HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
(Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ VI
và phương hướng hoạt động nhiệm kỳ VII)
- Căn cứ Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 14/6/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Hướng dẫn số 37/HD-MTTW-BTT ngày 07/5/2026 của Ban Thường trực - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc Hướng dẫn Một số nội dung về tổ chức Đại hội các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương nhiệm kỳ 2026 – 2031; Hướng dẫn số 163- HD/ BTGTW ngày 13/8/2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương về Đại hội các Hội Văn học nghệ thuật và Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam; Điều lệ Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam khóa VI, nhiệm kỳ (2019 – 2024).
Được sự đồng ý của Ban Chỉ đạo Đại hội các Hội văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các ban, bộ, ngành, cơ quan chức năng, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã triển khai công tác chuẩn bị và tổ chức Đại hội chi hội cơ sở tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Toàn thể hội viên đã tham gia ý kiến xây dựng chi hội và các văn bản trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII nhiệm kỳ 2026-2031 của Hội.
Trong không khí cả nước hăng hái thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng; kỷ niệm 136 năm Ngày sinh nhật Bác; 81 năm Ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam và các ngày lễ trọng đại khác. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nhiệm kỳ (2026-2031) Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam được long trọng tổ chức. Hàng ngàn hội viên đang hướng về Đại hội với những kỳ vọng mới, tạo bước ngoặt lớn trong tiến trình hơn 30 năm xây dựng và phát triển của Hội.
Mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn, mất mát của đại dịch Covid-19, của thiên tai, chiến tranh thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng do xung đột ở một số khu vực… song đất nước ta đã vững bước vượt qua, thu được những thành tựu rất đáng tự hào về ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc phòng, trật tự, xã hội làm cho“Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Cả dân tộc đang nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước đề ra nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết XIV của Đảng để bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và công nghệ số trở thành xu thế, tạo cơ hội hợp tác ngày càng sâu rộng, thuận lợi hơn cho tiếp thu tri thức, thu hút các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến trong đó văn hóa, văn học nghệ thuật. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị Quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam… đã tạo chuyển biến tư duy lý luận về văn hóa, văn nghệ; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành về “phát triển văn hóa ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số” được nâng cao.
Có thể thấy, chủ nghĩa yêu nước và nhân văn vẫn là chủ lưu chính của văn học nghệ thuật đã gắn bó với dân tộc, nỗ lực phản ánh chân thực cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân, nhiều loại hình văn học và nghệ thuật thể hiện qua đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng của dân tộc tạo nên những tác phẩm tốt, đặc biệt là vùng căn cứ địa của hai cuộc kháng chiến và những vấn đề thời sự của đất nước. Trong đời sống văn nghệ chung của cả nước, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước phát triển mới. Đội ngũ văn nghệ sĩ của dân tộc thiểu số đã được bổ sung thêm nhiều hội viên được đào tạo tốt, tác phẩm, công trình ngày càng chất lượng, văn học nghệ thuật của các dân tộc đạt được những kết quả thiết thực. Công tác bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số được thực hiện đồng thời với nhiệm vụ sáng tạo những giá trị mới về văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc.
Đất nước đang có những thay đổi mang tầm vóc lịch sử: từ 64 tỉnh, thành phố sau sáp nhập còn 34; xây dựng hệ thống chính quyền địa phương hai cấp (bỏ quận, huyện); tinh giản biên chế, bỏ cấp trung gian; sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; sắp xếp tinh gọn lại phường xã hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Từng chi hội, hội viên của Hội đã kịp thời thích ứng với những thay đổi lớn lao đó bằng những hoạt động sáng tạo, đưa tác phẩm văn học nghệ thuật của mình theo kịp bước tiến của đất nước, dân tộc, thời đại.
Ban Chấp hành khóa VI kính trình Đại hội Đại biểu lần thứ VII dự thảo báo cáo: Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Phần thứ nhất
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC NHIỆM KỲ VI (2020 - 2025)
Trước những biến động khó lường của thế giới và khu vực, cơ hội, thuận lợi đan xen với khó khăn, thách thức, đất nước ta có được những kết quả rất đáng tự hào. Trong sự phát triển chung của đất nước, vùng dân tộc và miền núi có những bước phát triển rõ rệt, an ninh quốc phòng được giữ vững, kinh tế, văn hóa xã hội có nhiều thay đổi từ cơ sở hạ tầng đến đời sống kinh tế, văn hóa, đây là kết quả của hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/NQ-TW năm 1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nhiều chính sách, chương trình, dự án đầu tư, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã làm cho đời sống nhân dân nhiều vùng đồng bào dân tộc được cải thiện rõ rệt; công tác xóa đói giảm nghèo thu được nhiều kết quả. Trên lĩnh vực phát triển văn hóa xã hội, một số đề án về bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc của Nhà nước đang được triển khai thực hiện ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam Bộ; văn hóa truyền thống của dân tộc được tôn trọng, giữ gìn, phát huy. Cồng chiêng Tây Nguyên; Thực hành Then của Tày, Nùng, Thái; Nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, dịch bệnh, thiên tai, kinh tế miền núi và các vùng dân tộc thiểu số vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển ở vùng thấp, miền xuôi; nhiều vùng dân tộc tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân cả nước. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan chưa được đẩy lùi triệt để; một số giá trị tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số có nguy cơ mất đi hoặc ngày càng mai một. Hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, truyền thông, Internet, mạng xã hội đem lại nhiều lợi ích cho người dân. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch cũng lợi dụng để tác động vào tư tưởng, tình cảm đội ngũ lãnh đạo, trí thức, cán bộ làm công tác văn hóa. Chúng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo; kích động, lôi kéo, gây rối, bạo động, tiếp tay cho sự can thiệp của các thế lực thù địch chống phá từ bên ngoài.
Những năm qua, đội ngũ văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số luôn ý thức về trách nhiệm công dân và trách nhiệm của người nghệ sĩ trước Đảng và Nhân dân, các hội viên của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn của cuộc sống nỗ lực sáng tác, trở thành những “chiến sĩ” trên mặt trận văn hóa văn nghệ, nhiều công trình, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị cao, tiêu biểu tương xứng với tầm vóc, lịch sử của đất nước, dân tộc trong các cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, đặc biệt là thời kỳ đổi mới trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hoá của Đảng, tích cực đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” và những âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.
- CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO HỘI NHIỆM KỲ VI (2020-2025)
Nhiệm kỳ VI, Lãnh đạo Hội chủ trương hướng mạnh các hoạt động về miền núi và đồng bào dân tộc, tập trung vào những vùng miền, cơ sở mới thành lập hoặc hoạt động yếu, tổ chức một số hội thảo để tăng cường xây dựng phát triển Hội; tổ chức các đợt đi thực tế và mở trại sáng tác nhằm khai thác di sản văn hóa, đời sống và thế mạnh địa phương.
Miền núi và dân tộc chứa đựng nhiều tiềm năng cho công việc sáng tạo, Việt Bắc, Tây Bắc, Miền trung, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ là những vùng lãnh thổ mà các dân tộc cùng chung sống lâu đời với nhiều di sản văn hóa, lịch sử, nghệ thuật đặc sắc, phong phú; cũng đang là nơi đang chuyển mình ngoạn mục cùng đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Những thế mạnh này đã và đang được các văn nghệ sĩ khai thác và thử sức trong sáng tạo. Đề tài sáng tác được đề cập ở nhiều góc độ: truyền thống đấu tranh cách mạng và kháng chiến, sự đổi thay của quê hương, di sản văn hóa tốt đẹp của các dân tộc.
Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới, trong nhiệm kỳ qua, Hội đã triển khai kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ văn nghệ sỹ dân tộc thiểu số và những người dân tộc Kinh đã hoạt động gắn bó, tâm huyết với miền núi và đồng bào cùng nhau đoàn kết, tích cực sáng tạo, cống hiến phát triển văn học nghệ thuật, góp phần củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, thúc đẩy phong trào văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Từng bước củng cố, đổi mới hoạt động của Hội và các tổ chức cơ sở ở các địa phương nhằm nâng cao khả năng tập hợp, động viên phát huy tiềm năng sáng tạo và phát triển đội ngũ văn nghệ sỹ người dân tộc thiểu số.
Cuộc vận động sáng tác học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đông đảo hội viên hưởng ứng, tạo chuyển biến từ nhận thức chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ không ngừng học tập hoàn thiện trong sáng tác và nhận được nhiều giải thưởng của Ban Tuyên giáo Trung ương. Những hoạt động giao lưu văn hoá, nghệ thuật nhân ngày 19/4 hàng năm - kỷ niệm ngày Bác Hồ gửi thư cho Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946, nay được chọn là ngày Văn hoá các dân tộc8 được đông đảo hội viên hưởng ứng bằng các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh phong phú và hiệu quả thiết thực.
