra chiến trường rồi. Tôi đồng ý làm vợ, cho anh ấy và gia đình bên đó làm lễ ăn hỏi nghĩa là tôi nguyện làm hậu phương vững chắc cho anh ấy chiến đấu ngoài mặt trận. Mặc dù anh Tân cũng không muốn đâu. Anh sợ lỡ anh có chi sao thì tôi khổ cả đời. Nhưng gia đình hai bên lại muốn. Và tôi cũng muốn. Vì tôi thương, tôi yêu anh ấy. Thế thôi. Như thế chả tốt hơn ư?”. Vân vân và vân vân… Cuối cùng mọi người trong chi đoàn đều chấp nhận xí xóa án kỷ luật cho cô Lụa. Không chừng dập khuôn máy móc làm căng quá sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng đồng chí Tân. Lợi bất cập hại ấy chứ. 
Ăn hỏi cô Lụa xong, chú Tân lên đường nhập ngũ. Chú đi một lèo đến tận giờ vẫn chưa về. Không ai có tin tức gì của chú cả. Người ta chỉ biết huấn luyện tân binh xong, chú hành quân một mạch vào Nam chiến đấu. Trước thì ở Khe Sanh, Quảng Trị, sau đâu sang Lào, rồi bặt tin từ đó. Giải phóng miền Nam xong, trừ những người đã báo tử, một số quân nhân người làng lần lượt trở về. Có người là thương binh. Có người là bệnh binh. Rất ít người lành lặn. Một số khác còn lại trong quân ngũ thì đều đã là sĩ quan. Nói chung, ai cũng có tin tức. Riêng chú Tân thì không. Cô Lụa và gia đình đôn đáo chạy hỏi khắp nơi. Chính cô Lụa đã không dưới mươi lần vào Nam dò tìm tin tức của chồng. Tìm đến đơn vị cũ gần đây nhất của chú Tân thì đơn vị đã giải thể, xóa phiên hiệu. Tìm đến đồng đội của chú thì người nhớ người quên, mỗi người chỉ một kiểu. Ai chỉ đâu, cô tìm đến đó. Nhiều khi tưởng như sắp thấy rồi thì lại bất ngờ đi vào ngõ cụt. Chẳng biết đâu mà lần. Chú được đưa vào diện quân nhân mất tích trong chiến tranh. Mãi tới gần đây, cơ quan chính sách xác minh, thẩm tra kỹ lưỡng người ta mới công nhận cho chú là liệt sĩ. Và cô Lụa thì vẫn ở vậy, chẳng chịu đi lấy chồng. Cô cũng chẳng phải là vợ liệt sĩ, vì cô chú đã có đăng ký kết hôn gì đâu? Nhiều người đánh tiếng muốn hỏi cô làm vợ. Toàn những người đẹp trai, giỏi giang. Về sau thì các ông thành đạt góa vợ. Ai đến cô cũng lắc đầu. Họ hàng gia đình chú Tân cũng động viên cô đi bước nữa. Tuy nhiên, cô vẫn nhất mực khăng khăng ở vậy. “Miếng trầu là dâu là người”. Cô thực hiện đúng lời dạy của các cụ ngày xưa. Nhưng trên hết và trước hết, mọi người đều hiểu rằng đó là lòng thủy chung vô hạn của cô với chú Tân. Khi chú Tân chưa được công nhận là liệt sĩ đã đành, đành này sau đó, cô Lụa cũng vẫn vậy, chỉ một mực thờ chú Tân. Dưới bóng cây đa giữa làng, trong cái quán của cô, trên ban thờ, tấm hình chú Tân lúc nào cũng sáng rỡ. Ngày rằm hay mùng một hàng tháng, cứ tuần nào tiết ấy, ảnh chú Tân lại nhập nhòa trong hương khói. Cô Lụa còng lưng chắp hai tay đứng bất động trước ban thờ. Đôi mắt cô chăm chăm nhìn ảnh chú Tân. Khi tôi dẫn học sinh đến giúp đỡ các gia đình chính sách trong các dịp lễ Tết, nhất là ngày thương binh liệt sỹ, thấy cảnh này cả tôi và các em học sinh đã không khỏi nghẹn ngào xúc động. Thương lắm cô Lụa ơi!
