Phạm Thanh Khương
NHÀ VĂN NGUYỄN NHUẬN HỒNG PHƯƠNG
SỐNG VÀ VIẾT - CHỞ KIẾP NGƯỜI QUA MỖI TRANG VĂN
Có lẽ, cho đến bây giờ, tôi tin vào quy luật đời sống: Nếu có duyên khắc gặp. Gặp, thời gian kiểm chứng làm nên nghĩa. Khi nghĩa đầy sẽ làm nên tình. Duyên với nghĩa và tình tạo nên tri kỷ gắn kết dài lâu. Và với tôi, nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương hơn tôi cả chục tuổi, nhưng trong lòng, ngoài sự trân trọng, kính quý như người anh song với ông, tôi như người bạn văn “vong niên” mà trời đã cho tôi cái duyên được gặp, kết ngãi anh em.
ĐẶT TRÁI TIM LÊN BÀN KẾT BẠN MÀ CHƠI
Tháng 5 năm 2007, tôi được người bạn rủ đi gặp nhà thơ Hoàng Quý đang học lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 1 ở Quảng Bá. Khi bước vào phòng của nhà thơ Hoàng Quý, trong phòng còn có một người nữa, mặc áo ba lỗ, quần đùi, tóc cắt cua, giọng nói to, tiếng cười cũng to, từ ngữ trò chuyện không màu mè, hoa hòe hoa sói, thẳng tưng, nghe hơi bỗ bã, khuôn mặt khắc khổ, từng trải. Nhà thơ Hoàng Quý giới thiệu, đấy là nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương. Ngay lúc ấy, tôi nghĩ. Ở cái lớp người như ông, phía Bắc rất ít người đặt tên dài toằng là ngoằng như thế. Người đàn ông vóc dáng như thế mà tên cứ có cảm giác ẻo lả.
Nghĩ là thế nhưng tôi cho rằng chắc phải có lí do gì đó khi ông mang tên như thế này. Tôi lặng lẽ làm cuộc “tìm hiểu” theo thói quen của cánh phóng sự điều tra, đi đến tận cùng của mọi sự vật hiện tượng. Rồi tôi được biết.
Ông tên thật là Nguyễn Văn Nhuận, sinh năm 1947 tại làng Lệ Mật, xã Việt Hưng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Năm 12 tuổi mẹ mất, ba năm sau cha mất, học chưa hết lớp 5 phổ thông ông phải bỏ học, chưa đầy mười bảy tuổi lăn vào đời kiếm sống. Ông rời quê lên Lào Cai với đủ nghề, từ công nhân khai thác đá, thợ xẻ gỗ, lái thuyền vận tải rồi đi bộ đội, giải ngũ về lái ô tô ở Công ty Thi công cơ giới Hoàng Liên Sơn. Biết cái thời sau chiến tranh, con chữ điểm vực con người, ông vừa làm vừa học bổ túc văn hóa hết lớp 7. Ấy thế rồi, cái phận tuổi Đinh Hợi, nhớ lâu, tình dài, nghĩa cả, hào sảng, quảng giao, quân tử nhưng cái số vất vả, luôn chịu thiệt, nhất là khi người ta lấy bằng cấp để nâng đỡ, đề bạt, làm phông bạt khi cất nhắc. Ông khảng khái, nghỉ “một cục”, lấy tiền về thị xã Phúc Yên mở xưởng cơ khí mưu sinh. Còn bút danh Nguyễn Nhuận Hồng Phương của ông là một ký ức đau đến tận cùng nỗi đau, buồn đến tận cùng nỗi buồn của kiếp con người.
