Phan Anh
LỐI VỀ KHOA VĂN TRONG TIỀM THỨC CỦA MỘT NGƯỜI THẦY
Có lẽ, lứa chúng tôi gần như thuộc lớp sinh viên cuối được may mắn thụ giáo một thế hệ “kim cương” của khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bởi sau đó, khi chúng tôi ra trường, một vài năm thì các thầy, các cô đều lần lượt về hưu và đến nay nhiều người cũng đã giã từ cõi tạm để trở về với thế giới của những người Hiền. Giờ đây, khi trường Đại học Sư phạm Hà Nội tròn 75 năm, tất nhiên khoa Ngữ Văn của chúng tôi cũng bằng ấy tuổi và đang tất bật chuẩn bị cho ngày Hội khoa. Trong không khí ấy, nhớ lại những năm tháng trên giảng đường A4 rồi sang giảng đường nhà B, ký ức tôi không khỏi ùa về biết bao hình ảnh thân quen với các thầy cô - những người không chỉ là đỉnh cao của sự uyên bác, tài hoa trong làng văn và nghề dạy học mà còn là một chân trời bao dung, hiền hậu đã soi đường, mở lối cho chúng tôi đi. Đó là thầy của các bậc thầy, những cây “đại thụ” cả về tri thức và nhân cách mà tôi không thể nào quên: Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đình Chú, Bùi Văn Ba, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Văn Long, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử, Đặng Thanh Lê, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu, Lưu Đức Trung, Lương Duy Thứ, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Hải Hà, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Đăng Na, Trần Đăng Suyền, Lã Nhâm Thìn, Đinh Trọng Lạc, Diệp Quang Ban, Chu Văn Sơn … Và trong “rừng” sư biểu ấy, tôi may mắn có một cơ duyên với một “sư phụ” rất đặc biệt, thầy Lê Trường Phát.
Thầy Phát dạy Văn học dân gian. Cơ duyên thầy trò tôi khá ly kỳ. Thầy không trực tiếp dạy tôi học phần Văn học dân gian thời đại học. Tôi học lớp A do thầy Trần Gia Ninh phụ trách còn thầy dạy ở lớp C. Do tôi hay chơi với các bạn nam ở lớp C nên thi thoảng có sang “học ké” giờ thầy. Nhưng giảng đường chưa phải là nơi gắn kết hai thầy trò mà chính là những góc phòng chật hẹp ở ký túc xá sinh viên. Ngày ấy, buổi tối thầy thường vào ký túc xá với sinh viên, năm đầu tôi vào trường ở nhà A6 sang các năm sau chuyển sang ở nhà A7, nên thầy rất hay ở phòng tôi. Đó là hồi đầu năm chín mươi của thế kỷ trước, khi ấy thầy cận kề tuổi ngũ tuần. Tôi nhớ, thầy thường đi chiếc xe Jawa đến, trên đầu hay đội chiếc mũ beret, ăn mặt gọn gàng, nhìn rất trai “phố”. Để ý, tôi thấy mỗi lần thầy đến, ngoài trao đổi công việc học tập với học trò ra, thầy còn rất quan tâm đến cuộc sống và tâm tư tình cảm của các sinh viên xa nhà. Thầy nói chuyện với chúng tôi rất duyên và dí dỏm, thỉnh thoảng còn hài hước cho nên khoảng cách thầy trò rất gần gũi chứ không cách xa, tôn nghiêm. Nếu cứ bình thường như thế, mối quan hệ của tôi với thầy cũng sẽ trôi đi như muôn vàn thế hệ sinh viên khác. Nhưng “duyên trời” đã thực sự định vị tôi với thầy vào đầu năm thứ tư - năm học cuối cùng. Đó là khi Khoa phân công viết luận văn tốt nghiệp. Hồi đó, chỉ tiêu làm luận văn cả khoá chỉ được khoảng 30% còn lại phải thi tốt nghiệp (làm luận văn thì không phải thi). Khoa căn cứ vào điểm thi các học phần để phân công về các tổ chuyên môn. Sau đó tổ phân công các thầy cô hướng dẫn. Có lẽ, do điểm thi môn phương Pháp dạy Tiếng Việt của tôi cao nên Khoa đã phân công tôi làm luận văn tốt nghiệp về môn này. Thú thực, tôi không thích làm luận văn về phương pháp nên tìm cách “tháo chạy”. Tôi đánh liều lên gặp thầy Trần Đăng Suyền, khi đó là Phó Trưởng khoa, để xin chuyển đổi. Tôi xin mãi rồi thầy cũng đồng ý nhưng với một điều kiện là phải xin với tổ phương pháp dạy Tiếng Việt và tự tìm thầy hướng dẫn. Và trong cái khoảnh khắc loay hoay tìm lối đi mới ấy, hình ảnh thầy Lê Trường Phát lập tức hiện lên trong tâm trí tôi. Nhanh gọn, tôi liền tìm gặp thầy và kể lại sự tình, nhờ thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp. Nghe xong thầy cười rất hiền và đồng ý mà không đắn đo. Chẳng những vậy, thầy còn chu đáo dẫn tôi đi gặp thầy Lê A, trưởng bộ môn phương pháp dạy Tiếng Việt để “xin hộ”, cho tôi được toại nguyện. Thế rồi từ đây, cái gật đầu đồng ý và sự bao bọc của thầy năm ấy không những giúp tôi ra trường mãn nguyện mà còn định hình cho tôi một hướng đi với nghề về sau này, nhất là khi tôi tiếp tục học thạc sỹ. Tất nhiên tôi lại xin thầy làm người hướng dẫn luận văn. Bắt đầu từ cơ duyên như thế, mối quan hệ giữa hai thầy trò đã thực sự gắn bó và đồng hành cho đến tận bây giờ, khi đã già một phần ba thế kỷ.

