Phạm Hồng Loan
TIẾNG HÁT VƯỢT LÊN BOM THÙ
(Viết về NSUT Đức Miên-Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam)
Đó là những ngày cuối năm 1967.
Sau buổi tập, Đức Miên trở về nhà trọ nơi sơ tán (Quế Võ - Bắc Ninh). Vừa chìm vào giấc ngủ, chợt anh tỉnh giấc. Có tiếng xe ô tô. Lạ. Sao có người đến đây vào đêm hôm khuya khoắt thể nhỉ? Chắc có việc gì quan trọng? Anh mở cửa. Một chiếc xe con dừng ở đầu ngõ. Hai người trên xe bước xuống. Một người bước tới trước mặt anh, giơ tay lên vành mũ:
- Chào đồng chí. Đồng chí có lệnh về nhận công tác.
Anh hối hả quay vào nhà. Lát sau, chiếc ba lô đã gói ghém đủ tư trang. Xe chuyển bánh. Làng xóm mờ mờ trong sương mù dần lùi xa. Đi đâu? Làm gì? Trong anh ngổn ngang bao câu hỏi mà không có lời giải đáp.
Sáng sớm. Xe về đến Yên Bồng (Lạc Thủy - Hòa Bình), nơi “đại bản doanh” của trường Âm nhạc sơ tán. Ngay lập tức, cuộc họp bắt đầu. Giọng người trưởng đoàn sôi nổi:
-Thưa các đồng chí. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta diễn ra ngày càng ác liệt. Cả miền Bắc lên đường “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” thực hiện lời dạy của Bác: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do, độc lập”. Trường ta nhận nhiệm vụ cử một đoàn Văn công xung kích đi phục vụ các chiến sĩ trên mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Vào chiến trường, hành trang, vũ khí của chúng ta là tiếng hát. Sau đây là danh sách: Chu Nghi, Hùng Kháng, Văn Chung, Đức Miên, Trương Ngọc Toán, Hoàng Anh Minh, Xuân Hợi, Đức Tuấn, Thanh Hưng, Văn Lương, Vũ Động, Minh Tách, Thủy Tiên, Thanh Hiền, Minh Miến, Thu Huệ, Hữu Bào. Trong đó nhà sáng tác, biên kịch, đạo diễn Chu Nghi làm trưởng đoàn, đồng chí Đức Miên là đội trưởng. Sau đây các đồng chí sẽ thống nhất các tiết mục và nhận quân trang chuẩn bị lên đường.
Đức Miên đứng lên:
- Thưa các đồng chí, theo tôi chúng ta nên chuẩn bị những tiết mục ngắn gọn, dễ hiểu. Về kịch sẽ có hai vở: Đường về quê mẹ, Cô gái chống lầy và anh lái xe. Các tiết mục múa, hát, ngâm thơ chúng ta nên chọn những tác phẩm về tình yêu quê hương, đất nước để cổ vũ, động viên các chiến sĩ ngoài mặt trận.
- Nhất trí. Nhưng nếu có tiết mục đọc tấu sẽ vui hơn, anh Chu Nghi ơi.- Giọng anh nuôi Hữu Bào hồ hởi.
- Yên tâm đi. Nhất định sẽ có. Vào chiến trường anh sẽ sáng tác và biểu diễn luôn.
- Ôi! Ôi…Không được đi thì nhục lắm nhưng phải chịu. - Giọng diễn viên Kim Yến nghẹn ngào: Nhà có hai vợ chồng, lại có con nhỏ. Lệnh của chỉ huy trưởng chỉ cho anh Chu Nghi đi thôi. Chị gạt nước mắt, giọng trở nên hồ hởi: –Theo tôi, chúng ta chọn một bài hát để tốp ca nam biểu diễn cho hùng tráng. Nào…Bắt đầu…Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ….Không ai bảo ai, tất cả đứng bật dậy. Tiếng hát trầm hùng vang xa. Trên khóe mắt từng diễn viên như lấp lánh những giọt nước mắt. Tiếng hát như cuốn mọi người vào với những đoàn quân rùng rùng ra trận.
Hai giờ chiều. Đoàn xe chở đoàn Văn công lên đường. Những nét cười rạng rỡ. Người ở lại bám vào thành xe, nước mắt nhạt nhòa. Người ra đi giơ cao cánh tay vẫy mãi.
Càng rời xa miền Bắc, dấu vết của chiến tranh càng hiện ra rõ nét. Bắt đầu là những ngày tháng gian khổ ác liệt với những đêm hành quân trong pháo sáng, trong bom rơi đạn nổ. Sau 9 ngày ròng rã, cả đội lại tiếp tục hành quân trên xe Zin 3 cầu. Đức Miên cùng anh em tất bật lấy lá rừng làm giàn ngụy trang cho những ngày nghỉ, đêm đi trong ánh đèn gầm mờ tỏ. Đi liền 7 đêm. Đến đêm thứ 8, cả đội nhận lệnh của chỉ huy: Đi bộ. Trước mắt anh là trơ trụi sườn núi, cháy xém cỏ cây, nham nhở hố bom. Đá tai mèo nhọn hoắt dưới chân. Nắng như đổ lửa trên đầu. Mọi tư trang lại gói gọn trong ba lô. Nhạc cụ trên vai. Tất cả lên đường.
Buổi biểu diễn đầu tiên được tổ chức cạnh vạt rừng nơi một đơn vị bộ đội đóng quân. Tiếng trống nổi lên. Dân bản từ xa lũ lượt kéo đến. Những gương mặt đàn ông nâu bóng, gân guốc, những người phụ nữ để ngực trần, quấn xà rông ngồi chen chúc cùng các chiến sĩ. Sân khấu là một khoảng đất trống với những tấm võng làm phông. Ánh đèn là những ngọn đuốc bập bùng đủ soi rọi những ánh mắt say mê của khán giả, những khuôn mặt hồng hào không son phấn của diễn viên. Cả khu rừng lặng phắc. Cả sao trời, cánh chim như cũng nghiêng đầu lắng nghe. Người nghệ sĩ dồn vào những ca từ ngọt ngào, sâu lắng cả nhịp đập trái tim mình để gửi đến những người lính kiên trung bao tình cảm ấm nồng hậu phương tiền tuyến. Những người lính lặng yên. Không còn sốt rét, đói cơm, thiếu muối. Không còn gian khổ, khó khăn với bom rơi đạn nổ, cái chết cận kề. Chỉ còn tiếng hát nâng tâm hồn phơi phới bay lên.