Ấy là, vào ngày mồng 2 tết Kỷ Mão (1999), ông đưa vợ về thăm quê ngoại của bà ở Thường Tín. Trời muốn hành người, tai nạn ập đến, bà Nguyễn Thị Hồng, người vợ gắn bó 30 năm, tảo tần, chia sẻ những tháng năm cơ cực mất ngay trên tay ông. Ông chỉ kêu lên “Hồng ơi” rồi gục xuống. Sau ngày vợ mất, ông không như nhiều người, dìm mình vào rượu, vào chán chường, buồn tủi. Ông tìm đến thơ văn. Ông viết liền lúc 21 bài thơ. Mỗi câu là một vết dao cắt, là mũi kim đâm sâu vào trái tim nỗi nhớ thương gửi bà trên miền mây trắng. Ông lăn lóc, làm lụng, tằn tiện tiết kiệm nuôi 3 người con, quyết không tìm người “đỡ gánh nặng qua cầu”. Đã có lần, tôi hỏi ông. Ông nói giọng trầm như thầm thì. Ông sợ “bánh đúc có xương”, sợ người đó không chịu được vất vả, khổ cực cùng ông. Nhất là trong mạch máu chảy trong 3 người con, có một phần người vợ đã tảo tần, lam lũ chia sẻ gửi trao cùng ông. Ông bảo: Tôi nhớ bà ấy lắm, luôn thấy bà ấy bên tôi. Rồi ông hỏi tôi: Ông có biết ngày bà ấy mang thai thằng cả. Bà ấy thèm gì không? Tôi im lặng, lắc đầu. Ông nói, giọng như gió thoảng. Bà ấy thèm có củ khoai luộc để ăn. Người ta có chửa thèm chua, thèm cá, thèm thịt. Bà ấy thèm khoai. Đói, đói triền miên. Bà ấy chỉ thèm được ăn no để có dinh dưỡng nuôi thai. Trên khóe mắt ông anh ánh lệ.
Sau lần gặp ông ở Trường bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du, ông cùng Đại tá Trần Cao Kiều, Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Công an nhân dân đến phòng làm việc của tôi chơi. Biết ông và Trần Cao Kiều là người cùng quê, còn tôi với Trần Cao Kiều là đồng đội, đồng chí, trước cùng cơ quan báo. Biết là biết thế nhưng trong trò chuyện tôi vẫn có ý giữ nói năng nhất là biết ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Với nhà văn, bậc quân vương, công hầu khanh tướng còn coi chả là gì, huống nữa là tôi, một người quản lý báo. Thấy tôi có vẻ e dè trong trò chuyện, giao tiếp. Ông cười phớ lớ, bảo. Chơi với nhau cứ thoải mái đi. Cứ đặt trái tim mình lên bàn kết bạn mà chơi. Nghe ông ví von hình ảnh Đanko xé toạc vồng ngực, lấy trái tim soi sáng mọi người; tôi thầm nghĩ, bậc quân tử yêng hùng hảo hán cùng lắm cũng đến thế này. Rồi những chuyến đi Cốc Pàng, Cao Bằng, đi Vũng Tàu, đi thực tế cùng ông. Tôi hiểu cuộc đời ông hơn, tôi quý, trân trọng và lặng thầm cám ơn cuộc đời cho tôi biết ông rồi được là chỗ “vong niên” với ông.
Tháng 3 năm 2025, tôi dự trại sáng tác do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tổ chức ở Đại Lải. Nghe tin, ông chạy xe đến thăm. Do chủ quan, tôi không mang áo ấm, phải ngày trời trở lạnh, môi rét thâm. Ông không nói gì, quay xe về, lát sau thấy ông trở lại. Ông đưa tôi cái áo rét rồi dặn. Áo của tôi đấy. Ông cứ mặc đi, không phải gửi trả đâu. Về đi câu, mặc cho khỏi lạnh. Khi đi câu, tôi mặc chiếc áo ấy, vợ con thấy rộng thùng rộng thình, chùng tới bắp đùi, không khác gì tôi khoác chăn bông. Quả là không đẹp nhưng ấm. Hơi ấm từ trái tim của ông lấy ra đặt lên bàn kết bạn mà chơi. Hơi ấm của kẻ sĩ, có đủ duyên, tình, nghĩa sâu nặng.

LÃO TRI ĐIỀN TRÊN CÁNH ĐỒNG VĂN CHƯƠNG
Đây là câu nói của nhà thơ Hoàng Quý nói với tôi về nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương khi ông có ý định viết tập sách về chân dung các bạn văn. Khi nói đến nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương, nhà thơ Hoàng Quý cười sang sảng: Tôi viết về lão này, tôi sẽ lấy hình ảnh lão nông cày xới trên cánh đồng văn chương. Hình ảnh rất thực mà cũng rất tình, rất người và cũng rất điển hình Nguyễn Nhuận Hồng Phương.