Mẹ tôi kể, chú Tân nhập ngũ được mấy tháng thì bố tôi cũng lên đường. Tiếp sau cô Lụa, mẹ tôi cũng “xé rào”. Vụ “xé rào ba khoan” ấy đã cho tôi có mặt trên cõi đời này. Chiến tranh lúc đó căng lắm. Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thanh niên nô nức lên đường. Bố tôi cũng xung phong ra trận. Trước tháng nhập ngũ, bố mẹ tôi không “khoan đẻ” nữa. Hai người quyết sinh con “nối dõi tông đường”. Mẹ tôi tẩm bổ cho bố tôi. Ông bà nội tôi cũng ngầm hỗ trợ mẹ tôi. Khi bố tôi cầm quyết định nhập ngũ thì cũng là lúc mẹ báo tin vui cho bố. Bố tôi khoe luôn với ông bà nội. Cả nhà mừng như bắt được vàng. Ba tháng sau, chi đoàn lúc đó mới biết mẹ tôi đã mang thai. Cũng kiểm điểm gọi là. Cũng rút kinh nghiệm như thật. Tổ tam tam thì ngược lại. Cô Lụa, cô Thủy quá đỗi vui mừng. Họ giành hết những việc nặng nhọc cho mẹ tôi. Ông Thạc xã đội định thay người khác vào chỗ mẹ tôi trong tổ gác phòng không trên núi. Mẹ tôi dứt khoát không chịu. Cô Lụa và cô Thủy cũng vào hùa cùng mẹ. Họ bảo đã có họ lo rồi, xã đội cứ yên tâm. Đến tháng thứ sáu, bụng mẹ tôi vượt lên. Lúc đó, cả cô Lụa, cô Thủy và mẹ tôi mới chịu để ông Thạc thay người.
Không được lên trạm gác phòng không nữa, mẹ tôi xung phong đảm nhận các việc của B dân quân, của chi đoàn. Mẹ được biên chế sang tổ khoa học kỹ thuật của hợp tác xã. Chăm sóc bèo hoa dâu, phụ trách lò thúc mầm, rồi thư ký đội sản xuất. Một hôm, máy bay Mỹ đến oanh tạc. Chẳng như mọi ngày chúng quần đảo, thả bom một lúc rồi đi. Hôm đó, chúng quay đi quẩn lại liên tục. Suốt từ sáng sớm tới tận trưa trật trưa chiều chúng vẫn gầm rú trên trời. Hôm đó, mẹ tôi đi cắt phân xanh dưới chân núi Hang Khay. Đang trú trong hầm thì mẹ trở dạ. Bên ngoài bom rơi đạn nổ mù trời. Lúc đó chỉ có cô Thảo bên mẹ tôi. Cô này vừa học xong lớp bảy, lóng nga lóng ngóng chẳng biết gì. Xung quanh chẳng có ai. Bí quá, cô ấy ngóng lên đỉnh núi kêu to: “Cấp cứu! Có người cấp cứu! Chị Lụa, chị Thủy ơi!”. Cũng may, lúc này lũ máy bay vòng ra xa chuẩn bị cắt loạt bom mới nên tổ phòng không đã nghe thấy tiếng gọi của cô Thảo. Tiếng í ới vừa dứt thì lũ máy bay quay lại. Cô Lụa đội bom cuộn mình lăn từ trên đỉnh núi xuống đúng căn hầm của mẹ tôi. Mẹ tôi vật vã, bấu vào vai cô Lụa, lấy hết sức rặn. Thế là tôi tọt ra, cất tiếng khóc oa oa chào đời. Tiếng khóc của tôi hòa cùng tiếng bom nổ, đạn bắn xung quanh và tiếng cười ròn rã của cô Lụa, cô Thảo trong hầm. “Cha bố chị. Chọn đúng lúc này để chui ra. Sau này chắc ghê gớm lắm đây”. Nâng tôi trên đôi tay, cô Lụa nhìn tôi mắng yêu. Cô trở thành bà đỡ bất đắc dĩ cho tôi. Mẹ tôi cũng mỉm cười mãn nguyện. Chẳng ai để ý đến chiến sự vẫn còn đang ác liệt ở bên ngoài. 
Ông bà nội tôi vui lắm. Tuy tôi không là người “nối dõi tông đường” nhưng hai cụ vẫn vui mừng khôn xiết. Con nào chả là con. Cháu gái tôi bụ bẫm, kháu khỉnh thế này cơ mà. Cục vàng cục bạc của bà. Bố cháu ngoài mặt trận chắc sướng lắm đây. Ngoan với ông bà, hay ăn chóng lớn cháu nhé. Bà nội tôi ôm tôi cưng nựng. Cô Lụa, cô Thủy ngày nào cũng qua bế hãm tôi. Tôi lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người.
Đất nước thống nhất. Cô Thủy lấy chồng. Chồng cô là thương binh. Cô Lụa thì vẫn mỏi mòn chờ tin chú Tân. Tổ tam tam của mẹ vẫn gắn bó, khăng khít như ngày nào. Bố tôi phục viên, về công tác ở xã. Rồi tôi có em trai. Niềm vui trong gia đình tôi nhân lên gấp bội. Cu Huy kém tôi tám tuổi. Tôi gánh trọng trách chị cả có nhiệm vụ che chở, bảo vệ nó. Khi này, cô Lụa đã được gia đình làm cho cái lán nhỏ ngay cạnh gốc đa ngã ba giữa làng. Bố mẹ hai bên của cô gợi ý cho cô mở quán bán nước. Xã cũng tạo điều kiện cho cô. Mọi người đều cho thế là phải. Thực ra, cả bố mẹ cô và bố mẹ chú Tân đều muốn cô Lụa ra đó cho cô tự do, gặp đám nào hay hay thì xe tơ kết tóc. Tơ tóc chả thấy đâu chỉ thấy tổ tam tam của mẹ tôi tụ tập tán gẫu lúc nhàn rỗi. Và quán ấy cũng là chỗ tôi hay bế cu Huy đến chơi. Cứ trông thấy chị em tôi là cô Lụa lại giành phần bế nó. Tôi vừa không phải bế em vừa tha hồ được rảnh rang chơi chuyền, đánh chắt với lũ bạn.
Một hôm, mải đuổi theo quả bóng thì bất ngờ tôi bị ai đó ôm vật ở phía sau. Xây xẩm mặt mày, lúc choàng tỉnh tôi thấy mình nằm gọn trong vòng tay của ai đó. Hoảng hốt, tôi nhoai ra. Ngay trên đầu tôi, một chiếc ô-tô lù lù đứng. Tiếng người lái xe mở cửa ca-bin bước xuống. Tôi nghển cố nhìn anh ta và người ôm mình. Cô Lụa? Trời ơi, cô Lụa! Chân cô ngay trước bánh ô-tô kìa! Mọi người xi xao xúm xít đến. Thì ra, tôi mải theo quả bóng bay bay qua đường mà không biết đến chiếc ô-tô này đang chạy tới. Vừa đặt cu Huy ngủ xong, cô Lụa quay ra thấy thế vội lao tới. Cô ôm tôi lăn vào vệ đường. Chiếc xe phanh kít nhưng vẫn va vào cô Lụa, đẩy cô và tôi ngã xuống. Cô bị xây xát khắp người. May mà không gãy chân, què tay, vỡ xương ở chỗ nào. Hú vía. Thế là tôi mang ơn cứu mạng của cô Lụa.