Dọc đường hành quân, mỗi lần nhìn thấy đoàn Văn công là cánh lính lại hò reo: “Văn công….Văn công…Các đồng chí ơi! Có Đức Miên ở đó không? Hát cho chúng tôi nghe.” Ngay lập tức, bất kể đó là bờ suối, ven đường, miệng hố bom đều là sân khấu. Ngay lập tức, tiếng hát lại vút cao. Bất kể đôi vai còn trĩu nặng, đôi bàn chân sưng vù, tấy máu bởi cuộc hành quân kéo dài. Bất kể nhạc công, đạo diễn, lái xe, anh nuôi. Tất cả đều trở thành diễn viên. Bởi họ biết với người lính, tiếng hát sẽ cắt cơn sốt rét rừng, xua tan mệt mỏi, nâng bước hành quân. Và biết đâu có thể chỉ sau ít phút nữa, sẽ có người mãi mãi không còn được nghe tiếng hát. Với người lính văn công, còn phần thưởng nào lớn hơn tiếng vỗ tay như sấm dậy của khán giả nơi chiến trường. Là những giọt nước mắt của niềm vui. Là những bàn tay nắm chặt hẹn ngày chiến thắng.
Một buổi chiều, Đức Miên vừa ở suối về, chợt một chiến sĩ chạy đến, nét mặt căng thẳng:
- Cậu đến ngay Bệnh viện 16 có việc gấp.
Anh vội vã đi ngay. Bác sĩ Nhượng - Viện trưởng, gặp anh trước phòng mổ:
- Chào anh. Chúng tôi sắp tiến hành ca phẫu thuật cưa chân cho chiến sĩ Toàn nhưng thuốc tê còn rất ít. Tôi hỏi cậu ấy muốn điều gì thì cậu ấy nói: “Tôi muốn nghe Đức Miên hát”.
Anh bước vào phòng mổ. Nét mặt tái đi vì đau đớn của người thương binh chợt thoáng nét cười. Anh đến bên, nắm chặt tay người chiến sĩ trẻ:
- Em cố lên. Chúng ta sẽ chiến thắng. Anh sẽ hát cho em nghe những bài em thích.
- Anh ơi! Em đau...Đau lắm...Dòng nước mắt chảy dài trên má người lính
-Vâng. Em sẽ cố....Anh hát cho em nghe nhé. Hát bài gì...Bộ đội ấy.
Ca mổ bắt đầu. Anh nắm chặt tay người lính như muốn truyền cho người lính cả dòng máu nóng từ trái tim mình. Bằng những thao tác thuần thục, ca phẫu thuật tiến hành nhanh gọn. Để chiếc kéo xuống khay, bác sĩ Cảnh nhìn bác sĩ Nhượng: “Bây giờ lại phải tháo nốt khớp háng. Nhưng thuốc tê hết rồi.”
Đức Miên đứng lặng. Một dòng điện lạnh ngắt chạy dọc cột sống. Nước mắt chợt ứa ra. Thương quá...Toàn ơi. Làm sao em chịu được sự đau đớn này. Anh sẽ hát, sẽ ngâm thơ cho em nghe. Anh sẽ đưa em đi trên những chặng đường hành quân “đâu có giặc là ta cứ đi” . Những đường dao bén ngọt lách vào từng thớ thịt. Người lính nghiến chặt răng. Mồ hôi vã ra. Tiếng thầm thì đứt quãng... Mẹ ơi....Mẹ ơi...Con đau...Mẹ ơi...Toản ơi. Em nghe này. Hãy về với quê hương Triệu Sơn (Thanh Hóa) yêu dấu của em để đắm mình trong điệu Hò Sông Mã. Hãy nghe những lời ru ngọt ngào của mẹ. Mẹ sẽ xoa dịu cho em những đau đớn. Và bây giờ, em hãy nhìn này, cả đoàn quân đang rùng rùng: “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận”. Cố lên em. Em sẽ cùng anh “Đi ta đi giải phóng miền Nam khi quê hương nhà còn bóng quân xâm lược” rồi em sẽ được trở về với quê hương. Ngày thắng lợi sắp tới gần rồi. Cả căn phòng rung lên trong tiếng hát. Tiếng hát kết thành khối, hòa với những dòng nước mắt của những bác sĩ, nghệ sĩ ngưng đọng trong không gian, ngân vang, thấm vào từng đường gân, tế bào người lính. Tâm trí anh như bay theo lời hát. Không còn đớn đau, vật vã. Người lính thiếp đi trong những lời ca vang vọng mãi.
Có một kỉ niệm làm anh nhớ mãi. Đó là lần biểu diễn cho một đơn vị bộ đội. Sau những tiết mục quen thuộc về quê hương đất nước trong niềm xúc cảm trào dâng, diễn viên Anh Minh bước ra sân khấu với tiết mục tấu Nắm cơm hỏa tuyến do nghệ sĩ Chu Nghi sáng tác trên đường hành quân. Như mọi ngày, anh nuôi nắm cơm để phát cho chiến sĩ trước giờ ra trận. Tất cả chiến sĩ đã nhận đủ. Sao còn thừa ra một nắm? Các đồng chí ơi! Sao lại thừa ra một nắm cơm? Giọng Anh Minh thảng thốt, nức nở nghẹn ngào. Còn một người nữa đâu? Một đồng đội tôi đâu? Cả đoàn quân lặng đi trong tiếng gọi da diết vọng vang giữa non ngàn: Đồng đội ơi. Lát sau, chương trình mới được khuấy động lên với ca khúc sôi nổi Cô giáo liên do nhạc sĩ Đôn Truyền viết với những ca từ được chắt lọc từ những đêm hành quân, những buổi biểu diễn ngay trên trận địa với bộ đội. Sau buổi biểu diễn, Đức Miên cùng trưởng đoàn đến gặp Đại đội trưởng. Người chỉ huy tiếp anh trong căn hầm chỉ huy đơn sơ. Anh ngạc nhiên nhìn chiếc chân quấn băng trắng toát;
- Anh bị thương như thế này sao không chuyển về tuyến sau điều trị?
- Ô. Chỉ gãy chân bình thường thôi. Lâu lâu rồi nó sẽ tự liền mà.- Anh nắm chặt tay Đức Miên: –Cảm ơn các đồng chí. Các đồng chí hát hay quá. Tôi khâm phục các đồng chí vô cùng, nhất là các đồng chí nữ. Vào được đến đây là các đồng chí thừa khả năng được tặng thưởng huân chương rồi.
Trong suốt hai năm, dọc đường hành quân, nơi nào bộ đội nghỉ giải lao, có Đức Miên là có tiếng hát. Với Đức Miên, được hát dù trong bất kì hoàn cảnh nào cũng là hạnh phúc. Trên suốt dọc dải Đường 9 Khe Sanh, mỗi cành cây ngọn cỏ đều thấm đẫm tiếng hát Đức Miên. Mỗi ngọn suối, núi đồi đều âm vang tiếng hát Đức Miên. Trước giờ ra trận, được nghe tiếng hát Đức Miên mỗi người lính như được tăng thêm sức mạnh diệt thù. Hòa cùng bước hành quân của các đơn vị, đội Văn công của anh tiếp cận gần cứ điểm Tà Cơn tạo thành các mũi nhọn để bao vây, chốt chặn, tiêu diệt địch. Đây là trung tâm phòng ngự của tập đoàn cứ điểm Khe Sanh được Mỹ trang bị đầy đủ, hiện đại, bố phòng vững chắc. Vũ khí Đức Miên mang theo là tiếng hát. Tiếng hát át đi tiếng bom gầm, đạn réo. Anh hát vào máy bộ đàm cho các chiến sĩ ở đài quan sát nghe. Tiếng hát của anh thu vào đài, phát cho lính giặc trong đồn nghe khiến chúng phải kêu lên, hốt hoảng: Việt Cộng…Việt Cộng về đây rồi. Việt Cộng sẽ thắng.
Năm 1986, Đức Miên chuyển ngành với quân hàm Trung tá. Bao năm dùng tiếng hát làm “ngôn ngữ giao tiếp với đời”, những ca từ mượt mà đã thấm đẫm trong anh từ khi nào. Để rồi hồn thơ trong anh lại bùng dậy thiết tha trong từng cung bậc cảm xúc. Nếu trước đây, ca hát là hơi thở, là cuộc sống của Đức Miên thì giờ đây, những bài ca viết từ sâu thẳm trái tim lại là hành trang không thể thiếu trên đường đời để anh nên duyên với các giải thưởng. Ba lần Huy chương bạc Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc (1958-1986-1998), một huy chương vàng Hội diễn VHTT Hà Nam Ninh(1983) đủ để ghi nhận những giải thưởng Văn học nghệ thuật giành cho các ca khúc xuất sắc của tỉnh Nam Định giành cho người nghệ sĩ (xét tặng năm năm một lần). Anh vừa phải, rộn ràng với Khúc ca vào mùa, Đông Hưng ươm mùa vàng, hùng dũng, thiết tha, sôi nổi với Hành khúc an ninh, Cựu chiến binh ca, trữ tình, sâu lắng với Ai nhớ ai mong, Tiếng mẹ ru hời. “Đó là những ca khúc mặn mà tình cảm quê hương, thấm đậm tình người…Tất cả …tất cả đã vào nhạc của ông qua cái điệu tâm hồn đa cảm, đa tình, hồn nhiên và bay bổng. Những bài hát hay nhất của ông đều chứa chan những cảm xúc thuần Việt..” (Đại tá –Nhạc sĩ Đôn Truyền).
Bước sang tuổi 83, người nghệ sĩ ấy vẫn truyền lửa cho thế hệ trẻ với những ca khúc hào hùng, vẫn say sưa hát trong Câu lạc bộ Thiên Trường, vẫn là người anh cả đáng kính của Bộ môn Âm nhạc của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, vẫn xứng đáng với danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú mà Nhà nước trao tặng.
Tháng 9/2018.
NGƯỜI KẾT NỐI NHỮNG TRÁI TIM
Đêm. Sao mãi không ngủ được. Lướt qua facebook xem có thêm thông tin gì về hai cô bạn ở nước ngoài chuẩn bị về thăm quê để bạn bè lại có dịp tụ bạ không. Chà! Tin nhắn mới của anh Trần Thái Sơn - Trưởng ban liên lạc Câu lạc bộ Cựu chiến binh - Cựu học sinh trường Lê Hồng Phong: “Ngày 13/12/2015, Câu lạc bộ CCB -CHS Lê Hồng Phong sẽ tiếp tục chương trình hành động "Uống nước nhớ nguồn -Tri ân Liệt sỹ". Nếu em không bận mời em cùng đi với đoàn.” Bận ư? Dĩ nhiên là bận, nhưng mọi chuyện đều có thể giải quyết được.
Sáng sớm ngày chủ nhật, đoàn đại diện cho Câu lạc bộ CCB - CHS trường Lê Hồng Phong lên đường, bắt đầu cuộc hành trình đi thăm và tặng quà cho các gia đình liệt sỹ. Đầy một thùng xe bán tải những hoa và quà với đoàn xe của các cựu chiến binh và xe của chị gái liệt sỹ Lại Xuân Lợi (khóa 1969 - 1972) ủng hộ. Có được chuyến đi này phần lớn là nhờ sự chung tay góp sức của nhiều cựu chiến binh và cựu học sinh trên khắp mọi miền đất nước, kể cả ở nước ngoài. Một ngày dài rong ruổi. Không biết có hoàn thành nhiệm vụ không? Vấn đề là ở chỗ anh Thái Sơn - người cầm lái con thuyền sứ mệnh này có biết được chính xác địa chỉ của từng gia đình liệt sỹ trong cái thành phố đường ngang ngõ dọc như mạng nhện này không? Lại còn những gia đình ở ngoại thành và nơi Hà Nam xa lắc xa lơ nữa.
Mọi việc rồi cũng êm xuôi khi người chủ trì cho cả chuyến đi dường như nắm trong lòng bàn tay mọi ngôi nhà của các liệt sỹ dù chỉ sau 9 tháng phát động, Ban liên lạc đã cập nhật được 82 liệt sỹ ở các khóa học khác nhau. Tìm được các anh. Tìm được thân nhân của các anh đâu phải là điều dễ dàng. Không hiểu sao mỗi khi bắt gặp một hình ảnh nào đó của chiến tranh, trong tôi cứ trào dâng niềm xúc động đến nghẹn ngào. Phải vì trong tim tôi lúc nào cũng đầy ắp những kỉ niệm về người anh trai thân thương. Năm học lớp 7, với giải khuyến khích trong kì thi chọn học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc, anh được chọn vào trường Lê Hồng Phong. Ngày 31/12/1971, anh lên đường chiến đấu, và ngày 9/10/1972 hy sinh tại mặt trận Quảng Trị. Dẫu biết chiến tranh là đau thương, là mất mát nhưng nỗi đau về sự chia ly sao có thể nguôi ngoai dù cho năm tháng cứ dần trôi, mọi điều rồi sẽ lui vào dĩ vãng.
Bứơc chân vào ngôi nhà của từng liệt sỹ, trong tôi cứ trào lên cảm giác thân thương. Ngỡ như tôi đã quen liệt sỹ này từ lâu lắm. Ngỡ như anh cùng chia nhau từng miếng cơm, ngụm nước nơi chiến hào với anh tôi. Và ở một nơi nào đó, xa xôi lắm, các anh vẫn đang cùng sẻ chia, đang cùng hướng về những người thân yêu của mình. Đây là liệt sỹ Trần Đăng Cự, sinh 1942, lớp B (khóa 1962-1965). Lên đường nhập ngũ từ năm 1961 đến năm 1963, anh trở về tiếp tục học tập. Đến tháng 4/1965, trước khí thế sôi sục của cả nước đánh Mỹ, anh viết quyết tâm thư bằng máu xin ra mặt trận. Ngày 28/8/1969, trong một trận chiến không cân sức giữa trung đội đặc công với nhiều tiểu đoàn Mỹ- Ngụy tại núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh, anh đã anh dũng hy sinh. Hài cốt của anh cho tới nay vẫn chưa tìm thấy.
Nhưng có lẽ ám ảnh trong tôi nhất là khi đến thăm gia đình liệt sỹ Khổng Quốc Thái (khóa 1961-1964). Đứng chắp tay bên bàn thờ, tim tôi ứ nghẹn nhìn người anh trai đã ngoài 80 tuổi tay run run cắm từng nén trên các bát hương, khi ánh mắt mình vấp phải tấm Bảng vàng danh dự. Tôi lần đọc từng cái tên được viết trang trọng: Khổng Quốc Thái, Khổng Quốc Mão. Như văng vẳng đâu đây lời bài hát: “…Nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ…” Còn có nỗi đau nào lớn hơn không? Hai lần tiễn con. Hai lần khóc. Nước mắt mẹ có còn không khi trong ngày chiến thắng của dân tộc, nhìn những đoàn quân trở về, không thấy bóng hình một đứa con nào trong đó? Có nơi nào trên trái đất này như Việt Nam không khi nỗi đau chiến tranh dường như len lỏi vào từng mái nhà, đường phố, xóm thôn.
Trong suốt một ngày ròng rã, đến đâu chúng tôi cũng được đón tiếp chu đáo nồng hậu với những giọt nước rưng rưng nơi khóe mắt. Hình như khi chúng tôi đến, bao kỉ niệm thân thương về con em chợt ùa về trong trái tim các thân nhân liệt sỹ. Dường như chúng tôi đang đưa từng liệt sỹ về với gia đình họ. Dường như bao năm qua họ chờ đợi phút giây này. Dường như sau làn hương mờ ảo, ánh mắt các anh như lấp lánh niềm vui của sự đoàn tụ. Vậy nên gia đình nào cũng muốn níu kéo, muốn chúng tôi ở lại lâu hơn nữa. Trước khi đoàn ra về, người chị dâu gần 80 tuổi của liệt sỹ Khổng Quốc Thái còn nắm tay tôi thật chặt với dòng nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn của thời gian: “Đau lòng lắm em ơi. Ngày xưa gia cảnh nhà chị khó khăn lắm. Chị thay mẹ chồng nuôi em ăn học. Đang học dở dang, chú ấy xung phong đi bộ đội rồi đi mãi mãi”.
“Lớp cha trước, lớp con sau…” Hơn một thế kỉ trôi qua, biết bao thế hệ người dân Việt Nam lên đường đánh giặc. Máu của bao chiến sĩ đã đổ xuống trong cuộc kháng chiến chống Pháp để “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” (Tố Hữu). Nhưng mảnh đất nơi đầu sóng này chưa bao giờ nguội tắt ngọn lửa đấu tranh. Lớp lớp thanh niên lại: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” khi giặc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Lê Văn Long (lớp 10B- khóa 1962-1965) đã hòa mình trong đội ngũ trùng điệp đó. Là con trai liệt sĩ, thuở thiếu niên, anh được đi học lớp thiếu sinh quân tại Cộng hòa dân chủ Đức. Khi về nước, anh tiếp tục theo học tại trường Lê Hồng Phong. Hai năm học trôi qua nhanh chóng, hết lớp 9, cậu học trò vui vẻ, sôi nổi nhưng cũng rất phong độ, chững chạc vì đã qua “Tây học” viết đơn tình nguyện lên đường chiến đấu trả thù nhà, đền nợ nước. Cho đến bây giờ, mảnh đất miền Đông Nam Bộ gian lao mà anh dũng vẫn giữ trọn hình hài anh.
Sau 50 năm xa cách, hai người bạn, hai cựu học sinh lớp 10Đ (khóa 1960-1963) đã tìm lại được người bạn thân thiết của mình: Đoàn Văn Sơ. Theo các nguồn thông tin, hai anh biết anh Sơ sau khi nhập ngũ được một năm, đến tháng 01/1965 hy sinh tại Đắc Nông và hiện tại đã đưa về quê nhà. Hai người lên đường, tìm đến với người bạn của mình. Đến nghĩa trang liệt sỹ xã Nam Dương, họ chỉ thấy danh sách liệt sỹ có một người họ Đoàn là Đoàn Văn Mách. Không nản chí, các anh tiếp tục tìm kiếm. Về đến xã Bình Minh, hỏi người dân trong thôn Rót, hai anh được biết liệt sỹ Đoàn Văn Mách chính là cha của liệt sỹ Đoàn Văn Sơ. Cha con, một chiến tuyến cùng chiến đấu cho mục đích cao đẹp: “Không có gì quí hơn độc lập, tự do”. Chỉ có điều hơi thiệt thòi cho gia đình là hai cha con lại không được đặt chung trong một nghĩa trang do những quy chế hơi cứng nhắc về thủ tục hành chính. Những người bạn gặp nhau mừng mừng tủi tủi nhưng không phải là cái bắt tay nồng ấm, vòng tay ôm chặt mà là những giọt nước mắt trong nghi ngút khói hương của âm dương cách biệt.
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Dịu cũng không chờ được ngày nhà nước vinh danh, được đeo lên ngực tấm huân chương cao cả đã đổi bằng tuổi thanh xuân của hai con trai mình. Khi biết tin Nguyễn Tư Thảo (khóa 1966-1969), đang học năm thứ hai trường Đại học Bách khoa mặc dù trong diện được miễn đi bộ đội vì ba người anh đang ở chiến trường, xung phong lên đường, bố anh vui lắm: “Làm con trai thời chiến mà không làm tròn trách nhiệm với đất nước thì kém lắm”. Người Trưởng phòng tổ chức Ty Giáo dục ân cần, lưu luyến nói với con trai khi anh lên đường. Để rồi nỗi đau chồng lên nỗi đau, trái tim ông quặn thắt khi nỗi đau về người con cả hy sinh chưa kịp nguôi ngoai thì hơn một năm sau, ông nhận được tin người con thân thương, giỏi giang của mình hy sinh đúng vào đêm 30 Tết. Nén nỗi đau vào trong, ông lặng lẽ, âm thầm tiễn những đứa con mình ra trận. Bảy lần tiễn con đi, hai lần trái tim ông ứa máu.
Mái trường Lê Hồng Phong là nơi nuôi dưỡng nhiều thế hệ trong một gia đình. Lớp anh chị trước, lớp em sau đã làm rạng danh mái trường. Nhưng có lẽ trong gia đình có hai anh em trai học cùng một lớp cũng là hiếm. Liệt sỹ Hoàng Hồng Châu và Hoàng Hồng Nguyên (lớp 10H - khóa 1961- 1964) là một trường hợp như thế. Trước khí thế cả nước lên đường đánh Mỹ, để lại mẹ già và người em thơ dại, Hoàng Hồng Nguyên theo bước chân anh lên đường đánh Mỹ. Chuyện về hai anh em là những câu chuyện về tấm lòng quả cảm. Năm tháng cứ lặng lẽ trôi, nhưng chiến công của Hoàng Hồng Châu vẫn in đậm trong trái tim bạn bè. Nhập ngũ, anh được vào Binh chủng Hải quân. Tháng 4/1965, bốn chiếc tàu chiến của đơn vị từ đảo Cồn Cỏ, được đưa về bảo dưỡng ở sông Gianh (Quảng Bình.) Trước một ngày chuẩn bị trở về đảo nhận nhiệm vụ mới, tàu của anh Châu nổ máy khởi động kiểm tra lần cuối. Khói của tàu tỏa ra. Máy bay trinh sát của địch trên cao phát hiện. Lập tức chúng điều động máy bay từ hạm đội 7 bay vào oanh tạc. Trận chiến đã diễn ra liên tục từ 6h sáng đến 16h chiều. Lực lượng phòng không từ các nơi về chi viện, bắn hạ nhiều máy bay địch, nhưng chỉ bảo vệ được hai tầu. Tầu của anh Châu vẫn nổ máy chạy chữ chi để tránh đạn và quyết chiến với kẻ thù. Bởi vùng trời, vùng biển ngày đêm bị kẻ thù nhòm ngó đang đợi chờ các anh. Bởi bao nhiệm vụ nặng nề đang đợi chờ các anh phía trước để thực hiện tâm nguyện của Bác: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng giành cho được tự do độc lập”. Nhưng tàu của anh đã bị mắc cạn dưới làn mưa rocket của kẻ thù. Là người phụ trách phần hỏa lực của chiến hạm, anh đã mưu trí, dũng cảm chỉ huy thủy thủ đoàn bắn trả máy bay Mỹ. Tấm gương lẫm liệt của anh đã cổ vũ tinh thần quyết tử cho toàn thể thủy thủ trên tàu. Tấm Huân chương Chiến công hạng nhất mà nhà nước truy tặng đã ghi nhận chiến công của anh trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời. Và trận Cảng Gianh mãi mãi đi vào chiến công của Hải quân Việt Nam, của quân dân Quảng Bình.
Khác với người anh, Hoàng Hồng Nguyên là Đại đội phó đại đội đặc công. Sau thời kì huấn luyện, anh được điều sang chiến trường C. Trong điều kiện sống vô cùng thiếu thốn, gian khổ nhưng anh vẫn kiên cường bám trụ vượt lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 7/1969, đơn vị anh được giao nhiệm vụ tấn công vào một cứ điểm của địch. Trước trận đánh, Hoàng Hồng Nguyên đã giao nhiệm vụ cho tổ trinh sát tìm hiểu tình hình giặc trong cứ điểm. Nhận được báo cáo, anh cảm thấy chưa yên lòng, chưa đủ yếu tố để đảm bảo cho trận đánh thắng lợi. Lập tức anh cùng hai chiến sĩ tiếp tục bò vào, nghiên cứu thực địa một lần nữa. Công việc xong xuôi, anh cùng đồng đội trở ra chuẩn bị cho trận đánh. Chợt pháo sáng bùng lên. Pháo cối của địch trùm xuống. Để cho trận đánh thắng lợi, thân thể anh đã hòa quyện cùng cây cỏ, đất trời. Nơi quê nhà, hàng ngàn ngày đêm, mẹ tựa cửa mòn mắt ngóng chờ các con như hóa đá. Nước mắt không còn để lặn vào trong bởi đôi mắt mẹ đã mờ đục vì thời gian. Mẹ đã về với hai anh khi tấm huy chương Bà mẹ Việt Nam anh hùng không kịp đeo lên ngực
Ý chí quyết chiến quyết thắng. Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỉ nhưng những dư âm khắc khoải của nó vẫn còn đọng mãi trong kí ức người dân Việt Nam. Làm sao có thể ngồi yên khi mảnh đất miền Nam “đi trước về sau” ngày đêm chìm trong đạn lửa. Một ngôi trường bình dị giữa lòng thành phố Dệt với lớp lớp học trò miệt mài, hăng say sau những giờ lên lớp lại lặng lẽ tiễn đưa những người bạn thân yêu của mình lên đường chiến đấu. Mới ngày hôm qua, lớp học còn rộn rã tiếng cười, ngày hôm nay mười chỗ ngồi chợt trống. Người ở lại, người ra đi chưa thể cảm nhận được những khó khăn, hiểm nguy, cảm nhận ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết nơi chiến trường. Bởi trong trái tim họ chỉ ăm ắp tiếng cười bạn bè hồn nhiên của những ngày trèo cành me, cành sấu, mới chỉ cảm nhận được nỗi buồn của sự xa cách. Tôi lặng nhìn bản danh sách liệt sỹ mà Câu lạc bộ Cựu chiến binh - Cựu học sinh trường Lê Hồng Phong mới cập nhật được sau mấy tháng hoạt động. Bao người ra đi khi lễ khai giảng vừa qua được mấy hôm, khi những trang sách của học kì I còn để trống. Bao người ra đi khi kì thi tốt nghiệp sắp tới gần. Trang giấy trắng các anh viết hôm nay không phải là những bài học của thày mà là những dòng máu nóng từ trái tim mình với khát vọng được lên đường chiến đấu
Có nơi nào trên trái đất như đất nước Việt Nam không khi người lính ra trận tình nguyện viết đơn bằng chính những giọt máu của mình, những giọt máu của yêu thương, của căm thù. Một buổi sáng mùa đông cuối năm 1971, trước sân trường, nơi chứa đựng biết bao kỉ niệm của tuổi học trò, anh Vũ Thanh (khóa 1971-1974) đọc đơn tình nguyện vào bộ đội khi mới tròn 16 tuổi. Lá đơn đó được anh viết bằng dòng máu nóng từ trái tim mình. Dòng máu nóng đó đã hòa tan vào lòng đất mẹ, trong trận đánh ác liệt với kẻ thù tại mặt trận phía Nam tháng 11/1972 để viết nên khúc khải hoàn trong ngày vui thống nhất khi non sông thu về một mối. Cũng như Vũ Thanh, quyết tâm thư của Trần Đăng Cự (lớp 10B khóa 1962-1965) cũng viết bằng dòng máu nóng làm xúc động trái tim chúng ta cho đến tận bây giờ dù chiến tranh đã qua hơn bốn mươi năm. Từ năm 1961 đến năm 1963, anh đã là một chiến sĩ giải phóng. Sau đó anh trở về, tiếp tục việc học tập còn dang dở. Nhưng chí làm trai sao có thể ngồi yên khi một nửa đất nước còn đang rên siết dưới gót giày quân xâm lươc. Lại một lần nữa, anh xếp “bút nghiên” lên đường đánh giặc để rồi “Tên anh đã thành tên đất nước” (Lê Anh Xuân).
Cùng là dòng máu nóng của chí làm trai, Trần Gia Tuệ (khóa 1960-1963), người thủy thủ can trường không viết vào đơn xin ra mặt trận mà viết lên bệ pháo trên boong tàu trong trận quyết chiến với kẻ thù khi bị thương vào cánh tay không đủ sức tiếp tục chiến đấu. Dòng chữ của anh: “Quyết không rời vị trí, quyết giữ vững ý chí” cũng như lời hô của Nguyễn Viết Xuân: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội chiến đấu và chiến thắng.
Chỉ một dòng ngắn ngủi trên tấm Huân chương chiến công giải phóng treo trang trọng trong ngôi nhà của người anh trai Trần Đắc Tùng như đã khơi dậy cả trang sử hào hùng của dân tộc, khơi dậy chiến công của người em trai Trần Đắc Chiến (khóa 1964-1967) trong trận Tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân của dân tộc. Trong chiến dịch đó, tiểu đoàn anh được lệnh đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất hòng phá vỡ đường hàng không của kẻ thù. Cả tiểu đoàn lặng lẽ xuất kích theo bước chân giao liên dẫn đường. Vượt qua hàng rào thứ nhất, cả tiểu đoàn nhất tề xông lên. Sân bay như chìm trong biển lửa. Mọi hoạt động của kẻ thù dường như tê liệt. Nhưng trong chiến tranh, mọi điều đề có thể sảy ra, người chiến sỹ giao liên hy sinh, các anh bị mất phương hướng đường rút về hậu cứ. Anh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh anh dũng cùng với 180 đồng đội. Biền biệt bốn năm trời từ khi ra đi, gia đình chỉ nhận được duy nhất một lá thư của anh khi còn huấn luyện ở Hà Bắc. Nhận giấy báo tử trên tay, người anh trai như chết lặng: Hy sinh tại mặt trận phía Nam. Biết tìm em nơi nào? Biển trời tăm cá?
Tháng 3/2003, gia đình anh nhận được thông tin từ chị Trương Thị Quyên ở Đồng Nai báo tin có đọc trên báo Sự kiện và nhân chứng thông tin và danh sách các liệt sĩ quê ở huyện Mỹ Lộc - Nam Định, hy sinh tại sân bay Tân Sơn Nhất, trong đó có tên anh Trần Đắc Chiến. Ngọn lửa hy vọng đã bùng lên trong tim người anh trai. Hai vợ chồng anh khăn gói tìm vào. Gần 40 năm xa cách, giờ đây, người anh trai như quị xuống. Trước mặt anh không phải là đứa em hiền lành, chăm chỉ được anh giành hết tình yêu thương mà là tấm bia mộ vô tri giác: TRẦN ĐẮC CHIẾN - Hy sinh ngày 31/1/1968 - Khu TT 181 - Hàng 1 - Mộ 61 - Đơn vị D6. Mọi chuyện sẽ chìm vào quên lãng nếu như trong đợt cải tạo sân bay Tân Sơn Nhất không có một đoàn của Hội cựu chiến binh Mỹ về tìm lại chiến trường xưa. Và một người trong đoàn đã cho lãnh đạo sân bay biết khu vực chôn tập thể những người lính đã hy sinh năm xưa. Thì ra khi trận đánh kết thúc, giặc Mỹ đã dùng xe ủi các anh xuống hố để lấp đi, không để lại chút dấu vết. Khi chiến đấu, họ đã cùng “chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết” (Chính Hữu) thì giờ đây, dù không tìm được nguyên vẹn như khi các anh nằm xuống vì quê hương, đất nước nhưng mỗi anh vẫn có một phần mộ riêng, vẫn được hoà quyện với nhau, vẫn chung dưới mái nhà Nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Hãy yên lòng nghe anh. Đồng đội vẫn bên các anh. Chúng em vẫn nhớ đến các anh. Non sông đất nước vẫn khắc ghi tên anh. Xương thịt các anh đã hòa vào lòng đất để làm nên một đất nước Việt Nam anh hùng. Nơi nào trên đất nước này cũng là đất Mẹ. Với các anh, linh hồn mới là bất tử. Và tên tuổi các anh mãi mãi trường tồn cùng sông núi.
Liệt sỹ Nguyễn Văn Thành, (lớp B khóa 62-65 ở xã Trung Thành,Vụ Bản) là con út trong một gia đình có ba anh chị em. Tháng 12/1965 cùng với 28 học sinh khác trong trường, anh lên đường ra trận. Lời kể của anh Lê Minh học cùng lớp và nhập ngũ cùng ngày như một thước phim quay chậm tái hiện những tháng ngày thiếu thốn gian lao vất vả của cuộc đời người lính. Sau khi nhập ngũ, các anh tập trung ở trạm 800 đóng ở Bưởi (Hà Nội). Sau 9 ngày thì lên ô tô di chuyển vào Nghệ An và từ đây bắt đầu hành quân bộ vào chiến trường. Cứ ngày đi, đêm nghỉ suốt mấy tháng trời rõng rã. Lúc nào trên lưng cũng là chiếc ba lô cùng vũ khí, nặng cỡ 20kg. Chưa quen đi bộ xa, nên mọi người rất mệt mỏi, hai chân tụ máu, sưng phồng đau đớn, vừa đi vừa khóc thầm. Những giọt nước mắt giúp các anh vượt qua nỗi đau về thể xác với mỗi bước đi là một bước nhấn sâu thêm sự nhức nhối đến tận xương tủy. Những giọt nước mắt cũng làm vơi đi nỗi nhớ nhà, nhớ bạn bè cồn cào. Và những giọt nước mắt ấy cũng tăng thêm lòng quyết tâm không chùn bước trước gian khổ, hiểm nguy. Bởi phía trước tiền tuyến đang kêu gọi, đồng bào miền Nam đang ngày đêm rên xiết dưới gót giày quân xâm lược đang đón chờ. Mọi khó khăn rồi cũng qua đi, cuối cùng thì các anh cũng đến được tuyến 3 của đoàn 559 - đơn vị vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam. Mỗi người được biên chế về một đơn vị khác nhau. Giờ chia tay lưu luyến khôn nguôi. Hai người cựu học sinh Lê Hồng Phong, hai chiến sĩ can trường ôm chặt nhau giữa chiến trường ác liệt: “Hãy cố gắng, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực, hẹn ngày chiến thắng trở về”. Lời hẹn còn đây nhưng Nguyễn Văn Thành đã xa mãi mãi. Tháng 3/1967, trên đường ra Bắc nhận hàng chi viện cho miền Nam, đoàn xe của anh bị trúng bom B52 ở chân đèo Phu La Nhich (Tỉnh Khăm Muộn, Lào). Anh đã nằm lại mãi mãi nơi chân đèo heo hút. Mặc dù đơn vị cố gắng tìm hài cốt của anh cùng đồng đội nhưng trận bom ác liệt đã xóa sạch tất cả. Nhưng anh vẫn sống mãi trong trái tim bạn bè, sống mãi cùng non sông, đất nước. Hơn năm mươi năm qua, những dòng chữ thân thương của Nguyễn Văn Thành trong lá thư chúc Tết gửi cho Lê Minh vẫn là một kỉ vật vô giá của tình bạn gắn bó keo sơn: “Năm hết tết đến. Lòng người rạo rực niềm vui. Không vui sao được trước cái ấm áp của mùa xuân. Không vui sao được trước vẻ duyên dáng, e thẹn của chị Cúc, chị Mai. Không kém phần duyên dáng, các chị Thược dược, Lay ơn, Vạn thọ, Hải đường…cũng yêu kiều diễm lệ trong tà áo dài muôn màu muôn sắc.
Năm hết tết đến. Trăm hoa đua nở. Hoa của thiên nhiên, hoa của lòng người.
Năm hết tết đến như một sức mạnh kì diệu làm cho gia đình thêm đầm ấm, tình bạn bè thêm thắm tươi, làm nảy nở trong lòng người những ý nghĩ tốt lành, niềm lạc quan chan chứa.
Quí Mão đã qua, Giáp Thân đã tới. Chúc Minh bước sang năm mới đầy phấn khởi, vui tươi, tiến bộ. Chúc cho tình bạn chúng ta càng thêm gắn bó”
Tâm hồn ngời sáng. Thời gian lặng lẽ trôi. Mọi điều có thể trôi vào dĩ vãng nhưng tình bạn bè muôn đời vẫn ấm nóng trong trái tim mọi người. Năm mươi năm qua rồi, nhưng trong trái tim của GS.TSKH Trần Đình Toại vẫn đau đáu lá thư trong đó có lời giải bài toán hình học chưa gửi được đến người bạn “nhà quê” thân thiết cùng lớp Hoàng Hữu Cánh (Lớp 10D, khóa 1960-1963) theo yêu cầu của anh. Tốt nghiệp cấp 3, Hoàng Hữu Cánh lên đường. Hành trang anh mang trong ba lô không chỉ là nỗi nhớ quê hương, bạn bè, mà còn đầy ắp những bài toán dang dở. Có ai nghĩ rằng trong phút im lìm giữa hai trận đánh, trên mâm pháo chuẩn bị giáng sấm sét xuống đầu quân thù, người lính vẫn miệt mài với cây bút trong tay, say mê với những đạo hàm, phương trình, để rồi viết thư cho người bạn ở cách mình nửa vòng trái đất với ước nguyện nhỏ nhoi là giải cho một bài toán khó. Bài toán đã giải xong nhưng gửi cho ai, gửi đi đâu bây giờ khi Trần Đình Toại nhận được tin Cánh đã hy sinh ngay trên mâm pháo. Và những vần thơ chân chất, mộc mạc như òa lên nức nở:
Viết rồi thì bạn hy sinh
Ngay trên mâm pháo vẽ hình gửi tôi.
Bài hình tôi đã giải rồi
Gửi đâu cho bạn lòng tôi tơ vò?
Hành trang của người lính ra trận từ mái trường Lê Hồng Phong mang theo là chiếc ba lô không chỉ đầy ắp nỗi nhớ quê hương, bạn bè với “Một hai ba giọng hát chú ve kim” (Hoàng Nhuận Cầm) là trái tim yêu nước, ý chí: “chưa hết giặc thì ta chưa về’ mà còn là những bài văn đang viết dở, những bài toán chưa làm xong. Trước mắt các anh là gian khó, hiểm nguy nhưng đằng sau các anh là những ánh mắt thân thương của gia đình, bạn bè đang dõi theo, là mái trường vẫy gọi chờ các anh về để học tiếp.
Tôi biết đến Câu lạc bộ Cựu chiến binh - Cựu học sinh trường Lê Hồng Phong trong ngày giỗ anh trai. Tròn 15 năm đón anh từ Quảng Trị về với quê hương cũng là ngày các anh chị lớp 10A (khóa 1969-1972) và anh Trần Thái Sơn (khóa 1972-1975), anh Nguyễn Ngọc Phúc lớp B (khóa 1969-1972) đại diện cho Câu lạc bộ về với gia đình tôi. Tôi biết ý tưởng thành lập Câu lạc bộ có từ ngày kỉ niệm 95 năm thành lập trường. 95 năm qua, bao lớp người trưởng thành, bao lớp người hy sinh vì độc lập của dân tộc từ mái trường này. Nhưng có ai nghĩ đến các anh? Các anh đã ra đi từ mái trường này thì hãy tìm tên các anh, đón các anh trở về trong vòng tay bè bạn, trong niềm biết ơn, tự hào của các thế hệ con cháu để ghi danh các anh vào trang vàng truyền thống của nhà trường đúng như mục đích của Câu lạc bộ là khơi dậy niềm tự hào, vinh danh những người lính đã một thời tạm gác lại sách bút, lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Tôi chợt nhớ câu nói của ai đó: “Dưới mỗi mái nhà đều có những nỗi đau riêng. Chỉ có điều ta có biết sẻ chia để vơi bớt nỗi đau đó hay không?” Và giờ đây, trong mỗi gia đình liệt sĩ dù phải chịu nỗi đau chia cắt thì họ đã nhận được sự sẻ chia ân tình của Câu lạc bộ Cựu chiến binh – Cựu học sinh trường Lê Hồng Phong và của biết bao người khác nữa. Với việc làm cao cả đó, những người sáng lập ra Câu lạc bộ, đặc biệt là người “thủ lĩnh” kiên cường Trần Thái Sơn - cựu chiến binh Lê Hồng Phong, thạc sĩ, giảng viên trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật Nam Định đã không quản ngày đêm, như con ong cần mẫn, miệt mài trên từng nẻo đường thôn xóm, từng góc phố để tìm từng tên liệt sỹ, từng thân nhân của họ, để gắn kết trái tim những người đang sống với trái tim đã ngừng đập của những người từ mái trường Lê Hồng Phong ra đi giành độc lập tự do cho dân tộc.
Nam Định, Tháng 12 năm 2015
P.H.L
Viết