Viết văn là lao động quá khứ. Nhà văn là những người đi nhặt chuyện đời, chuyện người, chuyện thiên hạ rồi xâu chuỗi thành hệ thống, chi tiết theo kết cấu, tư tưởng để làm nên tác phẩm. Song, muốn có tác phẩm hay, tác phẩm ấy phải thấm mồ hôi, nước mắt, mùi bùn, váng phèn từ chính đôi chân lặm lụi, cặm cụi từ chính những gì đã trải của người viết. Chỉ khi nào, con chữ rút từ máu thịt, cuộc đời của chính người viết thì con chữ mới có thể sống, cựa quậy hơi thở đến bạn đọc. Một con chữ viết ra, một thân phận con người, dù trí tưởng tượng có phong phú đến đâu, nếu không chắt ra từ chính những gì sâu nhất, lắng nhất, hiểu nhất, rõ nhất của người viết thì cũng chỉ như là, chút màu nước nhạt nhòa không thể làm nên bức tranh thủy mặc, có chăng nó chỉ là chút màu phết mỏng làm lãng phí một khuôn tranh.
Sau lần gặp ông ở Trường bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 1, ông có tặng tôi tập tiểu thuyết Đồng vọng ngược chiều. Và cho đến bây giờ, tôi biết, ông đã in rất nhiều đầu sách. Từ trường ca “Khúc hát Mê Linh" (2002) câu thơ lòng, dò đường, thử sức trong nghiệp văn chương, đến các tập truyện “Trong rác không có rác”, “Khi người ta ngủ”, “Bách hoa tửu”, “Người vắng mặt”. Rồi hàng loạt tiểu thuyết “Đồng vọng ngược chiều", “Phá sản”, “Vận may”, “Ngoài vòng tay của Chúa”, “Phố thị", “Tấn kịch ở Hạ Lỗi”, “Nền móng” và mới đây nhất, “Báu vật để đời” tiếp tục đóng dấu son Nguyễn Nhuận Hồng Phương, dấu ấn con chữ nhà văn mệnh Ốc Thượng Thổ - đất nóc nhà trong làng văn, trong lòng bạn đọc. Ấy là chưa kể ông còn chuyển thể 20 tập phim từ tiểu thuyết “Vận may” cho Hãng phim truyện Việt Nam được bạn xem đánh giá cao. 20 năm cầm bút từ khi “danh chính ngôn thuận”, soi vào câu nhận xét đánh giá sức viết của ông như nhà thơ Hoàng Quý, quả là, ông còn hơn vạn lần lão nông tri điền cày cuốc trên cánh đồng canh tác. Còn ông, trên cánh đồng văn chương trồng người, vì người, vì đời và bạn đọc.
Văn của Nguyễn Nhuận Hồng Phương thường không du dương, mĩ miều, lả lướt, bóng gió. Trong ngôn ngữ, ông trọng cái thực, lấy cái thực, cái gần gũi, dân dã đời thường làm nên câu chữ tự tỏa hương. Có lần ông tâm sự. Văn chương viết không hay, có xức cả thùng xạ cũng chả lên hương. Ngôn từ trong văn của ông, bạn đọc có thể cảm nhận được cả những thổn thức, hấm hức từ hơi thở của cuộc sống. Tiểu thuyết “Đồng vọng ngược chiều”, cuốn tiểu thuyết đầu tay, với một không gian rộng, thời gian dài, ông kể về những diễn biến của xã hội từ 1945 đến năm 1986 với công cuộc đổi mới. Những Nguyễn Thừa, Hải Linh, người đàn bà mặt đẹp, Maria Bà lang Mụ đỡ, người đàn bà nuôi rắn, tổ trưởng, chủ tịch xã, Bí thư…trong tiểu thuyết “Đồng vọng ngược chiều" rất đời, rất người, đủ cả hỉ nộ ái ố, tham sân si, có sáng, có tối, có đắm say và thủ đoạn, có cao cả và thấp hèn, có tử tế và khốn nạn trong không gian, thời gian khi ẩn khi hiện kiếp người. Hay một “Nó” trong “Vận may” du thủ du thực, đầu đường xó chợ, nửa người nửa cướp, lăn lóc, vật vã cố để lòng lương thiện. Thế rồi, đời như mơ, gặp vận may, “Nó” trở thành quý ông. Một quý ông có đủ “nết người”, cái nết xa lạ với nhân kiếp mà cũng không lạ nhân kiếp bởi thiện ác, tử tế, khốn nạn, tội lỗi và nhân ái tồn tại trong một vỏ thằng người. Đó là Hoa trong “Ngoài vòng tay của Chúa”, một thiên sứ nhân hậu, giầu lòng nhân ái, xả thân, dâng hiến vì lẽ đời, lẽ người. Hay trong tiểu thuyết “Nền móng”, câu chuyện kể về quá trình đổi mới, quá trình tìm tòi, tìm đường phát triển, của những cán bộ “đứng mũi chịu sào” với chính mình, với những cản trở từ chính những quy trình, quy định, từ chính những cá nhân trong hàng ngũ “đồng chí, đồng đội”. Đó là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa tư duy cấp tiến và chờ thời, giữa cái đúng và cái sai, giữa cái ngay thẳng và sự lươn lẹo, giảo quyệt. Là Nguyễn Trí, quyền Chủ tịch tỉnh, “Trang phục chẳng giống ai, thái độ tự mãn, phong cách lãng tử, nói năng thẳng thừng, bỗ bã, tự thói ngang tàng của những kẻ mang dòng máu ăn chơi” nhưng đó là một Nguyễn Trí, đâu có khó khăn vướng mắc là lao vào, “sống và làm việc theo đúng lý tưởng mình đã chọn”, một con người với thái độ “phải sống khác mình, đó là kẻ thù lớn nhất của đời”; một con người dám đối đầu với những gì thuộc bản chất con người nhưng lại không thuộc bản chất người cộng sản như Bùi Phẩm. Đó là, một Nguyễn Thế Tùng, Bảo Thoa, Mai Quế, lớp cán bộ trẻ, một thế hệ có học, có kiến thức, có trình độ chuyên môn, sống hết mình, yêu hết mình và cháy hết mình vì công việc tuy đôi khi còn bốc đồng, “già trước tuổi”. Một thế hệ dám chấp nhận thất bại để tìm ra con đường đúng nhất đến thành công. Họ là những người đại diện cho thế hệ gen X, Y, Z, Alpha, thế hệ gen của công nghệ, của tự động hóa, của trí tuệ nhân tạo (Al), một thế hệ explosion (sự bùng nổ) tương lai. Mới đây nhất là tiểu thuyết “Báu vật để đời” với lối nhìn mới về xây dựng một xã hội hội tụ đủ những phẩm chất làm người.
Có lẽ, Nguyễn Nhuận Hồng Phương là người viết từ những ký ức, những trải nghiệm, từ bắp chân ngấn bùn, váng phèn đầu móng, từ những năm tháng lăn lộn mưu sinh. Những lớp nhân vật trong tiểu thuyết của ông tụ đủ các chiều kích và tính cách đi thẳng từ cuộc sống vào trang giấy, ông không cần tính điển hình, bạn đọc có thể nghe thấy, ngửi thấy và cảm được hơi thở chính môi trường đang sống. Những nhân vật trong trang sách của ông ngọ ngoạy, nhấp nhim, nhìn rõ diện mạo sáng, tối, đẹp đẽ và mưu toan, tử tế hay hiểm ác, nhân hậu hoặc đểu giả, thiên sứ hay quỷ sứ. Để có thể truyền đạt được những nhân vật rất đời ấy, Nguyễn Nhuận Hồng Phương coi trọng chất văn hóa sống, quan niệm sống từ Khổng, Trang, Lão đến Phật, đạo, đời để chở mình, chở chữ, chở đời cùng nỗi chứng sinh với bút pháp “đồng hiện”, “hiện thực huyền ảo” như trục lõi chuyển tải tư tưởng tác phẩm. Ông hạn chế sử dụng thủ pháp nói quá, khuếch trương, ma mị liêu trai, mượn ngôn ngữ che chi tiết mà các cây viết trẻ, trào lưu văn chương gần đây rất hay lựa chọn để làm mới, làm lạ, thổi phồng theo kiểu ghé đầu vào bóng đèn thấy đầu mình to, vĩ đại, lôi kéo bạn đọc. Mỗi câu văn của ông là chính ông đang rút từ máu thịt của mình viết nên, có đủ thấm, ngấm từ ngay thân phận con người nhân vật là ông.
