Nguyễn Hưng Hải
PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG THƠ NGƯỜI LÍNH TĂNG THIẾT GIÁP NGUYỄN HỮU ĐIỀN
Đọc "Đất quê ta", thơ chọn Nguyễn Hữu Điền (NXB Hội Nhà văn, 2026) .
Dù chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhưng bao giờ tôi cũng nghĩ, tác giả Nguyễn Hữu Điền là một chính danh trong Làng thơ nước Việt.
Thơ ông luôn sáng lên một vẻ đẹp của nhân cách, đạo lý và văn hóa. Bởi trên hết và trước hết, ông là một Nhà văn hóa, một người tử tế, một chỗ dựa tinh thần cho nhiều yếm thế ở quanh ông. Chả thế mà những cây bút lão thành như Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, Nhà thơ Kim Dũng, cuộc họp Văn nghệ nào cũng hỏi tôi, Hưng Hải có thấy Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền đến không?!
Tầm ảnh hưởng ấy của ông đủ biết, ông uy tín như thế nào trong lòng những người cầm bút ở Phú Thọ, Đất Tổ - cội nguồn của dân tộc Việt Nam.
Cũng như Thi nhân Hữu Thỉnh bạn ông, tuổi càng cao sức viết càng sung mãn, càng mới lạ. Đọc thơ ông là phải đọc bằng mắt, đọc và ngẫm ngợi, bởi sau từng câu chữ là cả một tấm lòng của người lính Tăng, Thiết giáp với Quê hương, Đất Nước, với Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu...
Ông chỉ viết về những gì mà ông thuộc nhất. Bước ra khỏi cuộc chiến từ lâu nhưng ông và những người đồng đội của ông luôn ý thức: "Khẩu súng trường tinh vi và ngắn lại/ Đường chúng tôi ra trận lại dài thêm" ( thơ Hữu Thỉnh ).
Gặp gỡ và tâm sự với ông nhiều lần, cả khi còn công tác cũng như khi hai chú cháu đều đã nghỉ hưu, bao giờ ông cũng chỉ tủm tỉm cười hoặc quay đi, không cho tôi nhìn thấy những giọt nước mắt của ông vì thương cảm. Đấy là cả một câu chuyện dài, chỉ có ông, Thi nhân Hữu Thỉnh và Tướng quân, Thi sỹ Hoàng Trung Kiên (Tư lệnh Binh chủng Tăng, Thiết giáp )... biết ...!? .
Tôi nghĩ, Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, Nhà thơ Kim Dũng, Họa sỹ Đỗ Ngọc Dũng, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Phú Thọ Nguyễn Đình Thi, cô Đỗ Thị Hồng Đà, tác giả Hồng Đà (mẹ đẻ anh Phan Huy Ngọc, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang) và các đồng nghiệp ở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, Báo và Phát thanh Truyền hình Phú Thọ cũng biết...
Nhưng thôi. Đấy là cả một câu chuyện dài. Rồi sau tôi sẽ viết trong TỰ CHUYỆN NGUYỄN HƯNG HẢI.
Còn bây giờ xin mọi người đi vào chủ đề chính, Phẩm chất bộ đội Cụ Hồ trong thơ Người lính Tăng, Thiết giáp Nguyễn Hữu Điền.
Như tôi được biết thì ngay từ bài thơ đầu tiên xuất hiện trên thi đàn miền Đất Tổ thơ ông đã được mọi người chú ý. Và chỉ sau một thời gian ngắn, thơ ông đã đăng đàn ở khắp nơi. Thơ ông giản dị mà thâm trầm sâu sắc mang đầy triết lý nhân sinh. Ông đã khiến cho mọi người phải dừng lại đọc ông và suy ngẫm...
Đọc ông tôi như thấy hiện lên cả một vùng Kinh đô Văn Lang, thấy Đền Hùng, Ngã ba sông, nơi Đà giang, Lô giang và Thao giang nhập vào làm một, thấy ngã ba Hạc duyềnh lên con sóng đỏ...
Nghề làm báo, may mắn cho tôi được tiếp xúc với ông nhiều lần, được ông tin tưởng quý mến nên tôi biết rất rõ những trở trăn tâm nguyện của ông... ngay cả khi ông là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phú Thọ cũng như khi đã nghĩ hưu.
Tôi cũng như tất cả đội ngũ báo chí, văn nghệ sỹ miền Đất Tổ, ai cũng phải thừa nhận, ghi nhận , ông là một nhà Lãnh đạo giàu tâm đức, luôn dành sự ưu ái quan tâm đến đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ và những người cầm bút... Cũng như Thi nhân Hữu Thỉnh ông đặc biệt quan tâm đến những cây bút lão thành và các tài năng trẻ, ông bảo, đó mới là ngày mai của văn học nghệ thuật Phú Thọ.
Không hiểu sao, vào những khi rất vui, lúc rất buồn, ngồi tĩnh lặng một mình ở quê, nhất là trong những đêm mưa gió tôi lại nhớ đến ông, Thi nhân Hữu Thỉnh, Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, Thi sỹ Kim Dũng, Hoàng Trung Kiên... nhớ đến những ngày còn công tác, hai ông con từng tâm sự nhiều lần cả việc chung và việc riêng ở Văn phòng UBND tỉnh và Văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ. Có lẽ ở hai nơi đó, tôi có nhiều kỷ niệm với ông nhất và không chỉ là với riêng ông. Nơi ấy tôi cũng đã từng gặp chú Hoàng Xuân Cừ, anh Vi Trọng Lễ, anh Nguyễn Đình Thi, chị Nguyễn Thị Kim Hải (phu nhân của Nhà báo Nguyễn Đắc Sinh Nguyên Tổng Biên tập, Chủ tịch Hội Nhà báo tỉnh Phú Thọ, rất hiền hậu và tử tế).
Có lẽ chính vì vậy mà đọc ông, tôi luôn thấy sự đồng điệu, gặp gỡ tâm hồn mình, thấy cả miền đất tâm linh, văn hóa cội nguồn trong đó.
Là người lính Tăng, Thiết giáp bước ra từ trận mạc nên ông thấu hiểu đến tận cùng của mất mát hy sinh, của máu xương nước mắt. Và ông đã luôn biết hy sinh vì người khác.Thơ ông cũng vậy. Tôi đọc, thấy một sự dấn thân, một tự nguyện dâng hiến, một tấm lòng nhân hậu, luôn đẫm đầy nước mắt vì những nỗi đau, những nỗi niềm nhân thế.
Thời thế trong thơ ông là những ký ức buồn và đẹp. Tôi đọc và thấy hiện lên trong thơ ông những trang sử hào hùng của dân tộc, thấy những người lính Tăng, Thiết giáp ở Trường Sơn, trong buổi trưa ngày 30/4 ở trước cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, thấy trung du Phú Thọ đang vươn mình, thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở cùng 34 chiến sỹ dưới bóng đa Tân Trào, thấy " Bác Hồ đang cùng con cháu hành quân, bước vào trận chiến mới trong Kỷ nguyên vươn mình...
Ông viết khá thành công về Bác.Thơ viết về Bác Hồ của ông như là lời Tuyên thệ , lời hứa dưới cờ Đảng quang vinh. Ông đã khắc tạc được chân dung Bác một cách sinh động nhất. Tôi đọc thấy tỏa sáng từ thơ ông ánh nắng của ban mai, tỏa ngát từ thơ ông như hương sen của Làng Sen, quê Bác.
Xuyên suốt mấy chục năm cầm bút là một Nguyễn Hữu Điền mê đắm đi theo cái Đẹp và luôn biết tôn lên những vẻ Đẹp của nhân cách và đạo lý ... Ông làm thơ bằng cả niềm đam mê với một ý thức công dân đầy trách nhiệm.
" Đất quê ta", tập thơ ông tự chọn là minh chứng thuyết phục cho nhận định và khẳng định định này. Tập thơ đẹp một cách sang trọng không chỉ ở hình thức mà nội dung trong đó chứa đựng rất nhiều vẻ đẹp của tình đời, tình người, về đức hy sinh, lòng chung thủy, về ý chí kiên trung, lòng quả cảm. Bao trùm lên tất cả là vẻ đẹp vĩnh hằng của lịch sử và văn hóa.
Là một Nhà văn hóa nên ngay từ cách đặt tên cho tập thơ của ông đã như là một sự rất khiêm nhường. Nhưng đằng sau đó là sự nhắn gửi gì ta có biết không? "Đất quê ta" là Đất Tổ cội nguồn, là Dân tộc Việt Nam đấy!?
Quê ta như mọi miền quê Đất Nước.Và như mọi người dân nước Việt, ông yêu Quê hương, Đất Nước, hết lòng vì Quê hương, Đất Nước, há chẳng phải là phẩm chất tuyệt vời của Bộ đội Cụ Hồ sao!?
"Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn". Nhưng trong sáng đến mức độ nào thì chỉ có thể soi mình vào cuộc đời của Bác mới biết, mình đã học tập và làm theo Bác chưa, mình có thực lòng yêu Bác không?! Đọc thơ của người lính Tăng, Thiết giáp Nguyễn Hữu Điền viết về Bác, tôi cứ rưng rưng xúc động, vì ông viết bằng cả tấm lòng, bằng trái tim của một người lính Cụ Hồ luôn ý thức rõ ràng về trách nhiệm của người lính mà Bác từng căn dặn ở Đền Hùng: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đó cũng thông điệp của" Đất quê ta".
"Đất quê ta", tập thơ ông tự chọn được chia làm 2 phần. Phần một là Quê hương, Đất Nước. Phần hai là gia đình, đồng đội... Gọi là chia ra như thế nhưng "Đất quê ta" xuyên suốt một chủ đề, một tư tưởng, một thông điệp.
Đất Tổ, nơi tụ hồn thiêng sông núi giống nòi, nơi khởi nguyên của hai tiếng đồng bào, cả dân tộc chung một ngày giỗ Tổ. Nơi ấy là ĐẤT QUÊ TA. Và "Đất quê ta" của Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền là đất Mẹ, thấm đẫm hồn quê, hồn làng, hồn dân tộc trong từng câu chữ.
Sinh ra và lớn lên ở Bạch Hạc, nơi Tiến sỹ Thượng Thư Nguyễn Bá Lân từng thốt lên trong bài NGÃ BA HẠC PHÚ: "Xinh thay ngã ba Hạc/ Đẹp thay ngã ba Hạc/ Dưới hợp một dòng / Trên chia ba ngác" nên từ thưở ấu thơ ông đã được tắm mình trong vẻ đẹp của Quê hương. Và ở đấy ông cũng đã sớm nhận ra sự không bình thường, dưới thì tụ hội mà trên thì chia tan...
Thiên nhiên và lòng người có điều gì không ổn chăng?! Nơi có cây Chiên đàn, có những đàn Hạc trắng bay lên từ bãi bồi Bạch Hạc này: Thuở hồng hoang đất này là biển cả/ Các cuộc tạo sơn không ngừng biến hóa/ Biển lùi xa dần, bờ bãi mọc lên/ Hàng triệu năm sau đâu đã có tên". Và đâu chỉ Bạch Hạc quê ông, cả dải đất hình chữ S này, từ khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, nước Việt mới có tên. Tự hào về miền quê đã sinh thành ông đã viết sử bằng thơ về làng mình: "Chúng tôi sinh ra Bạch Hạc đã có rồi/ Lịch sử thăng trầm với bao biến cố/ Có lúc vinh quang, có khi gian khó/ Nhưng đời nào cũng lấp lánh những vì sao".
Là người lính Cụ Hồ bước ra từ trận mạc, cả đời gắn bó, góp sức dựng xây miền Đất Tổ, chính ông cũng là một vì sao như thế đâu chỉ ở trong thơ? Có hạnh phúc nào bằng khi ông luôn được Đảng quý, Dân tin, người Đất Tổ kính trọng và tin tưởng, đặc biệt là đội ngũ trí thức văn nghệ sỹ.
Cũng như bao gia đình trong kháng chiến chống Pháp, gia đình ông "Cha vào Thanh niên xung phong/ Thực hiện tiêu thổ kháng chiến/ Mẹ phải gánh tôi trong thúng/ Dắt anh chạy theo dân làng". Dưới gót dày quân xâm lược là thế nên ông luôn ý thức: "Tổ tiên cho ta hãnh diện giống Tiên - Rồng/ Bác nhóm lửa triệu trái tim không nguội/ Đất của cha ông là máu xương nguồn cội/ Chuyện Loa thành thuở trước vẫn còn đau".
Không chỉ thuở trước đâu mà hiện giờ chúng ta cũng đang đau, rất đau vì bao kẻ trở cờ, lật sử, bôi đen và tẩy trắng còn đang nhởn nhơ ở ngoài vòng pháp luật. Chúng đang quay lưng lại nguồn cội, giống nòi, máu xương nước mắt của cha ông. Thơ ông lúc này như hồi chuông báo động: "Người lính ấy bây giờ ở đâu/ Mưa nắng sẽ ra sao nếu không còn Tổ Quốc/ Buồn vui sẽ ra sao nếu không có Bác/ Liệu những đàn chim Lạc biết đường bay?".
Lo lắng, trở trăn và những lời cảnh báo ấy của ông cho chúng ta ý thức: "Cả nước đồng lòng hátTiến quân ca/ Hoàng Sa, Trường Sa trong hình chữ S/ Tuổi trẻ lại sẵn sàng hy sinh vì Tổ Quốc/ Cùng các Cựu chiến binh tiếp khúc quân hành/ Yêu hòa bình ta đâu sợ chiến tranh”.
Đất Nước đã thanh bình nhưng đừng quên cảnh giác vì lũ giặc vẫn liên tục ngó dòm, đâu có để chúng ta yên. Ông như đang nói cùng những người đồng đội, nói với thế hệ trẻ, với đồng chí Nguyễn Hữu Đông và các con ông: "Những người lính ngàn năm của Đất nước Vua Hùng/ Năm ấy đã ngồi đây cùng nhau nghe Bác nói/ Trong im lặng thiêng liêng ai từng nghe Bác hỏi/ Đất Vua Hùng chim Lạc khởi từ đâu?"
Khởi từ lúc cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ chia nửa đàn con đi khai thiên phá thạch... Khởi từ ông, khởi từ bạn ông Thi nhân Hữu Thỉnh và bao nhiêu người lính trong thức ngộ, cảnh tỉnh: "Cây đổ về nơi không có nhát rìu".
Đất Nước đã không còn chiến tranh. Nhưng trận mạc của lòng người đâu đó, có khi còn khủng khiếp hơn cả ngàn tấn bom đạn. Cùng những người đồng đội trở lại chiến trường xưa, viếng thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Vũng Chùa, với một tấm lòng thành, kính vô hạn, thơ ông như một nén tâm hương: "Vũng Chùa rực ánh nắng chiều/ Viếng thăm Anh Cả rất nhiều vòng hoa/ Nhân dân cả nước ngợi ca/ Kiên trung trong sáng mãi là tấm gương/ Xin Đại tướng nhận tuần hương/ Của đoàn thăm viếng chiến trường năm xưa". Chỉ mộc mạc thế thôi mà cảm động vì ông đã nói thay cho bao tấm lòng người dân nước Việt đời đời ơn Đại tướng, Người đã cùng với Bác Hồ viết lại Lịch sử của Dân tộc.
Luôn nói và làm theo Bác. Phẩm chất bộ đội Cụ Hồ trong thơ Nguyễn Hữu Điền vì thế mà dù có va đập như thế nào vẫn vẹn nguyên chất thép. Đó cũng là thông điệp của Phần 1 "Đất quê ta ".
"Đất quê ta", phần 2 của tập thơ là những cảm xúc dạt dào sâu lắng của ông về gia đình, những người thân yêu ruột thịt, về người lính thời bình và những ký ức, những cật vấn, những soi chiếu... cả ước mơ, hy vọng của ông trước Kỷ nguyên vươn mình.
Thương cha mẹ đến thắt lòng. Ứa nước mắt khi nghĩ về cái thời một cổ hai tròng, sống cuộc đời nô lệ, một tấc đất cắm rùi cũng không. Tôi như thấu cảm được ước mơ, khát vọng của người dân cày trong khao khát: "Mẹ cha ước mong ruộng đất/ Đặt tên các con Đồng - Điền/ Cha là ông Bụt, ông Phật/ Mẹ là cô Tấm, cô Tiên".
Đó cũng là ước mơ khát vọng của bao người nông dân Việt Nam thời thực dân phong kiến. Nhờ có Bác mà gia đình ông cũng như bao gia đình có ruộng, có miếng cơm manh áo, có tự do độc lập, quyền được sống, được làm người. Thơ ông lúc này như được viết bằng ơn nghĩa.Và ơn nghĩa phải được đáp đền bằng ơn nghĩa. Ông và thơ ông đã thay mặt cha mẹ ông tuyên ngôn rõ ràng về điều này như một chân lý.
Ơn Bác, người lính Nguyễn Hữu Điền không quên nhắc mình, nhắc nhở những người thân: "Phải biết hy sinh/ Giúp đỡ người khác/ Không tham tiền bạc/ Lao động cần cù/ Quảng đại giao du/ Nhưng phải tỉnh táo/ Khi gặp giông bão/ Không lơi tay chèo/ Nhà mình còn nghèo/ Phải nuôi chí lớn".
Dưới trên không hòa thuận gia đình làm sao yên. Xã hội cũng vậy thôi!? Khi đâu đó hôm nay bao nhiêu cái còn lại bị đánh đau, cái bỏ đi lại được bắc cầu cho lên thì những câu thơ trên, như lời tự thức của ông đã là một sự trả lời về lý trí và nhân cách sống.
Gia đình trong thơ ông luôn là nỗi day trở nhiều âu lo, thắc thỏm nhưng luôn ấm áp, luôn là hướng đến của mọi gia đình. Thơ viết về vợ của Tú Xương là tuyệt bút. Thơ ông viết về vợ cũng là tuyệt bút ở Phú Thọ trong cảm thông, chia sẻ này: "Ngày em về làm dâu/ Cũng là ngày làm vợ/ Và là ngày làm mẹ/ Chẳng dễ dàng gì đâu/ Công việc ngập lút đầu/ Không có tuần trăng mật/ Chú thím thương em vất/ Thường an ủi xẻ chia/ Hàng xóm nói nọ kia/ Gây nên nhiều phiền toái/ Nhưng em chẳng e ngại/ Đón nhận để vượt qua". Ở hoàn cảnh này sao mà ông giống Thi nhân Hữu Thỉnh đến vậy!?
Hình như Nhà thơ nào cũng có Thơ viết về bà, về mẹ, về vợ... Nhưng thơ viết cho con gái , con dâu thì chưa nhiều. Có lẽ chính vì vậy mà thơ của Thi sỹ Nguyễn Hữu Điền viết cho con dâu khiến tôi phải dừng lại, phải đọc đi đọc lại nhiều lần, đọc và suy ngẫm và liên tưởng. Thơ lúc này như không phải là thơ nữa mà là nước mắt, là tấm lòng, là gửi gắm của cả một gia đình, trước hết là của ông, một người bố chồng sinh nhiều con trai: "Nhà mình hiếm con gái/ Bố mẹ quý con dâu/ Cả nhà hiểu lẽ phải/ Thươmg yêu nhường nhịn nhau "Chỉ có thể là một người cha mẫu mực, một người tử tế mới có thể thốt lên như thế.Và như thế, như thế thơ ông mới thấm đẫm nỗi đời, mới đầy triết lý nhân sinh, mới nâng tầm ông lên.
Là người rất cẩn trọng và kín đáo mà ông trải lòng như vậy, phải là sau rấ nhiều đắn đo, suy nghĩ... Tôi như học được ở ông một thái độ sống, một trách nhiệm sống mang đầy vẻ đẹp của văn hóa... Ông thực sự đã trở thành một tấm gương của lòng nhân hậu, của đức hy sinh, của bản lĩnh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, luôn biết nhóm nhen lên ngọn lửa của tình yêu thương cho mọi người cùng sưởi ấm, cùng tỏa lan bao nỗi niềm ấm lạnh của thời thế và nhân thế.
Trong cuộc chiến chống giặc nội xâm hôm nay, những viên đạn bọc đường đã giết chết bao người lính bước ra từ trận mạc, bao tài năng, danh tiếng... vì không chiến thắng được chính mình.Tôi, Nguyễn Hưng Hải rất sợ những nhân danh Ánh sáng để triệt hạ những người tài đức, không có USD để thao túng... Và bao giờ tôi cũng tin Nhà thơ Nguyễn Hữu Điền không phải là người dễ mua chuộc. Vì tôi biết ông, tin ông cũng như Thi nhân Hữu Thỉnh luôn cảnh giác, vì hai ông quá biết vì sao phải "Tôi dựa vào tôi lặng lẽ bước qua đường" ?!.