Kể từ năm cuối đại học, khi được làm luận văn tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn của thầy Phát, tôi mới có nhiều cơ hội gần gũi và thấu hiểu thầy hơn. Để rồi khi đã hiểu, lòng tôi lại càng thêm kính trọng và thương thầy vô hạn. So với các bậc sư biểu khác trong khoa, thầy Phát có hoàn cảnh rất riêng. Thầy ở vậy phụng dưỡng mẹ già, không lập gia đình. Tôi biết ngày ấy cũng có người đem lòng thương quý thầy, nhưng có lẽ do duyên phận chưa tròn nên cuối cùng thầy vẫn chọn cuộc sống đơn chiếc. Chính trong hoàn cảnh đặc biệt ấy, ở thầy lại toát lên những nét đảm đang, khéo léo hiếm thấy ở một người đàn ông. Thầy nấu ăn rất ngon và chăm sóc cụ Vân – mẹ thầy – vô cùng chu đáo. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được hương vị đặc trưng của các món nước chấm do chính tay thầy pha chế. Thầy từng tự hào kể với tôi, mẹ thầy vốn là người Huế gốc, thuộc dòng dõi vua Thành Thái, thế nên cụ nấu ăn rất khéo và thầy đã may mắn thừa hưởng được trọn vẹn cái tinh tế ấy từ mẹ. Đặc biệt, tôi thấy, sống trong hoàn cảnh như vậy nên thầy dường như dồn hết tình cảm cho mọi người xung quanh, đặc biệt là học trò. Có lẽ, thầy Phát là một trong những người hay cưu mang sinh viên nhất ở khoa Ngữ Văn. Hình như khóa nào cũng có những đứa học trò nghèo, xa quê được thầy dang tay giúp đỡ từ manh áo đến miếng cơm, ngụm nước. Đến giờ, tôi tin chắc rằng, trong ký ức của nhiều thế hệ sinh viên khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hình ảnh thầy Phát và căn phòng nhỏ khoảng chừng 16 mét vuông trên tầng 3 của ngôi nhà số 61B phố Hàng Bồ sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ. Căn phòng ấy không đơn thuần là chốn nương thân của thầy, mà thiêng liêng hơn, đó là tổ ấm nơi chúng tôi đã cùng thầy sống, học tập và trưởng thành. Nơi ấy chẳng có tài sản gì đáng giá ngoài những kệ sách được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, cao sát trần nhà, bao quanh bốn bức tường vôi tróc lở nhưng tràn ngập hơi ấm tình người. Tôi biết, từ căn phòng đơn sơ ấy, biết bao thế hệ học trò của thầy đã tự tin bước ra ngoài đời, trong số ấy có không ít người sau này đã trở thành những giáo sư, tiến sĩ và nắm giữ nhiều cương vị cốt cán trong và ngoài ngành giáo dục. Giờ đây, giữa muôn vàn kỷ niệm ở căn phòng 61B Hàng Bồ ấy, trong tôi còn là nơi lưu dấu những tiếng cười giòn giã của tuổi trẻ, với câu ca tự chế mà chúng tôi vẫn thường nghêu ngao trêu thầy: “Muốn ăn cơm trắng với giò/ Hãy về sáu mốt Hàng Bồ với anh”.
Học thầy, làm việc với thầy, tôi đã sáng ra nhiều điều, nhất là phương pháp nghiên cứu, dạy văn học dân gian. Tôi thấy, trong công việc thầy cẩn thận, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ. Thầy dạy văn học dân gian nên thầy rất thích đi điền dã. Cuộc đời thầy gắn liền với các chuyến đi như thế, đặc biệt là vùng Tây Bắc. Thời mới ra trường, thầy có một thời gian ngắn dạy phổ thông ở Nghĩa Lộ, sau này luận án tiến sĩ của thầy làm về đề tài truyện thơ dân gian các dân tộc thiểu số, cho nên các vùng Mường, Thái, Tày, Nùng, Dao, H’Mông… thầy thuộc vanh vách. Những ai gần gũi với thầy sẽ thấy kiến văn của thầy rất sâu và rộng, đặc biệt là kiến thức liên ngành. Không chỉ dừng lại ở văn học dân gian mà còn cả văn học trung đại. Cũng do ở gần thầy nên tôi đã không ít lần được tháp tùng theo thầy lên Hoà Bình, Sơn La hay Phú Thọ… Đặc biệt thời gian học cao học, ấn tượng về thầy mà tôi không thể nào quên là việc thầy hướng dẫn phương pháp đọc sách và phương pháp nghiên cứu khoa học. Tôi nhớ mãi lớp học của tôi trong giờ xê-mi-na. Có lần thầy nêu câu hỏi và gọi học trò trả lời. Nhiều người chưa gì đã trả lời vấn đề ngay và vấn đề nêu ra không có cơ sở nên thầy đã phải hướng dẫn lại. Tôi nhớ lần ấy thầy đã nói: các bạn muốn biết nó là cái gì thì phải nhìn thấy nó đã rồi mới suy đoán và kết luận. Các anh các chị toàn làm ngược cả. Tất nhiên, lời nói ấy đi cùng với những nét biểu cảm của khuôn mặt đỏ lên và hai tay dằn xuống cùng dáng lưng khom, người cúi xuống. Khi thầy mắng học trò như vậy, nhìn thầy, tôi thấy có phần hơi “đanh đá” chứ không “hiền lành” như lúc thầy trò tếu táo vui đùa với nhau trong căn phòng ở 61B phố Hàng Bồ.
Sau này khi đã học xong rồi, tôi vẫn thường được thầy gọi cho đi đây đi đó. Thầy hay dẫn tôi đi thăm các đình, chùa ở Kinh Bắc và xứ Đoài. Đến đây, mỗi khi nhìn thấy một biểu tượng văn hoá nào đó (con nghê trên các nghi môn hay cặp rồng chầu mặt trời hoặc mặt nguyệt trên các nóc nhà …) thầy lại giảng dạy cho tôi rất cặn kẽ. Không những thế, thầy còn kể cho tôi những thần tích, thần phả của các vị thần, vị thánh; cắt nghĩa cho tôi về các hiện tượng văn hoá có liên quan đến các vị thần, vị thánh đang được thờ phụng trong chính các ngôi đình, ngôi đền. Nói thực, sống ở bên thầy, tôi biết được rất nhiều thứ. Và càng ở gần thầy tôi càng thấy khối lượng kiến thức của thầy vô cùng mênh mông. Đi với thầy, tôi thấy mắt thầy nhìn đâu cũng thấy những biểu tượng, mật mã văn hoá của người xưa gửi vào từng chân cột nhà sàn hay đường kim mũi chỉ thêu thùa trên từng nét hoa văn của mỗi tà áo thổ cẩm. Phải nói rằng, mỗi lần được vỡ ra như vậy, tôi mới hiểu tại sao thầy thường thăng hoa trên bục giảng đến thế. Dù chẳng bao giờ thấy thầy cầm giáo án trên tay nhưng mỗi bài giảng về thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, chèo, truyện thơ hay ca dao, tục ngữ chưa bao giờ học trò thấy chán. Dường như, nghe thầy giảng bài hay nói chuyện người ta thấy thời gian trôi đi rất nhanh. Hết thời gian rồi mà người nghe vẫn còn thấy ít quá, chưa đủ, vẫn còn muốn nghe nữa. Đặc biệt, mỗi khi tôi có gì chưa biết, cần hỏi, gọi điện cho thầy là được trả lời ngay chứ không phải chờ đợi tra cứu hay tìm hiểu rồi mới trả lời. Ở bên thầy, tôi thấy thầy rất mê sách, kể cả sau này khi về hưu rồi thầy vẫn rất hay mua sách. Dường như việc cập nhật tri thức với thầy là không có tuổi, với thầy đúng là học suốt đời. Nhiều khi, gặp sách hay thầy không chỉ mua cho mình thầy mà còn mua cho cả tôi nữa, có lẽ cũng không phải riêng tôi được hưởng đặc ân này. Thầy rất nhiều sách và thầy cũng rất rộng rãi trong việc cho mượn sách. Bạn bè, học trò ai cần là thầy sẵn sàng lấy cho mượn ngay. Lắm lúc, khi cần tư liệu gọi điện hỏi thầy, chưa kịp ra gặp thầy thì tối đến đã thấy thầy đi xe máy mang đến tận nhà đưa cho. Thầy nhiệt tình, cẩn thận và chu đáo đến thế. Nhiều lúc tôi bảo thầy để con ra thì thầy cười xoà, nói rằng, tôi đi có tí thôi ngại gì.