Một biến cố đến với gia đình tôi và tôi. Nhà tôi đang yên ấm hạnh phúc vậy thì mẹ bỏ chúng tôi đi vì căn bệnh ung thư quái ác. Năm đó, mẹ chưa đầy bốn mươi tuổi, còn tôi thì vừa mới mười hai. Bố tôi già sọp hẳn đi trong cảnh gà trống nuôi con. Hai chị em tôi ngơ ngác như gà con mất mẹ. Ngày nào cô Thủy, cô Lụa cũng qua hỏi han, chăm sóc chị em tôi, động viên bố tôi. Nhà cô Lụa gần hơn, cô lại rỗi rãi hơn cô Thủy nên có điều kiện gần gũi chị em tôi hơn. Nhiều hôm, nửa buổi cô vẫn chưa mở quán vì còn bận ở nhà tôi, lo cho bố con tôi. Mọi người gán ghép cô với bố tôi. Có người khuyên hẳn là nên thế. Thực lòng, tôi cũng muốn thế. Vậy mà cả bố tôi và cô Lụa vẫn chẳng ý kiến gì. Nhắc đến chuyện này thì họ chỉ cười rồi cùng tếu táo át đi. Có khi họ còn cố né tránh, chẳng bắt nhời. Mãi sau này, khi có chồng con rồi tôi mới hiểu. Cô Lụa thì nặng lòng với chú Tân. Bố tôi thì nặng lòng với mẹ tôi. Cả hai đều chung thủy với người mình yêu. Họ chỉ coi nhau như anh em, như hai người bạn tốt, không bao giờ vượt quá giới hạn. Tôi càng yêu thương quý trọng họ nhiều hơn. 
Cánh đồng dưới chân núi Hang Khay là cánh đồng trũng của làng tôi. Mùa lũ nước ngập trắng đồng. Phải đợi sau rằm tháng bảy mọi người mới dám cấy. Quê tôi gọi là cấy “sau mặt phục”. Toàn giống lúa cũ. Bao thai, Mộc tuyền…năng xuất thấp lắm. Vụ mùa thì bấp bênh. Vụ chiêm cũng chẳng khá hơn gì. Cứ đến tiết “tiểu mãn” thì cả làng lo ngay ngáy. Lúa đang đỏ đuôi, mưa đầu mùa, nước các nơi dồn về ngâm cho vài ngày thì trắng tay. Năm nào cũng vậy. Thế nên, mọi người thường nhắc nhau vụ chiêm “xanh nhà hơn  già đồng”, lúa đỏ đuôi là gặt. Gặt chạy nước. Gặt tranh nhau với giời.
Nhớ năm đó, khi tôi mười ba tuổi, nước tiểu mãn về. Qua một đêm mưa, sáng ra cánh đồng trắng nước. Lá lúa thấp thoi, chới với. Bông lúa lập lờ chìm nghỉm. Có chỗ không thấy gì nữa cả. Cả làng nháo nhào í ới gọi nhau đi mò vớt lúa. Tôi phải nghỉ buổi học để đi phụ với bố. Khoán quản, ruộng chia cho từng nhà rồi, không gặt chạy thì mất hết. Ba tháng trông cây không bằng một ngày hái quả. Thế mà nước ngập thế này, quả không thấy đâu, không nhanh tay mò vớt thì có họa mà chết đói. Cô Lụa cũng đóng cửa quán đi mò lúa giúp nhà bác Lân, anh trai của cô. Hai bố con tôi lóp ngóp giữa cánh đồng mênh mông. Nước ngập đến ngực tôi. Bố tôi lội kéo theo một chiếc thuyền nhỏ. Có nhà dùng cả ghênh (chảo lớn) làm thuyền. Chúng tôi quơ liềm mò vớt lúa. Được nắm lúa nào thì vứt lên thuyền.
Đỉa! Sao lại nhiều đỉa đến thế? Không biết ở đâu ra mà chúng thi nhau loi ngoi, bu bám vào bố con tôi. Mặc dù xà cạp, quần áo quấn kín người, lại cả vôi bột trộn ớt làm bả nữa. Vậy mà chúng không hề sợ. Cứ bả bôi vào con này xong thì con kia lại tới. Có con dứt mãi, day mãi không chịu rời. Đúng là dai như đỉa đói. Chúng thi nhau ngo ngoe lao vào tôi. Nhiều vô kể. Máu! Trời ơi! Máu loang ra nhuộm hồng cả một vùng nước quanh chỗ tôi đứng. Không biết máu đỉa hay là máu tôi? Hoảng quá, tôi bỏ bố, bỏ thuyền lóp ngóp chạy vào bờ. Bố tôi nhìn theo ái ngại: “Con về đi. Một mình bố gặt cũng được!”. Trên người tôi nhung nhúc những đỉa. Có chỗ bốn, năm con cuộn nhau, bám vào áo quần tôi lủng lẳng. Tôi tái mặt mếu máo. Biết đâu, có con nào chui vào chỗ kín của tôi thì chết. Nghĩ tới đó, tôi giãy nảy, khóc to hơn. Bố tôi quát: “Về đi! Đừng làm bố rối thêm!”.
Từ thửa ruộng cách đó không xa, thấy tôi kêu thét vậy, cô Lụa bì bõm chạy sang. Tôi ôm ríu lấy người cô chỉ vào lũ đỉa. Lấy liềm và que bả, cô vừa cạo vừa dí bả vào từng con đỉa trên người tôi. Cô dắt tôi lên bờ cao, tới bụi rậm. Máu vẫn ri rỉ chảy xuống hai chân tôi. Tôi run rẩy: “Cô ơi! Hay đỉa nó chui vào…vào cháu rồi?”. “Bình tĩnh. Vạch ra cho cô xem”. Tôi làm theo chỉ dẫn của cô. Không có con đỉa nào bấu vào chân, bụng tôi cả. Xà cạp, quần áo túm chặt kín thế chúng làm sao mà chui vào được? Vậy mà máu vẫn chảy ra ở đâu? Chợt cô nhìn thẳng vào mặt tôi hỏi nhỏ: “Cháu bị rồi phải không?”. Tôi ngơ ngác: “Bị gì hả cô?”. “Đến tháng í”. “Nghĩa là sao?”. Tôi vẫn ngớ ngẩn hỏi lại. “Là hành kinh phụ nữ chứ làm sao nữa?”. Tôi lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Đoạn, cô Lụa nói dứt khoát: “Đúng rồi! Cháu là thiếu nữ rồi! Đến tháng rồi! Thế nên lũ đỉa đói nó mới quây vào đấy. Thôi! Về đi! Không gặt được nữa đâu. Để cô sang giúp bố cháu”.
Mặt tôi đỏ rần. Vậy là tôi đã lớn rồi ư? Mẹ ơi! Phải làm sao bây giờ? Cô Lụa nói to về bên ruộng bác Lân: “Anh chị gặt nha. Em sang hộ giúp bố con nhà bác Hải. Cái Trang bé quá, nó đau bụng không gặt được”. “Ừ. Cô cứ sang đó đi. Không phải lo cho anh chị đâu”. Tiếng bác Lân đáp lại. Từ lâu, họ vẫn có ý vun vén cô Lụa cho bố tôi. Cô Lụa ào xuống cùng bố tôi vớt lúa cho nhà tôi. Còn tôi thì đứng trên bờ run run nhìn hai người. Trời ơi! Giá cô Lụa là mẹ tôi thì tôi hạnh phúc biết mấy!
Sau buổi đó, cô Lụa thường bên tôi dạy tôi mọi điều về sinh lý người phụ nữ. Mãi sau này, khi lấy chồng, có con rồi tôi vẫn không quên được bài học đầu tiên của cô Lụa về đời người con gái. Cô hướng dẫn tôi dùng xô, rồi sau này là băng vệ sinh trong những ngày ấy. Phải kiêng khem những gì. Phải giữ gìn chỗ đó ra sao. Vân vân và vân vân… Người ta bảo “sểnh cha cậy chú, sểnh mẹ bú dì”. Tôi không có dì, không có cô ruột nào cả. Bù lại, trời đã cho tôi cô Lụa. Cô đúng là người mẹ thứ hai của tôi. Chẳng những tôi chịu ơn cô mà cả bố tôi cũng chịu ơn cô nữa. Cô đã thay mẹ tôi, thay bố tôi dạy những điều thầm kín của phụ nữ cho tôi.
Mặc dù sống độc thân nhưng đám tang cô Lụa đông lắm. Bà Thủy và tôi cùng gia đình bác Lân nén đau thương lo việc tang lễ. Vừa phụ các việc, tôi vừa quanh quẩn bên linh cữu. Tôi xin phép bố tôi và gia đình bác Lân cho tôi được đội khăn tang cô Lụa. Bố tôi đồng ý liền. Tám ba tuổi nhưng cụ khá minh mẫn. Đích thân cụ nói với bác Lân và các cụ bên cô Lụa. Họ cảm động lắm. Tuy không ai nói ra nhưng mọi người trong làng đều thấy tôi với cô Lụa đúng là mẹ con rồi. Các con tôi yêu quý cô như bà ngoại vậy. Ở đời, cốt ở cái nết ăn, nét ở, ở cái tình thực với nhau chứ đâu phải ràng buộc nọ kia. Bố tôi với cô Lụa cũng thế.
Cứ nghĩ cô Lụa đột ngột ra đi thì việc nhà đám sẽ lúng túng, bị động. Vậy mà khi dọn nhà để khâm liệm cho cô ấy mọi người mới ớ ra rằng cô đã chuẩn bị việc này khá chu đáo. Quyển sổ ở dưới gối cô rơi ra một cái phong bì trong đó có tờ di chúc. Ông Lân, bà Thủy và mọi người xúm lại đọc. Cô viết rõ ràng rành mạch, đôi chỗ gạch xóa, viết lại, chứng tỏ cô cân nhắc kỹ lưỡng lắm. Cô dặn dò và nhờ vả họ hàng, dân làng lo việc tang ma cho mình. “Tôi có cuốn sổ tiết kiệm kẹp trong sổ đỏ cất trong ngăn tủ bích-phê. Đây là số tiền tôi tích cóp dành dụm được bấy lâu nay. Toàn bộ số tiền đó nay tôi nhờ mọi người thu xếp sử dụng. Một phần cho việc tang ma. Cố gắng tiết kiệm, đừng bày vẽ làm gì. Phần còn lại, tôi xin ủng hộ quỹ khuyến học của làng. Riêng đất và nhà, tôi hiến tặng xã để xã thôn cải tạo làm nhà văn hóa, khu vui chơi cho các cháu…”.
Đọc những dòng đó không ai là không khỏi ngỡ ngàng. Bà ấy chu đáo, cẩn thận quá. Lo cả việc chết cho mình, không muốn phiền lụy ai. Bà ấy có chế độ gì đâu sao có nhiều tiền thế nhỉ? Những hơn trăm triệu nha. Thì mấy chục năm dành dụm mà lị. Rõ khổ. Giá ngày trước kịp đăng ký kết hôn với ông Tân thì có phải là vợ liệt sĩ không? Thêm tiền tử tuất, tiền chế độ vợ liệt sĩ cũng đỡ tủi. Đằng này thì… Cả đời thờ người ta, cả đời thành quả phụ. Lại còn hiến tặng tất cả cho làng, cho xã nữa chứ. Thôi, để bà ấy đi cho mát mặt, mát lòng.
Dòng người đưa tiễn cô Lụa về nơi an nghỉ cuối cùng khá đông. Lan cùng một số giáo viên và học sinh của trường tôi lặng lẽ đi sau linh cữu cô Lụa. Tôi khóc cạn khô dòng nước mắt. Vậy là cô Lụa sắp gặp mẹ rồi. Mẹ ơi! Cô Lụa đang về bên mẹ đây. Con đưa cô ấy trả về cho mẹ đây. Mẹ và cô hãy để cô Thủy lại với con nha. Khoan hãy rủ cô ấy đi nha. Làng mình giờ đẹp và bình yên lắm. Tổ tam tam của mẹ không phải gác máy bay nữa đâu. Núi Hang Khay bây giờ cây cối xanh tốt rồi. Không còn dấu tích bom đạn nữa đâu. Cô Lụa sẽ kể cho mẹ hay mẹ ạ. Hãy yên nghỉ bên mẹ con cô Lụa nhé. Con xin cúi đầu vĩnh biệt cô.
Tôi chắp hai tay quỳ vái trước mộ cô Lụa. Nước mắt trào tuôn, tôi nấc nghẹn. Kế bên tôi, bà Thủy cũng vậy. Bố tôi tới bên dìu chúng tôi đứng dậy. Tôi lê bước về  nhà. Hình ảnh cô Lụa hiện lên cùng ngọn núi Hang Khay đang chập chờn nhập nhòa trước mặt.
                                                                                      Đ.X.T
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 31
Trong ngày: 159
Trong tuần: 2567
Lượt truy cập: 923369
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông