Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

PHÁT BIỂU CỦA NHÀ VĂN LÊ QUANG TRẠNG

Lê Quang Trạng

VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ:
TỪ GÌN GIỮ BẢN SẮC ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI
 
 

     Tôi sinh ra và lớn lên ở An Giang, vùng đất biên thùy Tây Nam của Tổ quốc, nơi những nhánh sông đầu nguồn Cửu Long mang phù sa bồi đắp đồng bằng và cũng âm thầm bồi đắp nên một miền văn hóa thống nhất mà đa dạng. Tuổi thơ tôi lớn lên bên tiếng đọc kinh Koran ngân vọng từ những xóm Chăm Islam; có những người bạn Khmer từ các phum sóc miền Thất Sơn cùng tôi cắp sách đến trường; có những người bạn Hoa lớn lên giữa nhịp sống rộn ràng của phố chợ dạy tôi làm bánh trung thu. Chính những người bạn ấy, những cộng đồng dân tộc anh em đã sống bên nhau qua bao thế hệ ấy, đã mở ra trong tôi những cánh cửa đầu tiên bước vào thế giới của cái đẹp. Tôi biết yêu tiếng trống Rắp-bà-nà rộn lên mỗi dịp lễ Roya, say mê những câu chuyện xưa qua lời kể của các vị sư Khmer dưới mái chùa cổ kính, rồi mê mải nhìn từng nét cọ, mảng màu trên những bức tranh kiếng bên chiếc xe hủ tiếu của chú Tiều bên hông chợ Châu Đốc.

    Hồi ấy, tôi đâu biết những thanh âm, sắc màu và câu chuyện tưởng như rất đỗi đời thường ấy lại đang từng ngày lặng lẽ bồi đắp thế giới tinh thần cho mình. Chúng len vào ký ức như những dòng kinh, con rạch nhỏ len qua xóm làng rồi tìm đường ra sông lớn; để nhiều năm sau, khi cầm bút, tôi mới chợt nhận ra những “con nước” văn hóa ấy đã chảy vào trang viết từ bao giờ. Chúng cho tôi một cách nhìn về con người, một cách cảm về cái đẹp, và sâu xa hơn, góp phần tạo nên mỹ cảm của một người viết được sinh ra trên vùng đất nhiều nền văn hóa cùng gặp gỡ.

Với tôi, mỗi dân tộc đều có một “tiếng nói” riêng, một ký ức riêng, một vẻ đẹp riêng và một cách riêng để cảm nhận, lý giải rồi biểu đạt thế giới. Nhưng trên vùng đất tôi sinh ra, những dòng văn hóa ấy chưa bao giờ tồn tại như những dòng chảy biệt lập. Chúng gặp nhau, soi bóng vào nhau, thẩm thấu và bồi đắp cho nhau; mỗi dòng vẫn mang màu sắc của nguồn cội mình nhưng khi cùng chảy qua một vùng đất, lại làm nên một tầng văn hóa chung vừa phong phú, vừa gần gũi, thân thuộc. Có lẽ bởi vậy, với tôi, văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số chưa bao giờ là một miền xa lạ mà sau này tôi mới tìm đường bước đến. Nó đã ở trong ký ức tôi trước khi tôi kịp gọi tên; đã nuôi dưỡng cảm quan thẩm mỹ của tôi trước khi tôi ý thức mình sẽ trở thành người viết; và đã trở thành một phần trong đời sống tinh thần của tôi trước khi đi vào những trang văn.

    Ngày vào đại học, tôi chọn ngành Sư phạm Ngữ văn với một ước mơ khá giản dị, khi ra trường sẽ về dạy tại một ngôi trường nào đó trong phum sóc Khmer vùng Bảy Núi. Nhưng rồi nghề lại chọn tôi theo một con đường khác. Tôi về công tác tại Trung tâm Văn hóa - Nghệ thuật tỉnh An Giang. Không đứng trên bục giảng như ước nguyện ban đầu, nhưng chính công việc ấy lại mở cho tôi một lớp học rộng lớn hơn - lớp học của đời sống, nơi những nghệ nhân, nghệ sĩ Chăm, Khmer trở thành những người thầy đặc biệt của tôi.