Cùng với việc thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hội đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) Về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong nhiều nhiệm vụ của Nghị quyết, tập trung triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ văn hoá, đối với Hội là xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ trong các dân tộc thiểu số; có kế hoạch phát hiện bồi dưỡng sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh bằng nhiều hình thức và trong điều kiện của Hội như: hỗ trợ sáng tạo, trao giải thưởng, cử người theo các lớp tập huấn, mở trại sáng tác đối với lực lượng trẻ, vinh danh những văn nghệ sỹ cao tuổi đã có nhiều cống hiến... Những công việc này chính là nhằm giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc thiểu số, đó là tiếng nói, chữ viết, trang phục, là lễ hội truyền thống, là các giá trị văn hoá tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng. Hơn nữa, lực lượng trẻ sẽ là đối tượng tạo nền móng cho việc đổi mới phương thức hoạt động của Hội; đồng thời khuyến khích nhân dân sáng tạo, trao truyền và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc.
Hàng trăm tác phẩm nghệ thuật văn xuôi, thơ, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh… đã đóng góp vào văn học nghệ thuật nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị. Sự đổi thay lớn lao của các vùng, miền, dân tộc, gia đình, cá nhân tại các làng, buôn, phum, sóc… đã được phản ánh thông qua nhiều bút pháp, nhiều góc nhìn đầy sống động. Các di sản văn hóa được sáng tạo qua bao thế hệ được gìn giữ, tiếp tục phát huy, phát triển. Những nét đẹp của con người, sắc phục, kiến trúc đền tháp, chùa triền, nhà ở, những làn điệu dân ca, điệu múa được thể hiện từ những nhạc cụ của dân tộc đã đến với bạn bè trong nước và thế giới. Những danh lam thắng cảnh, phong tục tập quán, ẩm thực đặc sắc đang thu hút khách du lịch trong và ngoài nước góp phần nâng cao đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của nhân dân.
III. VỀ HOẠT ĐỘNG SÁNG TÁC, CÔNG BỐ TÁC PHẨM
Sáng tác và công bố tác phẩm là hoạt động chính của Hội, là kết quả đánh giá thành tích của Hội đối với xã hội, là thể hiện việc thực hiện đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và nhiệm vụ do Đảng, Nhà nước giao. Sáng tác bao gồm các công việc: tổ chức trại sáng tác, đi thực tế, tài trợ sáng tác, triển lãm, in sách, biểu diễn, công bố tác phẩm, giải thưởng sáng tác VHNT của Hội hàng năm.
Trong nhiệm kỳ VI (2020-2025), Hội VHNT các DTTS Việt Nam đã tổ chức 31 trại sáng tác với hơn 620 lượt hội viên dự trại, trong đó có 6 trại cho tác giả trẻ. Các trại được tổ chức tương đối đều tại các vùng miền tạo điều kiện cho những hội viên tập trung thời gian hoàn thành tác phẩm; gặp gỡ, trao đổi nghề; xây dựng các ý tưởng mới. Phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ sáng tác VHNT tổ chức mỗi năm từ 2 đến 3 trại tại các Nhà sáng tác của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; phối hợp với Vụ Văn hóa dân tộc (Bộ VHTTDL) và với một số tỉnh, thành phố tổ chức được 9 đoàn đi thực tế sáng tác tại một số địa phương như Hà Giang, Sơn La. Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, các tỉnh Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long (cũ). Từ các chuyến đi thực tế, hội viên được thâm nhập vào đời sống nhân dân, lấy tư liệu, tạo cảm xúc phục vụ sáng tác. Đây cũng là cách tạo thêm hiểu biết giữa lãnh đạo các địa phương, đồng bào các dân tộc, chiến sĩ bảo vệ biên cương tổ quốc đối với văn nghệ sĩ.
Kinh phí Hỗ trợ tác phẩm VHNT được Hội thực hiện nghiêm chỉnh theo Quyết định số: 583/QĐ-TTg về việc tài trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình trong văn học nghệ thuật. Hội đồng nghệ thuật của Hội đã thẩm định, chọn lọc và quyết định hỗ trợ gần 750/2.600 bản thảo của 8 loại hình nghệ thuật (văn xuôi, thơ, âm nhạc - múa, mỹ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, văn nghệ dân gian, lý luận phê bình) chất lượng bản thảo được xếp theo thứ tự loại: I, II, III, IV.
Trong nhiệm kỳ, Hội đã tổ chức triển lãm mỹ thuật khu vực Hà Nội, ngoài ra các họa sĩ và nghệ sĩ nhiếp ảnh đã tham gia nhiều triển lãm chuyên ngành, triển lãm tại địa phương, vùng miền, khu vực, triển lãm nhóm, tham gia các giải quốc tế; nhiều hội viên đã đạt được các giải thưởng ở trong và ngoài nước.
Nhiều hội viên được tuyển chọn tác phẩm in trong Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam" giai đoạn I (2015-2020) và in tại các hội chuyên ngành mà hội viên tham gia. Bên cạnh đó, nhiều hội viên đã được các quĩ, cơ quan tài trợ hoặc tự in tác phẩm bằng kinh phí cá nhân.
Một số thể loại nghệ thuật mà Hội khó có điều kiện tổ chức công bố như âm nhạc, múa, điện ảnh, các văn nghệ sĩ đã sáng tác và công bố tác phẩm tại các đơn vị chuyên môn là nhà hát, đoàn nghệ thuật, các đài phát thanh, truyền hình, các cuộc liên hoan nghệ thuật, trong các dịp Ngày thơ Việt Nam, Tết Nguyên tiêu, tổ chức giới thiệu tác phẩm tại địa phương và trên các mạng xã hội để công bố và lan tỏa văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số.
Trong nhiệm kỳ VI (2020-2025) đã trao 495 giải thưởng VHNT hàng năm của Hội. Chất lượng tác phẩm được xếp theo A, B, C, KK (khuyến khích). Số giải thưởng được xét từ các tác phẩm được các hội viên gửi đến Văn phòng Hội. Giải thưởng của Hội đã góp phần thúc đẩy các nghệ sĩ cả nước sáng tác, gửi tác phẩm tham gia giải thưởng hàng năm. Nhiều tác giả đạt giải đã trở thành những nghệ sĩ nòng cốt, lan tỏa phong trào thi đua, hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật của Hội và địa phương.
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHUYÊN NGÀNH
- Văn học, vẫn đang là thể loại nổi trội của văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số, trong đó có thơ. Hàng năm, số tác phẩm gửi về Hội để dự giải thưởng và xét đầu tư nhiều nhất là thơ. Một số nhà thơ đã được nhận giải thưởng cao ở trong nước và quốc tế. Đặc biệt là sáng tác thơ song ngữ ngày càng có nhiều tác giả. Số tác phẩm thơ sáng tác bằng tiếng dân tộc thiểu số cũng ngày càng nhiều hơn, sự thay đổi về hình thức nghệ thuật thơ cũng được chú ý hơn. Về văn xuôi đã có sự phát triển về ngôn ngữ, có bút pháp linh hoạt hơn trong cách thể hiện. Một số vấn đề lớn ở vùng dân tộc thiểu số đã được các tác giả đề cập đến. Các cây bút nữ trong những năm qua cũng đã đem đến cho văn học dân tộc thiểu số nhiều tác phẩm văn xuôi và thơ có giá trị, đây là điều ít thấy ở các thời kỳ trước đây. Trong số các tác giả văn học đang sung sức hiện nay, có người đang hoàn thành những bộ tiểu thuyết nhiều tập, đó là điều mới mẻ trong văn học dân tộc thiểu số.
- Mỹ thuật, đều đặn hàng năm vẫn có một số tác phẩm được xét giải thưởng và nhiều phác thảo được hỗ trợ đầu tư sáng tác. Các tác giả cũng tham gia đều đặn những cuộc triển lãm của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, các Hội chuyên ngành, các khu vực hoặc các đơn vị tổ chức. Đây vốn là mặt mạnh của văn nghệ dân tộc thiểu số nhưng chất lượng mỹ thuật của các dân tộc thiểu số trong 5 năm qua ít có sự chuyển đổi. Nhiều tác phẩm cách thể hiện vẫn theo lối mòn, chưa có sự đổi mới, đột phá. Trước tình hình như vậy, việc tổ chức hội thảo về chất lượng và sự đổi mới về mỹ thuật cần sớm phải đặt ra.