Nguyễn Nhuận Hồng Phương cũng là người thờ ơ với mọi trào lưu, ông cứ lặng lẽ tự đi, tự nghiền ngẫm và tự lý giải. Trên con đường văn chương nhộm nhoạm bóng người, ông vẫn là ông, không trộn lẫn, con đường văn riêng ông không hòa tan, không vướng bận. Đó là con đường mà có lẽ, nó là căn cốt trong hành văn, trong ngôn ngữ, trong tư tưởng tác phẩm của ông, ấy là chất triết lý nhân sinh, luật nhân quả, sự báo ứng. Sự báo ứng trong đau đớn kiếp người, biết mà không thể giơ tay, ghé vai gánh đỡ.
GÁNH NẶNG CON CHỮ LÒNG TỰ TRỌNG VÀ NIỀM TIN BẠN ĐỌC
Để nói về trách nhiệm, lương tâm, lòng tự trọng của ông với con chữ, với bạn đọc. Tôi nhớ, khi viết tiểu thuyết “Báu vật để đời”, có một lần, nửa đêm nhận được điện ông gọi. Nhìn tên ông và thời gian thực hiện lên, lòng tôi chợt lo lắng. Nửa đêm ông gọi chắc có chuyện gì từ ông hay bạn bè văn chương hệ trọng lắm. Hỏi ông, mới hay, ông gọi cho tôi hỏi về nghiệp vụ điều tra và quy trình bắt khám xét, bởi tôi trước có học nghiệp vụ an ninh, nắm được các quy trình, quy định này. Nghe ông hỏi mới thấy cái tâm trong con chữ trang văn của ông. Giời đất ạ. Có nhà văn nào lại trách nhiệm với câu chữ như ông? Phải người viết khác, chắc họ cứ viết, cứ nói theo trí tưởng tượng họ hiểu, họ nghĩ, chứ có ai như ông, đòi hỏi sự chuẩn xác đến từng chi tiết như thế.
Rồi mấy hôm sau, ông lại hẹn đưa ông đi ăn quán phở cuốn. Nghĩ ông nghe nói món ngon Hà Nội chứ đâu nghĩ là việc. Trong tiểu thuyết ông viết có chi tiết kể về việc các đối tượng đưa nhau vào ăn quán phở cuốn. Ông muốn mục sở thị, tai nghe mắt thấy, mũi ngửi, miệng nếm hương vị, màu sắc để khi kể trên trang viết đưa đến bạn đọc sự chuẩn xác đến từng milimet, bạn đọc có thể thưởng thức món ngon trong không gian hẹp, nhỏ bé phố cổ ngay trên khổ trang sách 13 x 19 như này.
Cẩn trọng như ông, chi tiết như ông, cụ thể như ông, có lẽ đó là lòng tự trọng, là cái để bạn đọc tin đến từng con chữ ông gửi gắm. Tôi nghĩ mãi về việc làm này rồi ngộ ra. Đó mới là ông, nhà văn Nguyễn Nhuận Hồng Phương; đó mới là những chi tiết, ngôn ngữ bạn đọc đọc được, đón nhận và trân quý tin yêu từ mỗi trang văn của ông, cái làm nên hơi thở cuộc sống trong từng chi tiết; đó mới đúng là ông, người lấy trái tim đặt lên bàn kết bạn mà chơi; đấy mới là ông, lão tri điền trần mình cày cuốc từng con chữ trên cánh đồng văn chương để gieo hạt và thu hoạch mùa bội thu kiếp nhân sinh cầm bút. Như cuộc đời ông, mượn tiếng cười rổn rảng xoa nỗi buồn, vất vả; lấy trang văn để chuyên chở kiếp người, phận đời mà sẻ chia, mà sống.
Cũng có lẽ, vì thế, mặc thói đời, thói người, ông cứ lặng lẽ viết, lặng lẽ sống, không ồn ào. Ông tự để mỗi trang văn của ông cứ thế tự tỏa hương, lan từ trang văn vào cuộc sống, đến bạn đọc rồi cũng từ đó thơm trở lại con chữ cho người, cho đời. Một Nguyễn Nhuận Hồng Phương, nhà văn, sống và viết chở kiếp người qua mỗi trang văn./.
P.T.K
Người gửi / điện thoại