    Tôi có những ngày cùng ăn, cùng ở, cùng làm với các nghệ nhân, nghệ sĩ; cùng đi qua những buổi tập kéo dài, những chuyến lưu diễn, những nhọc nhằn phía sau một tiết mục mà khán giả chỉ nhìn thấy trong vài phút ánh đèn sân khấu. Tôi được nghe chuyện đời, chuyện nghề; được nhìn những đôi bàn tay đã hằn dấu thời gian vẫn kiên nhẫn giữ lấy một điệu À-day, một câu hát Chầm-riêng Chà-pây, một kỹ thuật tưởng chừng rất nhỏ nhưng phía sau là ký ức của cả một cộng đồng.

Có những nghệ nhân suốt đời chưa từng nói một lời lớn lao về “bảo tồn” hay “sáng tạo”. Họ chỉ lặng lẽ sống với nghề như người ta sống với một phần máu thịt của mình. Người già chỉ cho người trẻ một động tác; người biết nhiều truyền lại cho người biết ít một câu hát, một nhịp trống, một cách đặt bàn tay lên nhạc cụ. Cứ thế, bằng những việc tưởng như rất nhỏ, một dòng chảy văn hóa được chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Chính những năm tháng ấy giúp tôi hiểu rằng, văn học nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc không chỉ tồn tại bởi nó được lưu giữ, mà trước hết bởi nó còn được sống. Một loại hình nghệ thuật dù được ghi chép đầy đủ đến đâu, được trưng bày trang trọng đến đâu, nếu không còn người thực hành, không còn người rung động trước nó, không còn người muốn học, muốn sáng tạo và trao lại cho thế hệ sau, thì sức sống của nó cũng dần trở thành ký ức. Nghệ thuật của một dân tộc không chỉ được gìn giữ trong bảo tàng, trong những trang tư liệu hay trong ký ức của người già; nó được gìn giữ bền vững nhất khi vẫn còn những con người muốn sống cùng nó, làm mới nó bằng sức sáng tạo của mình và trao nó vào tay người đến sau. Bởi suy cho cùng, bảo tồn không phải là giữ một dòng chảy đứng yên, mà là làm sao để dòng chảy ấy vẫn tiếp tục đi qua những thế hệ mà không đánh mất nguồn của mình.

    Chúng ta thường nói đến văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số với hai chữ “bảo tồn”. Điều đó hoàn toàn cần thiết. Nhưng trước những biến chuyển rất nhanh của thời đại hôm nay, tôi nghĩ chúng ta cần đi thêm một bước nữa trong cách nhìn, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số không chỉ là di sản của quá khứ cần được gìn giữ, mà còn là một nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của hiện tại và tương lai. Trong mỗi truyện cổ, mỗi sử thi, mỗi làn điệu, mỗi hoa văn thổ cẩm, mỗi nghi lễ, mỗi câu chuyện được truyền lại qua nhiều thế hệ là cả một hệ thống ký ức, biểu tượng, tri thức bản địa và mỹ cảm cộng đồng được chưng cất qua thời gian. Đó không chỉ là di sản, mà còn là một nguồn tài nguyên sáng tạo đặc biệt, thứ tài nguyên mà nếu biết khai mở bằng tư duy của thời đại, càng sáng tạo lại càng có khả năng sinh thành những giá trị mới. Có những tài nguyên càng khai thác càng vơi đi, nhưng văn hóa thì khác. Càng được sáng tạo, càng được trao truyền, càng được đặt vào những hình thức biểu đạt mới, văn hóa càng có khả năng sinh sôi.

    Trong thời đại 4.0, khi công nghệ khiến thế giới xích lại gần nhau hơn, khi một sản phẩm có thể được tạo ra và lan truyền chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn, thì nghịch lý là con người lại càng đi tìm những gì độc đáo, khác biệt và không thể thay thế. Công nghệ có thể giúp một tác phẩm đi rất nhanh; thuật toán có thể đưa một giai điệu, một hình ảnh, một câu chuyện đến hàng triệu màn hình; nhưng thứ khiến người ta dừng lại, rung động và ghi nhớ vẫn là bản sắc. Bởi công nghệ có thể nhân bản phương thức, nhưng không thể nhân bản ký ức của một cộng đồng; có thể sao chép hình thức, nhưng không thể sao chép chiều sâu văn hóa và cảm quan thẩm mỹ được bồi đắp qua hàng trăm, hàng nghìn năm. Ở phương diện ấy, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số chính là một nguồn lực vô cùng lớn lao mà chúng ta vẫn còn chưa khai mở hết. Nếu được đánh thức bằng tư duy sáng tạo đương đại, những giá trị ấy không chỉ dừng lại trong văn chương hay sân khấu, mà còn có thể bước vào điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, du lịch văn hóa, các sản phẩm số và công nghiệp sáng tạo. Từ đó, chúng không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc mà còn tham gia tạo dựng hình ảnh quốc gia, sức mạnh mềm và những giá trị kinh tế mới.