Sự băng hoại về đạo đức, lối sống ở đâu đó hôm nay làm ông day dứt, tiếc nuối...
Nhưng ông cũng như Thi nhân Hữu Thỉnh, Hoàng Trung Kiên trong bão giông vẫn luôn tin tưởng: "Lính thời bình tiếp sức chúng tôi/ Giữa đạn nổ bom rơi năm anh em vẫn hát/ Giờ có lúc giật mình đớn đau mất mát/ Khi trở về nơi ấy Trường Sơn".
Trường Sơn , nơi Bác Hồ từng đau đớn , nhắn gửi rằng: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn/ Cũng phải dành cho được tự do, độc lập". Và những người lính như ông, Nguyễn Hữu Điền, như bạn ông Thi nhân Hữu Thỉnh, Thi sỹ Hoàng Trung Kiên đã đi vào lửa đạn vẫn cười như không, đã có bữa cơm buổi trưa ngày 30/4 /1975 ngay trong Dinh Độc Lập. Như thế hỏi còn hạnh phúc nào hơn với những người lính Tăng, Thiết giáp?!
Quá khứ sau lưng là Lịch sử. Chỉ có tôn trọng Lịch sử mới có thể hướng tới Tương Lai. Cả dân tộc đã và đang mở lòng tay, bắt tay với cả 5 châu 4 biển. Nhưng trên khắp các châu lục, chiến tranh vẫn xảy ra và bây giờ chiến tranh đã khác chiến tranh xưa?!
Lòng yêu nước là cội nguồn sức mạnh. Chủ có dũng cảm thôi chưa đủ mà tài thao lược và binh pháp cũng phải khác...
Và tôi tin người lính Tăng, Thiết giáp Nguyễn Hữu Điền trong tin tưởng này: "Chẳng biết bây giờ Trường Sa nắng hay mưa/ Các anh thức hay mới vừa đổi gác/ Quanh tháp pháo vẫn như thời trận mạc/ Tôi nghe đài, đọc báo vững tâm hơn/ Chưa đến Trường Sa nhưng chúng tôi biết Trường Sơn/Những người lính trở về vẫn vẹn nguyên chất thép".
Đất quê ta, ta phải giữ. Vì đất quê ta là nhúm nhau nước Việt, là bọc trứng đồng bào, là cả nước chung một ngày giỗ Tổ.
Đất quê ta là đất có chủ quyền như: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"?!
Đất quê ta là đất lành chim đậu, là nơi LÒNG NGƯỜI ĐẸP NHƯ GẤM HOA, Đây cũng là nơi đáng sống, nơi ảo diệu và bồng bềnh như ở chốn bồng lai tiên cảnh... Hồ công viên Văn Lang có nhiều đêm trăng lên mưa xuống còn mộng mơ, đẹp và buồn hơn cả sông Hương ...
Sự tôi luyện trong chiến tranh đã làm nên chất thép trong người lính Nguyễn Hữu Điền.Và chất thép trong thơ ông sẽ là bài học cho lớp trẻ trong tôi luyện rèn rũa, nung qua LỬA.
Đất Nước, cũng như ĐẤT QUÊ TA hôm nay không thiếu TÀI NĂNG, chỉ thiếu NGƯỜI TÀI ĐỨC, HIỀN TÀI. Bởi chỉ có thực sự là HIỀN TÀI mới là NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA!? Không tuyên ngôn về điều này nhưng tôi thấy hiện lên trong từng câu chữ của ông tâm nguyện đó.
Xuyên suốt và bao trùm lên cả 2 phần của tập thơ "Đất quê ta" là thông điệp, chỉ có trái tim mới đến được trái tim, chỉ có cái ĐẸP mới là CỨU CÁNH...
Khúc khải hoàn ca sau cùng, Nguyễn Hưng Hải xin mời các bạn đến với các ca khúc "Đất quê ta, Chim đậu đất lành, Chiến sỹ Công an nhân dân, Kỷ niệm tháng tư, Nhớ Lăng Cô... là những thi phẩm của ông được phổ nhạc.
Tôi có cảm giác thơ ông đã chắp cánh cho những bản nhạc, những ca khúc ấy bay lên, ngân vang và còn ám ảnh mãi trong lòng người về ĐẤT QUÊ TA.
N.H.H