Sống gần thầy, được nghe thầy kể nhiều chuyện, tôi thấy thầy quả là người rất thiện lương. Nhiệt tình chu đáo với mọi người, chia sẻ và yêu thương học trò, thầy cũng luôn nhường nhịn mọi người. Tôi chưa thấy thầy tranh đấu, giành giật với ai cái gì bao giờ. Thậm chí trên con đường khoa cử cũng vậy. Thầy uyên thâm thế nhưng chưa bao giờ quan tâm tới công danh hay học hàm, học vị. Cái học vị tiến sĩ của thầy mãi đến khi sắp về hưu, năm 1997, thầy mới bảo vệ. Và phải đến khi bạn bè, học trò giục giã thì thầy mới chịu làm. Thực ra, hồi đó quy chế đào tạo sau đại học có thay đổi. Muốn tổ chức đào tạo sau đại học thì tổ bộ môn phải có đủ tiến sĩ, giảng viên phải có học vị tiến sĩ trở lên mới được giảng dạy, mặc dù trước đó thầy đã dạy một số chuyên đề cao học. Rồi cái học hàm phó giáo sư cũng vậy. Dường như thầy không quan tâm tới những danh lợi, bon chen. Và cái nét thờ ơ này hình như ngấm sang cả cái ý nghĩ lập danh để đời mà tôi hằng thấy ở không ít người. Chẳng là, tôi thấy rất nhiều bạn bè giục thầy viết sách. Thầy ừ rồi thầy lại để đấy, nên cuối cùng thầy biết rất nhiều nhưng viết ra lại chẳng đáng là bao. Rốt cuộc, đến hết đời, ngoài luận án tiến sĩ “Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số” thầy chỉ viết thêm cuốn “Thi pháp văn học dân gian” (tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học), viết chung cuốn giáo trình “Văn học dân gian” và một vài cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo cho học sinh phổ thông, cùng một số tiểu luận đăng trên các tạp chí. Thầy dù viết ít nhưng những công trình của thầy để lại rất có ý nghĩa, đặc biệt là bản luận án tiến sĩ của thầy. Công trình này có thể xem là một tài liệu tham khảo không thể thiếu được cho bất kỳ ai muốn bước vào thể loại truyện thơ để nghiên cứu, tìm hiểu. Nó có thể xem một tài liệu “nền móng” của “chuyên ngành” truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt thầy là người đã chỉ ra được mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số, thấy được cái kết thúc bi kịch (kết thúc không có hậu) chiếm số lượng áp đảo so với truyện thơ Nôm của người Việt. Có lần tôi bảo thầy tập hợp và in thành sách đi thì thầy ậm ừ nhưng rồi đâu cũng lại vào đấy. Hình như thầy không muốn làm. Sau này tôi nhớ lại, có lần thầy nói với tôi rằng, thầy có một người thầy rất giỏi nhưng thầy chỉ giảng cho học trò thôi. Nhiều người giục ông viết sách nhưng ông cũng chỉ viết rất ít. Sau đó người thân có hỏi ông sao không viết thì thầy giáo ấy đã nói rằng sách viết ra nên “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Phải chăng thầy Phát cũng muốn học người thầy giáo rất giỏi kia chăng?
Nhắc đến thầy Phát, tôi không thể không kể đến những kỷ niệm đẹp là hai lần vợ chồng tôi cùng thầy và cô Bích Hà (và một số cộng sự khác) tham gia làm hai cuốn sách: “Hoài Đức một vùng văn hoá dân gian” (do Huyện uỷ Hoài Đức đặt làm), “Đọc hiểu tác phẩm văn học dân gian trong trường phổ thông” (viết cho nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam), cách đây gần hai mươi năm. Khi làm cuốn “Hoài Đức một vùng văn hoá dân gian” thầy trò chúng tôi đi điền dã khắp huyện Hoài Đức (Hà Nội). Phải nói rằng, càng đi tôi càng thấy con “mắt xanh” của thầy cực kỳ “thông thái” và thấy được phổ tri thức của thầy như biển rộng. Thầy không chỉ giải mã cho tôi thấy được các biểu tượng văn hoá ở trong các nơi tâm linh trên địa bàn Hoài Đức mà còn chỉ cho thấy vai trò của vùng đất này trong quá trình hình thành nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng; mối quan hệ hai chiều mật thiết trên các phương diện địa lý và lịch sử xã hội với Thăng Long - Hà Nội; thấy được tiến trình phát triển liên tục của ba giai đoạn văn hoá tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun) để hình thành nên nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ trên vùng đất Hoài Đức (nay là bốn xã Hoài Đức, Dương Hoà, Sơn Đồng, An Khánh ở Hà Nội), thấy được nguồn gốc của người Việt cổ (những người thuộc nhóm Lạc Việt và Âu Việt - nằm trong khối Bách Việt) đã từng sinh sống trên mảnh đất này, qua các di chỉ khảo cổ. Đây là một điều có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó là minh chứng bác bỏ luận điệu: nền văn hoá Đông Sơn di dịch từ nơi khác (ngoài lãnh thổ nước ta) đến đây. Còn khi làm cuốn sách “Đọc hiểu tác phẩm văn học dân gian trong trường phổ thông”, chúng tôi lại học được thầy tính cẩn thận khi làm tư liệu, cách trau chuốt câu chữ sao cho vang nhạc sáng hình trong những lời bình, chỉn chu trong từng dấu chấm, dấu phẩy sao cho câu văn mạch lạc, cách vận dụng chi thức liên ngành để giảng dạy, phân tích văn học dân gian. Có thể nói, ở bên thầy, mỗi khi nhận được sự chỉ bảo ân cần, chúng tôi luôn cảm thấy mình như vẫn đang được lớn lên và trưởng thành rất nhiều. Và đó không chỉ là những bài học mà còn là những kỷ niệm thầy trò vô cùng ấm áp theo suốt cuộc đời tôi.
Những năm gần đây, khi bước vào độ tuổi bát tuần, trí nhớ của thầy cứ kém dần rồi đến bị lẫn. Tuy thầy bị lẫn nhưng có một nơi thầy không bao giờ quên. Đó là khoa Ngữ Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhiều lần thầy xuống đường đi lạc phải hỏi thăm đường nhưng thầy không hỏi đường về nhà mà cứ hỏi đường về khoa Ngữ Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Cách đây vài ba năm sức khoẻ thầy quá kém, cháu gái của thầy (con của em gái thầy) phải đưa thầy vào Viện dưỡng lão. Kể từ đây ngôi nhà trên phố cổ Hàng Bồ cũng như căn phòng trên tầng 11 của chung cư A6 ở Mỹ Đình mãi mãi là miền hoài niệm trong ký ức của thầy. Dường như, hàng năm nay, thầy không nhận ra ai cả, phải ăn bằng đường truyền. Thầy nằm đấy, bất động trong nhà dưỡng lão nhưng các thế hệ học trò của thầy bảo nhau thường xuyên qua lại thăm thầy. Họ vẫn biết vào đấy không nói gì được với thầy và cũng không nghe được thầy nói câu nào nhưng mọi người vẫn đến. Mọi người đến để ngắm thầy, để cho thầy đỡ tủi thân mà thôi. Nhiều khi tôi ngồi bên thầy cả giờ, xoa xoa bóp bóp cho thầy mà nước mắt không ít lần trào ra vì thương thầy vất vả. Nhưng rồi lại nghĩ, thầy chẳng nhớ gì có khi cũng là may mắn. Bởi chỉ có thế, thầy mới chẳng phải bận lòng về việc chi nữa và những kỷ niệm lưu lại trong thầy sẽ không có sự khổ đau hay bon chen đố kỵ. Tất cả những hình ảnh đẹp về gia đình, đồng nghiệp, thầy trò trong thế giới ký ức tĩnh lặng của thầy giờ đây lúc nào cũng phới phới như “tuổi hai mươi”. Gần đến ngày hội khoa, kỷ niệm 75 năm thành lập khoa Ngữ Văn, tôi lại vào thăm thầy. Nhìn thầy an nhiên trên chiếc giường ga trắng với cặp mắt còn rất tinh anh đưa đi đưa lại mà lòng không khỏi nhói lên đau xót, thương cảm.
Vẫn biết, con người sinh ra ai cũng có số cả nhưng số thầy sao lại truân chuyên đến thế. Thương thầy!
P.A
Người gửi / điện thoại