     Chúng ta đã có những minh chứng rất rõ rằng văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số hoàn toàn có thể đi xa. Bộ phim “Những đứa trẻ trong sương” của đạo diễn trẻ Hà Lệ Diễm, người dân tộc Tày, từ câu chuyện trưởng thành của một cô bé người Mông ở Sa Pa, đã đi qua nhiều liên hoan phim quốc tế và lọt vào danh sách rút gọn của Oscar. Một câu chuyện bắt đầu giữa sương núi Việt Nam đã có thể bước đến những màn ảnh của thế giới. Hay một ví dụ rất gần đây khiến tôi đặc biệt suy nghĩ. Tháng 8 năm 2026, ca sĩ Phương Mỹ Chi cùng nhóm DTAP ra mắt bài hát “Thiên đường với người thương” - một sản phẩm âm nhạc hiện đại nhưng được xây dựng trên nhiều chất liệu văn hóa Khmer Nam Bộ. Trong MV ấy là không gian phum sóc, là mái chùa Khmer, trang phục, nghi thức hôn lễ, âm hưởng ngũ âm, cảnh sắc phum sóc Khmer ở Trà Vinh, An Giang… Những gì tưởng như rất quen thuộc với đồng bào Khmer Nam Bộ bỗng bước vào không gian âm nhạc đương đại và đến với hàng chiều sâu văn hóa và đôi mắt của nghệ thuậttriệu người. Chỉ sau ít ngày, sản phẩm âm nhạc trẻ trung và giàu bản sắc ấy vươn lên vị trí số 1 thịnh hành trên YouTube Việt Nam; sau khoảng một tuần, MV đã cán mốc 10 triệu lượt xem. Điều khiến tôi chú ý không chỉ là những con số về lượt xem hay thứ hạng thịnh hành, mà là câu chuyện phía sau những con số ấy. Một giá trị truyền thống, khi đi qua tư duy sáng tạo của người trẻ và được nâng đỡ bởi phương tiện của thời đại mới, đã tìm được một đời sống mới mà không nhất thiết phải đánh mất căn cước ban đầu của mình. Và những người làm nên hành trình ấy cũng là những nghệ sĩ trẻ.

    Điều đó gợi cho tôi một suy nghĩ, di sản không hề cũ, chỉ có cách chúng ta kể câu chuyện về di sản có thể cũ. Nếu tìm được một ngôn ngữ mới, một hình thức mới, một không gian biểu đạt mới và một thế hệ sáng tạo mới, thì những gì đã tồn tại hàng trăm năm hoàn toàn có thể bước vào đời sống hôm nay bằng một sức sống khác - trẻ hơn, rộng hơn và gần gũi hơn.

    Năm 2023, tôi có dịp tham dự Diễn đàn Văn học Châu Á lần thứ V tại Hàn Quốc. Ở một đất nước cách quê hương hàng nghìn cây số, trong không gian trang trọng của Trung tâm Văn hóa Châu Á, tôi bắt gặp những giá trị văn hóa nghệ thuật của các dân tộc Việt Nam được sưu tầm, gìn giữ và giới thiệu với công chúng quốc tế. Ở đó có những chiếc cồng chiêng gợi nhớ đại ngàn Tây Nguyên, những sắc màu thổ cẩm của đồng bào miền núi phía Bắc, những hiện vật vốn từng hiện diện rất đỗi bình dị trong đời sống của các cộng đồng dân tộc trên quê hương mình. Có những điều, khi ở rất gần, vì quá thân thuộc nên đôi lúc ta vô tình đi ngang qua. Nhưng khi gặp lại chúng ở một nơi cách quê nhà hàng nghìn cây số, giữa ánh nhìn của những con người đến từ những nền văn hóa khác, ta bỗng nhận ra một giá trị khác của chúng. Một chiếc cồng chiêng khi ấy không còn chỉ là chiếc cồng chiêng của một buôn làng, một tấm thổ cẩm không còn chỉ là sản phẩm của một cộng đồng, mà tất cả cùng trở thành một phần gương mặt Việt Nam. Từ khoảnh khắc ấy, tôi đã tự hỏi, nếu một chiếc cồng chiêng có thể đi xa đến thế, tại sao một truyện ngắn không thể? Nếu một tấm thổ cẩm có thể khiến một người xa lạ dừng lại ngắm nhìn, tại sao một bài thơ, một bộ phim, một bản nhạc mang trong mình ký ức và tâm hồn của một dân tộc lại không thể bước qua những đường biên?