- Điện ảnh, phổ biến vẫn là các phim tài liệu nghệ thuật về dân tộc và miền núi, thường được chiếu trên truyền hình Việt Nam. Mặc dù Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có một Trung tâm Điện ảnh, nhưng trong suốt những năm qua, chỉ vài ba tác phẩm phim truyện được trình chiếu. Hàng năm, có một số kịch bản phim truyện được hỗ trợ sáng tác nhưng chưa được dựng thành phim, chưa có bộ phim nào có hình tượng con người miền núi thật sự ấn tượng. Mặc dù không gian văn hóa, phong cảnh, con người miền núi rất thích hợp để làm những bộ phim hay nhưng cho đến nay lĩnh vực này vẫn còn để ngỏ. Đội ngũ làm phim trẻ là người dân tộc thiểu số thiếu hẳn thế hệ kế cận sau này. Thực trạng này cần phải sớm có biện pháp khắc phục, cần quan tâm đào tạo và xây dựng đội ngũ làm phim trẻ là người dân tộc thiểu số.
- Nhiếp ảnh, đã có thêm một số tác giả mới, số hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam là hội viên chuyên ngành nhiếp ảnh ngày càng nhiều. Các tác phẩm ảnh hiện nay tập trung vào một số đề tài: gia đình, phong cảnh, đời sống sinh hoạt, lao động, học tập của người dân miền núi. Có nhiều bức ảnh đẹp đã ghi lại những khoảng khắc thời gian, cuộc sống rất sinh động. Nhiều tác phẩm đạt giải trong nước và quốc tế. Trong những năm qua, nhiếp ảnh dân tộc thiểu số đã có một số tác phẩm thành công trong việc phản ánh đề tài công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phong cảnh, du lịch. Nhiếp ảnh ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống của người dân miền núi. Nhưng số tác giả nhiếp ảnh người dân tộc thiểu số vẫn chỉ tập trung ở một số tỉnh Việt Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh, rất thưa vắng ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Nguyên nhân của sự thưa vắng này là do nhiếp ảnh cần phải có sự đầu tư lớn mua máy móc, phụ kiện, tiền in ấn… nghệ sĩ nhiếp ảnh phải có điều kiện kinh tế tương đối khá để đi tác nghiệp.
- Múa, trước đây là bộ môn nghệ thuật đặc sắc và phong phú nhất của các dân tộc. Hiện nay, số người hoạt động về chuyên ngành múa chỉ còn làm công tác của diễn viên, số biên đạo có kinh nghiệm dày dạn nay đã cao tuổi không còn hoạt động, biên đạo trẻ hầu như không có. Những năm qua không có tác phẩm nào xuất sắc, nếu có cũng chỉ là một vài tiết mục dàn dựng cho các lễ hội của một số tỉnh hoặc các đoàn nghệ thuật. Hiện nay, có một thực tế nhiều diễn viên múa khi lên sấn khấu đã sử dụng lẫn lộn trang phục các dân tộc thiểu số; hoặc, các điệu múa cổ truyền của dân tộc thiểu số vốn đã trở thành giá trị cổ điển nay bị cải biên trở thành xa lạ đối với công chúng, khiến cho khán giả, nhất là người miền núi tỏ ra bất bình.
- Âm nhạc, đã có thêm một số ca sĩ trẻ có thành tích biểu diễn được kết nạp vào Hội. Một số ca sĩ đã thành danh vẫn tiếp tục công việc ở các đoàn nghệ thuật, trong các cơ sở đào tạo và thường xuyên tham gia biểu diễn. Hàng năm, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã đầu tư không nhỏ và trao không ít giải thưởng cho các tác giả âm nhạc. Tuy nhiên vẫn còn rất ít tác phẩm được công chúng biết đến, sức sống và sức lan tỏa trong phạm vi cả nước còn rất hạn chế.
- Sưu tầm, số hội viên tham gia lĩnh vực này tương đối đông. Hàng loạt tác phẩm văn học, âm nhạc, múa, truyện cổ, truyện thơ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca, sách luật tục, sách giáo huấn và nhiều văn bản người xưa ghi chép bằng các loại chữ cổ… được sưu tầm khá đầy đủ, ghi chép tỉ mỉ, công phu. Có thể nói chuyên ngành sưu tầm trong 5 năm qua đã hoạt động hiệu quả. Tuy vậy cũng có những mặt tồn tại cần phải khắc phục. Cụ thể là, một số văn bản trước đây đã được sưu tầm nghiên cứu, nay lại sưu tầm lại nên có sự trùng lặp, hoặc người sưu tầm do chưa biết chọn văn bản nên đã sưu tầm cả một số văn bản chất lượng kém, tốn thời gian và công sức hiệu quả lại ít.
- Nghiên cứu lý luận phê bình, mặc dù luôn luôn được quan tâm và tập trung đầu tư cho lĩnh vực này trong suốt cả nhiệm kỳ vừa qua nhưng cho đến nay, chuyên ngành nghiên cứu và lý luận phê bình vẫn chưa đáp ứng được tình hình phát triển của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Các chuyên ngành nghệ thuật chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống đặc biệt là mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh… Hiện nay có rất ít người làm công tác nghiên cứu lý luận phê bình là người dân tộc thiểu số. Tình trạng nghiên cứu lý luận phê bình trong những năm vừa qua chưa bắt kịp sự phát triển của cuộc sống. Số người làm công việc này đều đã già, lớp trẻ, người kế cận chưa có ai.
Đánh giá chung: Thời gian qua văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã có những bước trưởng thành rất đáng tự hào. Trước hết phải kể đến đội ngũ văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số xuất hiện khá đông đảo, đã được Hội tập hợp trong một khối đoàn kết và thúc đẩy sáng tạo, có thêm nhiều tác phẩm phục vụ đồng bào các dân tộc. Trong các ngành nghệ thuật thì văn học và mỹ thuật có sự phát triển nhanh về đội ngũ và chất lượng. Đáng chú ý là văn xuôi, nay đã có lực lượng khá đông đảo. Thơ dân tộc thiểu số đã có những đóng góp đáng kể vào nền thơ ca cả nước và có bản sắc riêng.
Đề tài sáng tác từ chỗ tập trung cho nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước, con người mới thì hiện nay biên độ sáng tác đã mở rộng hơn rất nhiều. Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số đã từng bước bắt nhịp vào đời sống của đồng bào dân tộc, ca ngợi cái mới cái tốt đẹp, đồng thời cũng có phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác, có tác phẩm cổ vũ động viên, có tác phẩm đi sâu vào khai thác thân phận con người dân tộc vả miền núi.
Thể loại phong phú, đa dạng hơn; nhiều tác giả mạnh dạn tìm tòi thể hiện lối viết, văn xuôi, lý luận phê bình, điện ảnh trước đây mới manh nha hình thành thì giai đoạn này đã có lực lượng tuy chưa đông đảo nhưng đã có thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều giải thưởng quốc gia, quốc tế được trao cho tác giả người dân tộc thiểu số.
Điều đáng mừng là ngày càng nhiều tác giả người dân tộc thiểu số có ý thức và quan tâm nhiều hơn đến việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ và sáng tác song ngữ. Công tác sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc những năm qua đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Hàng trăm công trình sưu tầm, nghiên cứu, biên dịch các loại hình văn nghệ dân gian của người Khmer Nam Bộ, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thái, Dao, HMông và các dân tộc ở Tây Nguyên cùng nhiều dân tộc khác của các tác giả dân tộc thiểu số được sưu tầm, biên dịch, biên soạn công phu và có giá trị cao đã ra mắt bạn đọc và bạn bè quốc tế.
- HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VÙNG MIỀN
Hội VHNT các DTTS Việt Nam có gần 1.500 hội viên, sinh hoạt ở 47 chi hội tại 46 tỉnh, thành phố (cũ) - 32/34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập, riêng tỉnh Thái Nguyên có 02 chi hội (Chi hội VHNT các DTTS Việt Nam tỉnh Thái Nguyên và Chi hội VHNT các DTTS Việt Nam của Bảo tàng VH các dân tộc Việt Nam). Các chi hội cơ bản đã phát huy được vai trò của mình, nhiều chi hội mới thành lập nhưng cũng đã chủ động triển khai các hoạt động nghề nghiệp, khai thác tiềm năng văn hóa, nghệ thuật các dân tộc trên địa bàn đồng thời tổ chức đi thực tế, giao lưu, trao đổi với các tỉnh bạn. Văn nghệ sĩ của Hội đã tắm mình trong kho tàng văn hóa, văn học nghệ thuật và đời sống của đồng bào các dân tộc. Nghiên cứu, gìn giữ, khai thác, sáng tác những tác phẩm nghệ thuật, nâng cao các giá trị văn hóa vùng miền, khu vực, dân tộc đó đem lại nhiều kết quả và hy vọng lớn.
Đông Bắc gồm Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh (cũ) đã cố gắng trong những hoạt động của mình, mặc dù lực lượng hội viên ở địa bàn biên giới, địa phương còn nhiều khó khăn nhưng các hội viên đã thu được những kết quả rất đáng tự hào, công bố nhiều tác phẩm, công trình, nhất là trong lĩnh vực văn học và nhiếp ảnh. Những tỉnh Trung du như Bắc Ninh là vùng đất có nhiều giá trị văn hóa văn nghệ truyền thống của các dân tộc, đồng thời ở đây cũng đang diễn ra những thay đổi lớn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã có nhiều hoạt động đáng được ghi nhận.
Trong 5 năm qua, các chi hội văn nghệ dân tộc thiểu số các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc (cũ) đã gắn kết các hoạt động của một vùng văn hóa, từ việc tổ chức, giao lưu cho đến việc trao đổi nghề nghiệp. Chúng ta ghi nhận ở đây những đóng góp của những hội viên lão thành… Kế tiếp thế hệ này đang xuất hiện những gương mặt mới trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, sáng tác, biểu diễn, truyền bá tri thức văn nghệ dân gian.
Với một lực lượng gồm các tác giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ biểu diễn thuộc nhiều thành phần dân tộc ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc với những tiềm năng phong phú, đặc sắc của văn hóa, lịch sử, văn nghệ dân tộc ở vùng văn hóa này đã, đang và sẽ tiếp tục được khai thác và phát huy.
- Khu vực Bắc Trung bộ (Miền Trung)
Miền Trung gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế (cũ), là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” nơi sản sinh những vĩ nhân, đại thi hào, danh nhân văn hóa thế giới, danh tướng lẫy lừng; vùng đất của nhiều di tích lịch sử, các dân tộc anh dũng kiên cường thủy chung son sắt với cách mạng. Vùng đất có những điểm du lịch với vẻ đẹp hùng vĩ. Là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, nhiều di sản vật thể, phi vật thể đặc sắc, độc đáo được thế giới công nhận vẫn đang được gìn giữ, phát triển trở thành một trong những đại diện văn hóa Việt Nam.
Với những đặc điểm đặc biệt của kiến tạo địa lý, khí hậu đến lịch sử, văn hóa, con người, những di sản quý báu đó đã và sẽ trở thành tiềm năng, niềm mong mỏi cho những sáng tạo văn học nghệ thuật thành công, góp phần vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thúc đẩy vùng đất này giàu mạnh.
- Khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên
Trường Sơn - Tây Nguyên có các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, tỉnh Khánh Hòa, Bình Phước, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận (cũ) là vùng văn hóa mang tính riêng rất đặc trưng, có núi, có sông, có biển, nơi sinh sống của nhiều dân tộc có truyền thống đấu tranh cách mạng anh dũng trong hai cuộc kháng chiến đang phát triển nhanh trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, công nghiệp, du lịch hiện nay.
Thế mạnh của văn hóa, văn học nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên là âm nhạc, múa, điêu khắc dân gian, kiến trúc, sử thi... Từ truyền thống phong phú và độc đáo của các dân tộc đi lên, nền âm nhạc và múa của khu vực này đã tạo dựng được nét đẹp vừa cổ kính, hoang sơ, vừa mộc mạc trữ tình, sâu lắng. Những giá trị nghệ thuật độc đáo của vùng đất này đã tạo dựng nên tên tuổi của nhiều nghệ sĩ tiêu biểu của các dân tộc qua nhiều thế hệ.
- Vùng văn hóa dân tộc Chăm
Đồng bào Chăm cư trú chủ yếu dọc duyên hải miền Nam Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và An Giang (Tây Nam Bộ), dân tộc Chăm có khoảng trên 13 vạn người. Di sản văn hóa của dân tộc Chăm khá đồ sộ, phong phú trong đó có âm nhạc và múa. Thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Dân tộc Chăm sớm có chữ viết nay còn lưu lại nhiều áng văn thơ bất hủ, những bộ sử liệu quý giá và các pho sách cổ. Công tác sưu tầm, phục dựng những di sản văn hóa Chăm đã thu được nhiều kết quả đáng kể.
Có thể nói, những gì có được của nền văn học nghệ thuật Chăm hôm nay là kết quả kế thừa và phát triển nền văn hóa Chăm truyền thống và công cuộc đổi mới đất nước đem lại.
6.Văn hóa Khmer Nam Bộ
Dân tộc Khmer ở nước ta cư trú tập trung ở miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh. Dân tộc Khmer có chữ viết khá sớm. Người Khmer theo đạo Phật Tiểu thừa. Các phum sóc đều có chùa để tiến hành các nghi thức tôn giáo.
Nhà chùa vừa là nơi dạy chữ Pali, chữ Khmer và kinh Phật, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa của phum sóc. Vùng Nam Bộ hiện nay hầu hết các tỉnh đều có đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Các phum sóc có đội văn nghệ dân gian Khmer. Sân chùa là nơi tổ chức các cuộc biểu diễn lưu động tại cơ sở. Đồng bào Khmer rất say mê với nghệ thuật biểu diễn. Ngoài các nghệ sĩ biểu diễn múa, ca hát, nhạc cụ, sân khấu còn có những tác giả kịch bản và đạo diễn sân khấu khá hùng hậu. Kịch bản sân khấu đều sáng tác bằng tiếng Khmer, Sân khấu Dù kê Khmer Nam Bộ cho đến nay vẫn được duy trì, các đoàn nghệ thuật Khmer vẫn phục vụ bà con những vở diễn mới động viên đồng bào dân tộc tích cực xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, kêu gọi lòng nhân ái theo tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật lấy từ các tích xưa trong truyện cổ Khmer để giáo dục con người.
Tuy đội ngũ tác giả văn học nghệ thuật vùng Khmer Nam Bộ còn mỏng so với tiềm năng văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ, nhưng cái đáng quý là hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật của các văn nghệ sĩ bằng ngôn ngữ dân tộc Khmer gắn liền với cội nguồn truyền thống văn nghệ dân gian phong phú, có vị trí quan trọng trong đời sống, tình cảm, tâm hồn của bà con Khmer nên được nhân dân đón nhận.
- Văn hóa cộng đồng người Hoa
Người Hoa ở Việt Nam cư trú ở nhiều tỉnh trong cả nước, nhưng tập trung nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và miền Tây Nam Bộ, tự nguyện gia nhập cộng đồng các dân tộc Việt Nam qua nhiều thế hệ.
Văn học nghệ thuật trong cộng đồng người Hoa hoạt động sôi nổi và tập trung nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và chủ yếu khai thác vốn văn hóa truyền thống như phát triển nghệ thuật múa lân-sư-rồng, nghệ thuật thư pháp, tranh thủy mặc, biểu diễn ca múa nhạc dân gian vùng Triều-Quảng…
Chúng ta trân trọng những đóng góp của các họa sĩ người Hoa. Tuy vậy, nhìn chung các lĩnh vực sáng tác âm nhạc, sân khấu, điện ảnh còn ít tác giả người Hoa. Lĩnh vực văn học lực lượng còn mỏng. Người Hoa ở miền Tây Nam Bộ, nơi mà xưa kia Mạc Thiên Tích đã lập ra tao đàn Chiêu Anh Các thì ngày nay đội ngũ tác giả trẻ kế cận còn thưa thớt.
Tóm lại: 5 năm qua bên cạnh nhiều chi hội chủ động triển khai các hoạt động khá tốt tại các địa bàn Việt Bắc, Tây Bắc, Miền Trung, Trường Sơn - Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh, các tổ chức cơ sở Hội và hội viên thuộc thành phần dân tộc hoạt động trong các chuyên ngành văn học nghệ thuật, tùy theo điều kiện khả năng của mình đã làm nên một vườn hoa nhiều hương sắc.
Tuy nhiên, một vấn đề tồn tại cần sớm có biện pháp khắc phục là còn một số dân tộc ít người ở nước ta chưa có văn nghệ sĩ của dân tộc mình. Chúng ta hy vọng với sự nghiệp giáo dục, văn hóa ở miền núi đang được đẩy mạnh hiện nay sẽ có thêm nhiều trí thức, văn nghệ sĩ trẻ, đại diện cho tiếng nói, trí tuệ và tâm hồn của dân tộc mình trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Một số chi hội chưa cố gắng trong tổ chức cho hội viên hoạt động, không tổ chức sinh hoạt và đại hội đúng thời hạn, không thu đủ hội phí và báo cáo về Trung ương Hội, đây là những tồn tại cần sớm có biện pháp khắc phục.
- THỰC HIỆN ĐỀ ÁN, HỘI NGHỊ, HỘI THẢO
Hội đã tiếp tục thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam" giai đoạn I (2015-2020)” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đã xuất bản 1.500 / hơn 2.500 đầu sách với đầy đủ các thể loại: văn, thơ, nghiên cứu sưu tầm, văn nghệ dân gian của phần lớn tác giả là người dân tộc thiểu số, trong đó có một số sách ảnh, sách nhạc, mỹ thuật có nội dung phản ánh đời sống của đồng bào các dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hiện đang chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.
- Nhằm tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số phát triển, nhiệm kỳ qua Hội đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo tại các khu vực, vùng miền như: Miền Trung -Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc, Việt Bắc, Hà Nội với nhiều nội dung quan trọng, như: Hội thảo “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số với cách mạng và kháng chiến”; hội thảo khoa học “Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Hội Văn hóa các dân tộc Việt Nam (nay là Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam)18/11/1991-18-11/2021; hội thảo “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới”; hội nghị “Công tác chi hội VHNT các DTTS Việt Nam khu vực Tây Nam Bộ”; hội thảo “Nhà thơ Nông Quốc Chấn với quá trình phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số trong những năm qua”; hội thảo “Sắp xếp, tinh gọn, hợp nhất các tổ chức, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thống nhất trong đa dạng”… Thực hiện Kế hoạch 390-KH/BTGTW về tổ chức các hoạt động Tổng kết 50 năm nền văn học nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất, Hội tổ chức hội thảo “Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số - thống nhất trong đa dạng” tại Miền Trung – Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và khu vực Miền Bắc.
- Về tôn vinh danh nhân: Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Nông Quốc Chấn (18/11/1923 – 18/11/2023) Hội phối hợp với UBND tỉnh Bắc Kạn long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) các ngày 17-18/11/2023, khái quát quá trình sáng tác và những đóng góp của nhà thơ đối với quê hương, đất nước; nêu bật công lao của nhà thơ đối với văn hóa, văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số cũng như trong công tác quản lý văn hóa; là tấm gương đối với nhiều thế hệ văn nghệ sỹ dân tộc thiểu số.
VII. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN THƯỜNG TRỰC HỘI
- Ban Chấp hành Trung ương Hội
Ban Chấp hành Trung ương Hội được Đại hội Đại biểu lần thứ VI bầu 21 thành viên. Căn cứ Điều lệ Hội, BCH đã bầu Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch, 7 Ủy viên Thường vụ. Ban Chấp hành đã phân công, phân nhiệm đến từng thành viên. Trong quá trình hoạt động, BCH đã thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và cơ bản họp BCH theo quy định (ngoại trừ bất khả kháng về chống đại dịch Covid-19 và khó khăn kinh phí của năm 2024). Ban Chấp hành luôn đề cao tính dân chủ, công khai, minh bạch. Các nghị quyết phần lớn đã được triển khai sau cuộc họp.
Đánh giá chung, BCH nhiệm kỳ VI đã cơ bản hoàn thành hoàn thành nhiệm vụ mà Đại hội quyết nghị (có báo cáo Ban Chấp hành khóa VI riêng).
- Ban Kiểm tra Trung ương Hội
Ban Kiểm tra Trung ương Hội được Đại hội bầu 5 thành viên, phụ trách các khu vực gồm: 01 ở Hà Nội, 01 ở Việt Bắc, 01 ở Tây Bắc, 01 ở Tây Nguyên và 01 ở Phía Nam. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, Ban Kiểm tra đã thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm kiểm tra, giám sát các tổ chức hội và hội viên theo Điều lệ, Quy chế, Nghị quyết của BCH Hội và thực hiện đúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Xem xét, đề xuất biện pháp giải quyết các đơn thư tố cáo, các sai phạm của các hội viên và thành viên các cơ quan Hội. Nội bộ của Ban Kiểm tra đoàn kết, công tâm, tôn trọng các nguyên tắc trong thực hiện công việc.
Đánh giá chung là Ban Kiểm tra đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo quy định của Điều lệ Hội (có báo cáo riêng của Ban Kiểm tra khóa VI).
Văn phòng là bộ phận tham mưu giúp việc cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội và các hoạt động của Hội về mặt tổ chức, tài chính, hành chính: quản lý hồ sơ, các chế độ chính sách đối với cán bộ, nhân viên, hội viên, chuẩn bị các văn bản, lưu trữ công văn đi - đến, quản trị, quản lý bất động sản, động sản của văn phòng, lập kế hoạch hàng năm, quí, tháng, trả lời công văn, chuẩn bị nội dung các cuộc họp, báo cáo các ban, bộ, ngành theo định kỳ và đột xuất…
Phòng Hành chính: phối hợp tổ chức các trại sáng tác, các đoàn đi thâm nhập thực tế, tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, vinh danh; tổ chức để hội đồng nghệ thuật chấm, xét và tổng hợp kết quả giải thưởng và hỗ trợ sáng tạo hàng năm; chuẩn bị cho các cuộc họp BCH, tổ chức tổng kết trao giải thưởng và công bố kết nạp hội viên mới; thăm hỏi hội viên ốm đau, hội viên cao tuổi, phúng viếng hội viên từ trần.
Phòng Kế toán tài chính: quản lý ngân sách Nhà nước cấp cho Hội, quản lý thu chi tài chính của Văn phòng Hội. Các hoạt động tài chính của Hội dựa trên nguồn chính từ ngân sách Nhà nước cấp, cụ thể (có báo cáo tài chính riêng). Trong khả năng kinh phí hạn hẹp - vì chưa có nguồn thu nào khác, kế toán tài chính cố gắng thực hiện việc chi tiêu, kể cả khi kinh phí về chậm hoặc vướng mắc thủ tục từ cấp trên vẫn cố gắng cho các hoạt động được triển khai ở mức hợp lý để duy trì các hoạt động chính của Hội. Việc thu chi tài chính vẫn đảm bảo theo hướng dẫn và các quy định của Nhà nước, được Bộ Tài chính kiểm tra và quyết toán hàng năm.
Nhìn chung, Văn phòng Trung ương Hội đã có nhiều cố gắng hoàn thành công tác giúp Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Hội trong triển khai, quản lý các hoạt động chuyên môn, quản lý tổ chức. Cơ quan Văn phòng tạo điều kiện để cán bộ được đi học chính trị, nghiệp vụ. Phân công, phân nhiệm khá cụ thể; đồng thời cán bộ, người lao động trong văn phòng có tinh thần hỗ trợ, giúp đỡ nhau để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, Văn phòng Trung ương Hội vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ, kịp thời, chất lượng như yêu cầu công tác của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Hội đồng Nghệ thuật, Ban Kiểm tra trước đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động Hội.
- Hội đồng nghệ thuật Trung ương Hội
Theo chức năng, nhiệm vụ trong Điều lệ Hội khóa VI (nhiệm kỳ 2019-2024) quy định, Ban Chấp hành đã bầu Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật, các thành viên được tuyển chọn là các chuyên gia, người có chuyên môn cao, uy tín từ các chuyên ngành để thẩm định, chọn các tác phẩm để trao giải thưởng và xét duyệt bản thảo xin tài trợ hàng năm. Hội đồng đã đề ra các biện pháp, phương thức tổ chức phù hợp báo cáo Ban Thường vụ, BCH nhằm nâng cao chất lượng trong xét chọn tác phẩm nghệ thuật theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, Nhà nước.
Các thành viên Hội đồng nghệ thuật cơ bản đã tổ chức làm việc khoa học, công tâm, khách quan với đầy đủ trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, không phải không còn những sai sót do cả nể, ưu tiên với người thân quen, người cao tuổi, tác giả gặp khó khăn… chủ yếu trong xét (hỗ trợ sáng tạo). Trong quá trình chấm giải có ý kiến khác nhau về chất lượng tác phẩm được giải, mặc dù theo qui định loại giải thưởng được tính số phiếu nhận được từ cao xuống thấp nhưng những tác phẩm có ý kiến chưa thống nhất trong các Tiểu ban chuyên ngành sẽ được báo cáo lên Hội đồng nghệ thuật xét chung khảo giải quyết.
Nhìn chung, Hội đồng nghệ thuật đã hoạt động đúng theo quy chế của BCH và yêu cầu ngày càng cao của các tác phẩm văn học nghệ thuật về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
- Công tác hội viên, thi đua khen thưởng
Ban Công tác hội viên và Thi đua khen thưởng, trong nhiệm kỳ VI đã kết nạp được 255 hội viên mới. Độ tuổi trẻ nhất 25 tuổi độ tuổi cao nhất 72 tuổi.(1)
Trong nhiệm kỳ VI đã tặng Bằng khen cho 17 đơn vị và 90 cá nhân. Tặng Kỷ niệm chương cho 79 hội viên.
Nhiệm kỳ VI có hơn 40 hội viên từ trần, trong đó có 01 Phó Chủ tịch, 01 Ủy viên Ban Thường vụ. Số hội viên bị khai trừ 01, số hội viên bị kỷ luật 01 người. Hội đã thăm hỏi hội viên ốm đau, từ trần; giao các chi hội sử dụng hội phí thăm viếng hội viên, gia đình hội viên đau ốm hoặc mất.
Nhìn chung trong nhiệm kỳ VI, Ban Chấp hành, lãnh đạo cơ quan thường trực Hội đã cố gắng quan tâm cao nhất đến công tác hội viên, ngoài việc xét kết nạp hội viên một cách công tâm, công bằng nhất có thể, vẫn có cơ chế ưu tiên cho các chi hội, cá nhân có tính đặc thù như chi hội quá ít hội viên, chi hội quá nhiều hội viên cao tuổi, hội viên người Kinh có khả năng nghề nghiệp và cống hiến cho văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số vượt trội. Có chế độ ưu tiên kết nạp cho dân tộc rất ít người để Hội có điều kiện tiếp tục giúp đỡ, bồi dưỡng.
Trong các sự kiện hoạt động như triển lãm tranh, ảnh, tác giả giới thiệu tác phẩm, ngày thơ Việt Nam… của chi hội, hội viên, Hội cử đại diện lãnh đạo đến dự hoặc gửi hoa chúc mừng.
--------------
(1) Cụ thể dân tộc thiểu số gồm, người Khmer:12; Tày: 32; Thái:10; Mường: 7; Hoa: 7; Nùng: 8; Tà Ôi: 2; Ê Đê: 2; Mông: 1; Dao: 1; Pa Cô: 1; Chrau Jro: 2; H’re: 1; Hà Nhì: 1; Sán Chỉ: 01; Chăm: 01; Cơ Tu; 02; Giáy: 01; Lô Lô: 01 còn lại là dân tộc Kinh. Trong đó lĩnh vực văn học là 94 người, âm nhạc - múa là 27 người, mỹ thuật 38 người, nhiếp ảnh 33 người, văn nghệ dân gian 36 người, điện ảnh 9 người, lý luận phê bình 8 người, quản lý: 03, biên tập: 04, xuất bản: 03. Các tỉnh có hội viên được kết nạp trong nhiệm kỳ VI gồm: Hà Nội, Nghệ An, Lào Cai, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, An Giang, Cà Mau, Bến Tre, Quảng Bình, Sóc Trăng, Khánh Hòa, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bắc Kạn, Kiên Giang, Quảng Ninh, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Nông, Cao Bằng, Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Thừa Thiên - Huế, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Gia Lai, Bắc Ninh, Bình Phước, Kon Tum, Sơn La, Phú Thọ, Trà Vinh, Hải Dương, Bạc Liêu, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ).
------------
- Tạp chí Văn hóa các dân tộc
Tạp chí Văn hóa các dân tộc là cơ quan ngôn luận của Hội, trong nhiệm kỳ VI, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí nhưng tạp chí đã phối hợp với Trung ương Hội duy trì phát hành, từ 1 số/tháng giảm xuống 2 tháng /số, tính đến tháng 02/2024 đã phát hành được 24 số, đảm bảo các chuyên mục, chất lượng bài, tin theo qui định, giới thiệu được nhiều tác phẩm của hội viên. Tạp chí đã bám sát, đưa tin các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về văn hóa, văn học nghệ thuật, các sự kiện chính trị lớn, quan trọng chuyển tải đến hội viên và những người yêu thích văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số. Từ tháng 3 năm 2024 đến nay, do ngân sách Nhà nước dành cho tạp chí không còn, đồng thời chưa tìm được nguồn nào thay thế nên tạp chí phải tạm dừng in và phát hành.
Tạp chí đã góp phần quan trọng vào tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa; công bố tác phẩm văn học nghệ thuật của hội viên; đây cũng là món ăn tinh thần quan trọng của hội viên và độc giả yêu văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số.
Nhìn lại: trong nhiệm kỳ qua, Lãnh đạo Hội, các cơ quan trực thuộc Hội đã hết sức cố gắng thực hiện các hoạt động hiệu suất, hiệu quả nhất. Duy trì sự đoàn kết thống nhất của Hội. Tổ chức được nhiều hoạt động chuyên môn như trại sáng tác, đi thâm nhập thực tế, hội thảo, tôn vinh nghệ sĩ. Đã cố gắng duy trì Tạp chí của Hội trong điều kiện không có kinh phí thời gian khá lâu. Tiếp tục thu hút, tập hợp được thêm nhiều tài năng, trong đó có văn nghệ sĩ của các chuyên ngành khác, trí thức trẻ tham gia Hội tạo nguồn lực mới cho sự phát triển của Hội. Nhiều chi hội hoạt động hiệu quả trong những điều kiện ít thuận lợi. Các cơ quan trực thuộc Hội đã khắc phục những khó khăn về nhân lực, nguồn lực kinh phí, thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ triển khai các hoạt động theo kế hoạch và đột xuất.
VIII. HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
- Sự chênh lệch về đội ngũ văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn có khá lớn. Có những dân tộc có số văn nghệ sĩ đông, có mặt trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng có những dân tộc có số dân không hẳn là ít nhưng lực lượng văn nghệ sĩ lại ít, thậm chí chưa có. Có vùng, địa phương mỗi năm xuất hiện gần chục tác giả trẻ, tác giả mới nhưng cũng có vùng, có địa phương vài ba năm không có thêm tác giả mới.
- Vốn sống của các văn nghệ sĩ về thực tiễn vùng dân tộc và miền núi còn khoảng cách. Các văn nghệ sĩ chúng ta chưa thực sự đi sâu vào đời sống đồng bào mình, chưa gắn bó máu thịt với cuộc sống sôi động đang diễn ra ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc, còn ít tác phẩm có nội dung tư tưởng và nghệ thuật cao có thể cuốn hút và hấp dẫn đông đảo độc giả và khán giả vùng đồng bào dân tộc và cả nước.
- Hoạt động liên kết với các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp… về văn hóa dân tộc còn yếu; một số bộ, ngành xây dựng cơ chế, chính sách chưa phù hợp để khuyến khích sáng tạo. Chưa có phương pháp, hình thức phổ biến những kinh nghiệm tốt về hoạt động câu lạc bộ, trình diễn văn nghệ dân gian, trao truyền dân ca, dân vũ, âm nhạc truyền thống, ngôn ngữ dân tộc… mà một số chi hội, địa phương, hội viên đã làm khá tốt.
- Khả năng thực hiện công nghệ thông tin trên không gian số của phần lớn cán bộ, nhân viên Trung ương Hội cũng như chi hội, hội viên còn rất hạn chế, do đó chưa tận dụng được những ưu việt của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và chuyển đổi số mang lại.
- Việc sáp nhập tỉnh liên quan đến sáp nhập các chi hội, nhiều vấn đề phát sinh sau sáp nhập như: tên gọi chi hội tỉnh sáp nhập, bố chí cán bộ chi hội làm việc, quãng đường đi lại lớn gây khó khăn cho sinh hoạt chi hội, kinh phí hoạt động và hội họp, tổ chức sự kiện…
Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số đã có nhiều thành tựu, nhất là sau hơn 30 năm đổi mới, tuy nhiên trong 5 năm qua vẫn còn hạn chế ở nhiều lĩnh vực, cả những lĩnh vực có thế mạnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế cần phấn đấu khắc phục. Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng chủ yếu là những nguyên nhân sau:
- Mặc dù đời sống vật chất và tinh thần vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi tích cực, nhưng so với mặt bằng chung của cả nước vẫn còn thấp. Anh chị em văn nghệ sĩ dân tộc ở phân tán các vùng miền, ít có điều kiện trao đổi sáng tác, giao lưu, học hỏi với bạn bè quốc tế. Các tác giả người dân tộc thiểu số chưa được bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao nhận thức chính trị, kinh tế, xã hội và nghiệp vụ sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu.
- Việc xuất bản, công bố tác phẩm khó khăn do các văn nghệ sĩ không có điều kiện in sách, mở triển lãm, thiếu công nghệ và kỹ năng sử dụng công nghệ.
- Một số Chi hội địa phương hoạt động chưa có nhiều hiệu quả, chưa có các hình thức hoạt động thích hợp để thúc đẩy sáng tạo.
- Việc phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cho thành viên BCH phụ trách các địa bàn chưa cụ thể nên thành viên BCH gặp khó khăn trong hoạt động, công tác khi đi liên hệ làm việc với lãnh đạo địa phương và chi hội khu vực và các tỉnh.
- Trong xu thế phát triển chung của xã hội, nhiều văn nghệ sĩ khi được đào tạo trưởng thành lại rời quê hương, làng bản về sống và làm việc ở thị xã, thành phố, xa vùng dân tộc, xa quê hương bản quán nên ít nhiều có khoảng cách với vùng quê sáng tạo của mình. Vì vậy tác phẩm của các văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số cũng chưa phản ánh thật đậm nét và sâu sắc chân thực cuộc sống hiện tại của vùng dân tộc thiểu số.
- Việc tự học, tự đào tạo nâng cao trình độ công nghệ số của cán bộ, hội viên chưa thật sự mạnh, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hiện nay đòi hỏi.
Nhằm khắc phục một số vướng mắc sau sáp nhập tỉnh, thực hiện Nghị quyết hội nghị BCH lần thứ 9, Hội đã ra Quyết định thành lập chi hội lâm thời, chỉ định ban chấp hành, chi hội trưởng, chi hội phó (đối với các chi hội sáp nhập). Yêu cầu các ban chấp hành lâm thời các chi hội có trách nhiệm chuẩn bị và tổ chức đại hội để bầu ban chấp hành mới hoạt động theo Điều lệ Hội VHNT các DTTS Việt Nam.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NHIỆM KỲ VII (2026 - 2031)
Nhiệm kỳ VII (2026 -2031) của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam hoạt động trong lúc sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được nhiều thành tựu to lớn mang tính bước ngoặt; cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn” đã thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, tăng năng xuất lao động góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, hạ tầng cơ sở. Thu nhập bình quân người dân được cải thiện rõ rệt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; uy tín, vị thế của Việt Nam ngày một nâng cao trên trường quốc tế. Văn hóa, văn học nghệ thuật được Đảng, Nhà nước quan tâm thúc đẩy phát triển; những chủ trương, chính sách đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội và phát triển văn hóa, con người đang được thực thi ngày một cụ thể, hiệu quả.
Toàn cầu hóa, hợp tác, hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng 4.0 và kinh tế số đang là xu thế, là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về kinh tế, văn hóa, văn học, nghệ thuật; là cơ hội tiếp thu tri thức, tinh hoa văn hóa nhân loại và các nguồn lực, kinh nghiệm quản lý tiên tiến để người dân được thụ hưởng các sản phẩm văn hóa mới và cũng là cơ hội để tương tác, sáng tạo những giá trị văn hóa mới. Nhiều sự kiện lớn, quan trọng: 50 năm giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam; Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 140 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh… đã được tổ chức long trọng, tạo niềm tin, nguồn cảm hứng cho toàn dân tộc vươn mình.
Nhiệm kỳ VII của Hội đang đứng trước vận hội mới và những nhiệm vụ lớn hơn, trách nhiệm cao hơn, nỗ lực nhiều hơn. Đồng thời với triển khai Kết luận của Bộ Chính trị số 84-KL/TW ngày 21/6/2024 để tiếp tục thực hiện Nghị quyết 23/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa X về “tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, với những nội dung quan trọng như: “Văn học nghệ thuật Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ. Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm VHNT có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn về xây dựng con người, vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa - tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời tập trung xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật chuyên nghiệp. Trên cơ sở giữ gìn, phát triển, phát huy những giá trị của VHNT các dân tộc, tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, đồng thời kiên quyết ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn áp đặt, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch.
Tài năng VHNT là vốn quý của dân tộc. Chăm lo, phát hiện, bồi dưỡng quý trọng và phát huy tài năng VHNT là trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy tinh thần độc lập, khơi dậy nguồn lực sáng tạo của văn nghệ sĩ. Văn nghệ sĩ, người chiến sĩ xây dựng và phát triển nền văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cần phát huy lòng yêu nước nồng nàn, gắn bó máu thịt với nhân dân, nêu cao trách nhiệm công dân, sáng tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị phụng sự đất nước và dân tộc”.
Hội cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết XIV của Đảng; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam; triển khai kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2026 ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và các nghị quyết, chỉ thị khác.
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, với những bài học và kinh nghiệm hơn 30 năm hoạt động; với đội ngũ ngày càng hùng hậu được đào tạo cơ bản, có nhiệt huyết và quyết tâm xây dựng Hội VHNT các DTTS Việt Nam ngày càng đoàn kết, vững mạnh. Khai thác hiệu quả di sản văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, có nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật xứng tầm, đám ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước, kỳ vọng của nhân dân.
Ban Chấp hành khóa VI xin nêu một số mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của khóa VII nhiệm kỳ (2026-2031) như sau:
- MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG TRONG NHIỆM KỲ
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, phát triển văn học nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ánh chân thực sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, lịch sử, kháng chiến, đề tài về Bác Hồ với đồng bào dân tộc; về công cuộc đổi mới đất nước. Từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật DTTS Việt Nam.
Đổi mới phương thức hoạt động của Hội nhằm tập hợp, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ hoạt động tích cực, hiệu quả. Khuyến khích nhân dân sáng tạo, tuyên truyền và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Quán triệt đường lối văn nghệ, chính sách dân tộc của Đảng, phát huy thành tựu đã đạt được, khắc phục hạn chế, yếu kém của nhiệm kỳ VI trong nhiệm kỳ VII, Ban Chấp hành Hội xác định:
- Tiếp tục củng cố xây dựng Hội vững mạnh, tập hợp đoàn kết văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số vững vàng về tư tưởng chính trị, kế thừa truyền thống văn hóa, văn nghệ quê hương, đồng bào dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng trước đây và xây dựng đổi mới ngày nay, nỗ lực sáng tác nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung, tư tưởng và nghệ thuật nhuần nhuyễn, lành mạnh ở tầm cao mới, phản ánh chân thật và sinh động hiện thực cuộc sống vùng dân tộc và miền núi, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật ngày càng cao của đồng bào dân tộc và cả nước.
- Đẩy mạnh việc phát hiện, chăm lo, bồi dưỡng những nhân tố mới có năng khiếu sáng tạo văn học nghệ thuật. Đặc biệt là các tác giả trẻ là người dân tộc thiểu số ở các vùng miền trên cả nước. Có kế hoạch mở lớp bồi dưỡng, tạo nguồn kế cận phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tạo cơ hội cho các văn nghệ sĩ trẻ có cơ hội được giao lưu, tiếp xúc với những tác giả có kinh nghiệm, có thành tựu trong sáng tác, có những chuyến đi thực tế bổ ích, thiết thực, nhằm động viên khích lệ, sáng tạo những tác phẩm chất lượng, giá trị. Thúc đẩy hợp tác, giao lưu quốc tế, giới thiệu, quảng bá tác phẩm ra thế giới.
- Chú trọng bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số.
- Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài dân tộc dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào dân tộc thiểu số và tạo điều kiện để trí thức, cán bộ dân tộc thiểu số trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân.
- Tiếp tục đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Khuyến khích hội viên tham gia đưa di sản văn hóa dân tộc vào phát triển du lịch, kinh tế gia đình và địa phương.
- Duy trì các trại sáng tác VHNT, các chuyến đi thâm nhập thực tế; tổ chức các trại sáng tác, đi thực tế cho một số chuyên ngành như mỹ thuật, nhiếp ảnh… Tăng cường các trại sáng tác cho tác giả trẻ.
- Thực hiện Nghị quyết 57 - NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; tích cực tham gia công nghiệp văn hóa và văn hóa số, kích thích sự sáng tạo của văn nghệ sĩ, sự tham gia của các doanh nghiệp, người dân, các nghệ nhân của các vùng miền dân tộc thiểu số khai thác, nâng cao giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam.
- Hiện tài chính của Hội chỉ có nguồn ngân sách Nhà nước cấp, hội phí của hội viên để lại cho các chi hội chi tiêu. Do vậy Hội cần tăng cường các hoạt động liên kết, tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân nước ngoài phù hợp quy định của pháp luật..
- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ GIẢI PHÁP
- Nhiệm vụ trọng tâm
- Tổ chức các hoạt động văn học nghệ thuật thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào đời sống, trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số.
- Sắp xếp tổ chức bộ máy của Hội theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đổi mới tư duy, tạo đột phá, tạo môi trường sáng tạo mới. Nâng cao chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
- Nâng cao nhận thức cho văn nghệ sĩ trong đấu tranh phản bác, phòng, chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Nắm vững diễn biến tư tưởng của văn nghệ sĩ, kịp thời định hướng tư tưởng, khuynh hướng sáng tác cho đội ngũ này theo đúng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước.
- Đóng góp nhiều hơn những tác phẩm, công trình thực sự có giá trị thẩm mỹ, nhân văn. Phản ánh sinh động cuộc sống mới của đồng bào, song cũng cần hết sức thận trọng, khách quan trong nhìn nhận, đánh giá hiện tượng xã hội và một số vấn đề còn bất cập trong cuộc sống hiện nay. Lấy cái tích cực lấn át tiêu cực, lấy cái hay, cái tốt đẹp thuyết phục và cảm hóa cái xấu.
- Tùy theo khả năng của Hội, có chính sách đãi ngộ tôn vinh tác giả, tác phẩm thật sự tiêu biểu, các văn nghệ sỹ cao tuổi có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng lực lượng sáng tác trẻ là người dân tộc thiểu số.
- Tiếp tục phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch duy trì các trại sáng tác; tăng cường liên hệ với các ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương tài trợ trại sáng tác, các chuyến đi thâm nhập thực tế theo hình thức cùng có lợi.
- Củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các chi hội, các hội địa phương. Có kế hoạch tạo nguồn hội viên mới, đặc biệt đối với những dân tộc chưa có hoặc rất ít hội viên. Nhanh chóng ổn định các chi hội trong diện sáp nhập tỉnh, có cơ chế, hình thức phù hợp cho cán bộ chi hội và các hoạt động của chi hội, hội viên.
- Sử dụng hiệu quả cao nhất nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho đầu tư tài trợ sáng tác và giải thưởng hàng năm; khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo, nhất là những chuyên ngành, lĩnh vực còn yếu.
- Có kế hoạch, biện pháp để văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số được nghiên cứu, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng về kinh tế, xã hội và văn học nghệ thuật; được thông tin đầy đủ tình hình thế giới, trong nước. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; Hội VHNT tỉnh, thành phố… mở lớp bồi dưỡng, tập huấn về học thuật, nghiệp vụ sáng tác, những vấn đề mới về văn học nghệ thuật hiện nay đang được giới chuyên môn và xã hội quan tâm. Tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ nâng cao nhận thức chính trị, đổi mới tư duy sáng tạo.
- Khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cao nhất nhằm động viên, thúc đẩy văn nghệ sĩ sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu, lý luận phê bình văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số. Tập trung vào những đề tài, lĩnh vực trọng tâm như: Cách mạng, kháng chiến, Bác Hồ, đời sống đổi mới tại các phum, sóc, bản, làng trong sự nghiệp đổi mới đất nước ngày nay.
- Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm tổng kết, đánh giá các hoạt động chuyên môn, công tác lãnh đạo, chỉ đạo; vinh danh hội viên có nhiều công trạng và các nội dung thời sự quan trọng khác.
- Nghiên cứu sớm thành lập “Trung tâm bồi dưỡng văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số”. Mời các văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số, các chuyên gia có uy tín về chuyên môn đến các khóa bồi dưỡng hướng dẫn, truyền thụ kinh nghiệm cho lớp trẻ và những người có nhu cầu, đam mê sáng tác, sưu tầm văn học nghệ thuật.
- Tranh thủ sự giúp đỡ của các Hội chuyên ngành Trung ương, Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, Viện Văn học, nhà xuất bản tổ chức các lớp tập huấn công tác lý luận phê bình. Chọn dịch các tác phẩm tiêu biểu văn học các dân tộc thiểu số; giới thiệu các loại hình nghệ thuật khác của Hội quảng bá ra nước ngoài.
- Củng cố, kiện toàn Hội đồng nghệ thuật. Tham gia Hội đồng nghệ thuật là những thành viên đủ năng lực, uy tín, có khả năng làm tốt và đảm bảo đúng quy chế, chất lượng công tác xét giải thưởng và hỗ trợ sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật của hội viên.
- Khuyến khích tác giả dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng dân tộc, song ngữ, không chỉ giới hạn trong văn học, mà cả trong sáng tác ca khúc, sân khấu - điện ảnh... Có kế hoạch giới thiệu, quảng bá tác phẩm được giải thưởng hàng năm của Hội, nhất là tác phẩm đạt giải cao.
- Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đạt được kết quả theo yêu cầu thực tế. Nghiên cứu xây dựng Đề án số hóa Tạp chí văn hóa các dân tộc phù hợp với xu thế thời đại.
- Tiếp tục kiện toàn, củng cố bộ máy cơ quan Trung ương Hội, đảm bảo có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác theo hướng tinh gọn, không hành chính hóa.
- Về hoạt động đối ngoại, xây dựng kế hoạch (đoàn ra, đoàn vào) tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ được giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; được đi tham quan ở nước ngoài, các nước trong khu vực có nét tương đồng về văn hóa.
III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Từ ngày được thành lập đến nay, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Chính phủ thông qua các ban, ngành chức năng của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện tốt hơn vai trò, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng hoạt động và có nhiều công trình, tác phẩm văn học, nghệ thuật trong thời gian tới, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam xin đề xuất và kiến nghị với Đảng, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, các ban, bộ, ngành một số nội dung sau:
- Để từng bước khắc phục tình trạng còn nhiều dân tộc chưa có người hoạt động trên lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật, cho phép Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam thực hiện Trung tâm bồi dưỡng văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số.
- Tiếp tục thực hiện Đề án: “Bảo tồn và phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam” giai đoạn II.
- Hội được tham gia triển khai một số đề án trong Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam nhằm tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật các dân tộc, đặc biệt trên các lĩnh vực ngôn ngữ, chữ viết của những tác phẩm - văn bản cổ đã có từ nhiều trăm năm của nhiều dân tộc trong cả nước nay đang nguy cơ mai một đáng báo động.
- Nhà nước có chính sách khuyến khích việc dạy chữ dân tộc ở một số cấp học nhất định. Nhất là đối với các dân tộc đã có bộ chữ viết riêng. Đối với Hội trong phạm vi hoạt động của mình, được phép xây dựng những đề án khả thi phối hợp dạy và học chữ dân tộc thiểu số thông qua các hình thức hoạt động văn hóa - nghệ thuật trong các trường dân tộc nội trú. Từ đó phát hiện, bồi dưỡng những con em đồng bào dân tộc có khả năng hoạt động văn hóa, văn học và một số loại hình nghệ thuật khác.
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh phí để Hội tiếp tục xuất bản Tạp chí Văn hóa các dân tộc với hình thức phù hợp.
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ kinh phí cho công tác đào tạo đặc thù dành cho con em các dân tộc về học tại các trung tâm bồi dưỡng, các trường văn hóa nghệ thuật… nhằm tạo nguồn văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số về lâu dài.
- Kiến nghị Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nghiên cứu, chọn lọc những tác phẩm văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số (cả dân gian và hiện đại) tiêu biểu để đưa vào giảng dạy trong các cấp học nhà trường.
- Các cơ quan có thẩm quyền xây dựng chính sách, chế độ phù hợp để Hội bổ sung nhân sự có trình độ công nghệ thông tin, công nghệ số thực hiện và hoàn thành mục tiêu số hóa của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc.
Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Với tinh thần đó văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số nguyện sẽ viết nên những tác phẩm hay, giá trị, nói lên tiếng nói của đồng bào mình, của lịch sử, của cách mạng kháng chiến, của xây dựng và đổi mới ngày nay, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, sống động và chân thực.
Cùng với Văn học nghệ thuật cả nước, đội ngũ văn nghệ sĩ các dân tộc thiểu số sẽ nỗ lực phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất trước Tổ quốc, Nhân dân phấn đấu xây dựng và phát triển nền Văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
*****
Trên đây là dự thảo báo cáo tổng kết công tác của nhiệm kỳ VI (2020-2025) và Phương hướng công tác nhiệm kỳ VII (2026-2031). Ban Chấp hành trân trọng đề nghị các hội viên nghiên cứu, góp ý kiến bổ sung, hoàn thiện báo cáo để trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam./.l