    Trong thời đại số, khoảng cách từ một phum sóc, một bản làng, một buôn làng đến với thế giới đôi khi chỉ còn là khoảng cách từ một tác phẩm đến một màn hình. Công nghệ đã rút ngắn khoảng cách địa lý đến mức chưa từng có, nhưng càng như vậy, điều quan trọng không còn chỉ là chúng ta đi được bao xa, mà là chúng ta mang theo điều gì khi đi xa. Một người trẻ hôm nay có thể bước ra thế giới bằng một chiếc điện thoại, nhưng để thế giới nhớ đến mình, họ cần mang theo một câu chuyện không thể lẫn với câu chuyện của người khác. Và câu chuyện ấy rất nhiều khi bắt đầu từ chính bản sắc của cộng đồng mình. Bởi vậy, điều chúng ta trao cho người trẻ không chỉ là phương tiện, kỹ năng hay cơ hội xuất hiện, mà quan trọng hơn là giúp họ hiểu sâu về nguồn cội để biết mình đang đứng ở đâu, mang theo điều gì và có thể đóng góp điều gì vào cuộc đối thoại rộng lớn của văn hóa và nghệ thuật nhân loại.

Và chính từ đây, tôi muốn nói nhiều hơn về người trẻ.

    Những năm gần đây, một tín hiệu rất đáng mừng là trong đội ngũ sáng tác về đề tài dân tộc thiểu số đã xuất hiện ngày càng nhiều gương mặt trẻ. Theo tôi, kết quả ấy không phải tự nhiên mà có. Đó còn là thành quả từ sự quan tâm bền bỉ của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và các Chi hội trong công tác phát hiện, tập hợp, bồi dưỡng và tạo cơ hội cho lực lượng trẻ. Thông qua các trại sáng tác, các cuộc thi, những hoạt động giao lưu nghề nghiệp, những diễn đàn giới thiệu tác phẩm và sự dìu dắt của các văn nghệ sĩ đi trước, nhiều cây bút trẻ đã có cơ hội bước ra khỏi không gian sáng tác riêng lẻ để tìm thấy một cộng đồng nghề nghiệp, một nơi để học hỏi, thử sức và trưởng thành.

    Điều đáng quý là lớp trẻ hôm nay không chỉ tiếp nhận di sản theo cách của thế hệ trước, mà đang từng bước tìm cho mình một ngôn ngữ biểu đạt mới. Họ sử dụng điện thoại, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo, những nền tảng truyền thông và phương tiện sáng tạo mà trước đây chúng ta chưa từng có. Nhưng dù phương tiện có thay đổi đến đâu, nếu trong một người trẻ vẫn còn thôi thúc phải viết một câu thơ, kể một câu chuyện, thực hiện một bộ ảnh, sáng tác một bản nhạc từ chính văn hóa dân tộc mình và quê hương mình, thì tôi tin rằng dòng chảy ấy vẫn đang tiếp tục.

    Năm 2026, khi được mời tham gia Ban Giám khảo cuộc thi truyện ngắn và bút ký về đề tài văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam do Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt nam tại thành phố Cần Thơ tổ chức, tôi càng cảm nhận rõ điều ấy. Trong số những tác giả gửi tác phẩm dự thi, có khá nhiều người viết trẻ. Có những trang viết chưa thật tròn trịa, nhưng ở họ có nhiệt tình, có nhu cầu được cất tiếng nói, có khát vọng viết về vùng đất, con người và những giá trị văn hóa mà mình yêu quý. Đọc những bản thảo ấy, tôi càng tin rằng người trẻ chưa hề quay lưng với văn hóa truyền thống. Trái lại, khi được tạo cơ hội, họ đang trở về với văn hóa dân tộc bằng chính cách cảm, cách nghĩ và ngôn ngữ sáng tạo của thế hệ mình.

    Vì vậy, theo tôi, trong chặng đường tới, điều chúng ta cần làm là tiếp tục phát huy những kết quả mà Hội và các Chi hội đã tạo dựng; tiếp tục mở rộng không gian để người trẻ được thử sức, được kết nối, được giao việc và được khẳng định mình. Một cuộc thi có thể tìm ra một tác phẩm, một trại sáng tác có thể phát hiện một cây bút, nhưng để một cây bút trẻ trở thành một tác giả có đời sống sáng tạo mười năm, hai mươi năm, cần một môi trường nghề nghiệp đủ bền, một cộng đồng sáng tạo đủ rộng và những thế hệ đi trước sẵn sàng trao truyền kinh nghiệm bằng sự tin tưởng. Một người sáng tác trẻ được phát hiện hôm nay có thể trở thành một tác giả sau năm năm; một tác giả được bồi dưỡng hôm nay có thể trở thành một gương mặt có đóng góp sau mười năm; và một người sáng tạo được trao niềm tin hôm nay, một ngày nào đó có thể lại trở thành người trao niềm tin cho một thế hệ khác. Nhìn theo chiều dài ấy, mỗi cơ hội dành cho người trẻ hôm nay thực chất là một sự đầu tư cho tương lai của Hội.

    Tôi tin một tổ chức có quyền tự hào về những thành tựu mà các thế hệ đi trước đã tạo dựng, nhưng sức sống của tổ chức ấy còn được nhận ra ở khả năng chuẩn bị những người sẽ tiếp tục công việc ấy trong tương lai. Bởi chăm lo cho lực lượng trẻ không chỉ là công tác phát triển hội viên. Đó là công việc chuẩn bị sức sống cho tương lai của Hội, để mỗi thế hệ không chỉ tiếp nhận dòng chảy từ người đi trước mà còn góp vào đó nguồn nước mới của chính thời đại mình.

    Tôi lớn lên giữa không gian văn hóa vừa thống nhất vừa đa dạng của cộng đồng các dân tộc trên quê hương mình; được văn hóa nghệ thuật các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa… nuôi dưỡng tuổi thơ, mở rộng thế giới thẩm mỹ và trao cho tôi những chất liệu quý giá để trở thành người viết hôm nay. Vì thế, với tôi, đồng hành với văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số chưa bao giờ là đứng bên ngoài để quan sát một đối tượng sáng tác. Đó là một mối duyên từ đời sống, một sự gắn bó tự nhiên; và càng đi lâu, tôi càng cảm nhận đó cũng là một phần trách nhiệm của mình.

Tôi vẫn mong được đi nhiều hơn, sống sâu hơn, hiểu nhiều hơn và viết được những trang xứng đáng hơn về con người, văn hóa và đời sống các dân tộc trên đất nước mình. Tôi vẫn nghĩ giữ gìn và sáng tạo văn học nghệ thuật không phải là giữ cho một dòng sông đứng yên. Có những dòng nước khởi đi từ núi cao, có dòng chảy qua đồng bằng, có dòng len qua những bản làng, phum sóc rồi tìm đến một dòng sông lớn. Mỗi dòng mang theo phù sa của miền đất mình đã đi qua; và khi gặp nhau, chúng không làm mất đi nguồn cội của nhau mà cùng tạo thành một sức chảy rộng lớn hơn.

     Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, trong suy nghĩ của tôi, cũng giống như một dòng sông như thế. Và tôi tin rằng, từ một bản làng nơi núi cao, một buôn làng giữa đại ngàn, một phum sóc miền Tây Nam Bộ hay một xóm Chăm soi bóng bên dòng sông Hậu, những câu chuyện rất riêng của mỗi dân tộc hoàn toàn có thể đi thật xa, qua một trang sách, một giai điệu, một thước phim, một tác phẩm mỹ thuật hay một nền tảng số, để đến với hàng triệu người. Có lẽ, đó cũng là cách đẹp nhất để chúng ta tri ân những người đã khơi nguồn, không chỉ giữ lấy dòng nước họ trao lại, mà làm cho dòng chảy ấy ngày một đầy hơn, mạnh hơn và tiếp tục chảy về phía những chân trời mới.

                                                                                    L.Q.T

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 29
Trong ngày: 715
Trong tuần: 2944
Lượt truy cập: 1262641
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông