Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

THEO DẤU TÍCH...

Nguyễn Tiến Lợi

THEO DẤU TÍCH MỘT TIỂU ĐOÀN CHỦ LỰC.

Cách đây gần chục năm, trong một lần về thị trấn Lương Sơn dự đám cưới, tôi gặp ông Hoàng Thế Hội, cán bộ huyện nghỉ hưu đã lâu. Biết tôi làm công việc tìm kiếm liệt sĩ, ông Hội nhờ tìm người anh ruột là liệt sĩ Hoàng Văn Thìn, quê xóm Mỏ, xã Hùng Sơn cũ. Ông Hội còn nói: Nghe đâu liệt sĩ Thìn hy sinh bên Đồng Hến, nước Lào từ hồi giặc Mỹ chưa leo thang đánh phá Miền Bắc. Tôi hứa sẽ để tâm tìm kiếm, hy vọng may mắn sẽ đến với gia đình. Trở về nhà, tôi bắt tay vào công việc ngay, không ngờ quá trình tìm kiếm đã lộ ra nhiều chuyện lạ mà chỉ trong hoàn cảnh chiến tranh mới có.

Do gia đình không còn giữ được giấy báo tử, tôi điện sang Phòng Người có công, Sở Lao động - Thương binh và xã hội nhờ xem hộ. Được biết liệt sĩ Hoàng Văn Thìn hy sinh ngày 18 tháng 05 năm 1965 tại mặt trận phía Tây (bên nước bạn Lào), giấy báo tử do Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 cấp, liệt sĩ Thìn thuộc Đại đội 13 Tiểu đoàn 3. Tôi tra trên Cổng thông tin điện tử của Cục Chính sách không có thông tin, tôi gọi điện nhờ Trung tá Bùi Mạnh Linh, Trưởng ban Chính sách, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tra cứu trong hệ thông thông tin nội bộ, nhưng cũng không có kết quả, vậy là bó tay. Tôi chuyển sang tìm hiểu về Sư đoàn 304 hoạt động ở nước bạn Lào trong giai đoạn sau năm 1964, cũng chỉ biết được sơ lược, không có những trận đánh cụ thể. Tôi tìm địa danh “Đồng Hến” như bác Hội nói thuộc tỉnh Savannakhet - Trung Lào. Tôi tra “Trận Đồng Hến…”, nhưng lại xuất hiện một bài báo viết về Trung đoàn 141, chặn đánh địch rút chạy sau Chiến dịch Lam Sơn 719, tại Đồng Hến ngày 26 tháng 5 năm 1971, không có trận ngày 18 tháng 5 năm 1965 như giấy báo tử đã ghi.

1_thanh_coMột thời gian sau tình cờ tôi lướt trên mạng thấy một bài báo cũ viết về trận Đồng Hến ngày 09 tháng 3 năm 1965 đăng trên Báo Quân đội nhân dân điện tử ra ngày 12 tháng 8 năm 2006, của tác giả Cao Xuân Lịch. Với cái tít hiếm gặp “Trận Đồng Hến - bài học về sự chủ quan”, tôi đọc ngấu nghiến, bài báo đã lột tả tương đối chi tiết về diễn biến trận đánh. Một bên là quân địch đóng trong cứ điểm, đúng hơn đây là trường quân sự của Mỹ huấn luyện quân đội Hoàng gia Lào, tại thời điểm đó trong căn cứ có hàng trăm học viên. Phát hiện được ý đồ của ta sắp tấn công, địch tăng cường một chi đội xe bọc thép (4 chiếc), một tiểu đoàn bộ binh thiếu (khoảng 200 quân), đại đội pháo ở Pha Lan luôn sẵn sàng bắn chi viện. Một bên là Tiểu đoàn 3, thuộc Trung doàn 9 sau nhiều năm huấn luyện kĩ càng ở hậu phương vào chiến trường với khí thế tưng bừng, tất cả đều muốn lập công, quân số một tiểu đoàn đủ, trang bị gồm 2 khẩu cối 120 mm. 300 viên đạn và các loại vũ khí, khí tài cần thiết khác. Về lí thuyết đánh công kiên (công sự kiên cố) muốn thắng thì lực lượng ta phải mạnh gấp ba lần địch. Cấp trên yêu cầu chỉ huy tiểu đoàn phải cân nhắc kỹ, vì địch đã nắm được ý đồ của ta. Tại hội nghị Đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng, một số đồng chí tỏ ra e ngại vì tương quan lực lượng, nhưng lại sợ bị đánh giá là hữu khuynh, nên hội nghị kết thúc đa số tán thành. Chỉ huy đơn vị còn chủ quan nhận định: "Địch càng tăng viện bao nhiêu, chúng càng bị tiêu diệt bấy nhiêu!". Kết cục trận đánh ra sao, kể ra đây thấy đau sót quá, chỉ dám tóm thật gọn như sau: Đêm đó đúng giờ “G” phát lệnh, gần sáng mũi 2 đi lạc đường nhập vào mũi 1 dồn lại trên bãi đất trống; 2 khẩu cối bắn liên tục 40 phút thì hết đạn. Mũi mở cửa sử dụng hết bộc phá, hàng rào kẽm gai nhiều lớp chỉ mở được một lối hẹp. Đến giờ xung phong, hoả lực địch bắn ra quyết liệt, pháo bên Pha Lan và Sê Nô rót sang. Quân ta thiệt hại lớn, một số vào được bên trong cố mở đường “cự mã”, tiểu đoàn trưởng Hoàng Thăng hy sinh, tiểu đoàn phó Nguyễn Văn Gấu lên thay trúng đạn phải đưa về phía sau. Khoảng 8 giờ sáng trận đánh kết thúc, Tiểu đoàn 3 bị thương vong nặng nề. Bài báo còn đánh giá ngoài sự chủ quan, phía ta còn thể hiện sự yếu kém về trình độ tác chiến, chưa trải qua thực tế chiến đấu nên chưa có kinh nghiệm. Bài học ở trận này nhắc nhở mỗi chỉ huy phải nghiên cứu tình hình một cách khách quan, toàn diện, đánh giá đúng đối phương để đưa ra những quyết định đúng đắn, hạn chế thương vong cho bộ đội và giành thắng lợi sau này.

Tìm ra được trận đánh là quá tốt rồi, nhưng đối chiếu với ngày hy sinh ghi trong giấy báo tử bị sai lệch giữa hai tháng, nếu giấy báo tử ghi đúng, thì có thể còn những trận đánh sau đó nữa mà tôi chưa tìm được? Tôi lại sang Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xem lại hồ sơ các liệt sĩ một lần nữa, chủ yếu tìm những liệt sĩ hy sinh năm 1965 (lúc đó bộ đội ta chưa đi sâu vào các chiến trường phía Nam, nên số liệt sĩ hy sinh còn ít). Tôi đã tìm được các hồ sơ liệt sĩ hy sinh thời điểm đó, thời gian hy sinh đều vào ngày 09 tháng 3 năm 1965 (hơn 40 liệt sĩ thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9 Sư đoàn 304), có 3 liệt sĩ hy sinh tháng 5 cùng thời điểm hy sinh của liệt sĩ Hoàng Văn Thìn, đó là liệt sĩ Nguyễn Văn Đường, quê xã Dân Chủ và liệt sĩ Nguyến Văn Cổng, quê xã Thịnh Lang (huyện Kỳ Sơn cũ), khả năng là 3 liệt sĩ này cũng hy sinh ở Savannakhet, nhưng không phải tại Đồng Hến. Mọi việc tạm dừng ở đó, vì tra trên Cổng thông tin điện tử Cục Chính sách không có thông tin của tất cả các liệt sĩ hy sinh thời điểm này; tra hệ thống mộ liệt sĩ quốc gia các nghĩa trang liệt sĩ thuộc tỉnh Quảng Bình (nơi gần tỉnh Savannakhet) đều không có tên.

Tôi lập danh sách 42 liệt sĩ Tiểu đoàn 3 quê tỉnh Hoà Bình hy sinh thời điềm này, đối chiếu với danh sách liệt sĩ từng xã để điều chỉnh cho chính xác và phát hiện ra danh sách liệt sĩ xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc không có liệt sĩ Hà Viết Lơ. Tôi liên hệ với cán bộ xã được biết ông Lơ vẫn còn sống, mấy ngày sau tôi cùng ông Xa Văn Chí, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đà Bắc có mặt tại nhà ông Lơ. Dáng vóc nhỏ thó, dù tuổi đã cao, ông Lơ vẫn còn nhanh nhẹn và minh mẫn. Về trận Đồng Hến, ông Lơ kể chi tiết hơn bài báo. Giọng ông trầm xuống khi nói về sự khốc liệt của trận đánh: “Lúc đầu ta ở thế chủ động, nhưng khi bị địch phản công bằng đạn pháo, ta rơi vào thế bị động hoàn toàn, trời sáng hẳn không có chỗ ẩn nấp, chúng tôi phơi lưng ra hứng đạn. Anh em thương vong quá nhiều, chỉ huy bị tê liệt, chúng tôi nhanh chóng rút ra rừng mà không kịp mang xác đồng đội theo. Tôi bị thương ở chân tập tễnh chạy đến một con suối nhỏ dừng lại uống nước, bỗng phát hiện bờ suối bên kia có 2 người Lào, đoán chắc mình sẽ không thoát. Khoảng mười lăm phút sau tôi bị bắt, chúng đưa tôi lên xe cam nhông về trại tù binh, băng bó vết thương cho tôi xong, chúng đưa tôi đến một trại tù ở thủ đô Viên Chăn. Chờ đến khi lành vết thương chúng mới lấy khẩu cung và tra tấn, mặc dù bị đánh đau, nhưng tôi không khai, thực ra mình lính tráng có biết gì đâu mà khai. Gần một tháng sau có đoàn thanh sát quốc tế, tôi nghe nói có đại diện các nước Ca Na Đa, Pháp, Úc gì đó đến Đồng Hến, chúng đưa tôi về đó để hỏi, mục đích họ tìm hiểu về trận đánh ngày 09 tháng 3 năm 1965 là do riêng quân đội Việt Nam, hay có phối hợp với quân đội Pathet Lào tấn công Trung tâm huấn luyện của Mỹ? Tôi để ý thấy ở góc sân rộng phía trước căn cứ có một mô đất hình bầu dục lum lủm như chiếc xuồng khổng lồ úp trên mặt đất, tôi đoán đó có thể là hố chôn tập thể bộ đội ta. Sau đó chúng đưa tôi trở lại Viên Chăn giam ở đó gần 8 năm, đến tháng 3 năm 1973 tôi mới được trao trả. Về đến nhà được biết gia đình đã làm giỗ cho tôi 7 lần rồi.”

Thông tin thu thập được từ ông Lơ quá ít, những liệt sĩ hy sinh sau đó, ông Lơ không hề biết. Một thời gian sau chị Nguyễn Thị Lợi, nguyên giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo nhờ tôi tìm kiếm thông tin liệt sĩ Nguyễn Văn Vận, quê xã Mông Hoá, hy sinh ngày 20 tháng 5 năm 1967, giấy báo tử ghi tên đơn vị C11 - KT, với ký hiệu này tôi tra cứu về liệt sĩ khu vực Tây Nguyên không có thông tin gì. Tôi sang sở Lao đông - Thương binh và Xã hội xem hồ sơ của liệt sĩ Vận, phát hiện ra giấy báo tử ghi đơn vị C11 - KH, không giống như giấy báo tử gia đình giữ, chắc là nhầm lẫn khi viết giấy báo tử, vì hồi đó chưa có máy photocopy. Tôi tiến hành tra cứu toàn bộ liệt sĩ tỉnh Hoà Bình có thời gian hy sinh năm 1967 và tìm được hơn 40 giấy báo tử có các kí hiệu: C11, C12, C13 và C15 - KH, đây là các đại đội của một tiểu đoàn đủ. Số liệt sĩ này tra trên Cổng thông tin điện tử Cục Chính sách không hề có thông tin bất cứ liệt sĩ nào. Tiếp đó lại có thêm trường hợp chị Nguyễn Thị Xiêm, ở xã Yên Mông nhờ tìm liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phê, giấy báo tử cũng có ký hiệu C11 - KH, hy sinh ngày 30 tháng 3 năm 1967. Chị Xiêm còn cho biết có ông Nguyễn Như Sang, đồng đội được chôn cất liệt sĩ Phê, hiện còn sống ở Xóm Tân Lập, xã Hợp Thành, thành phố Hoà Bình.

Gặp cựu chiến binh Nguyễn Như Sang, với dáng vóc rắn chắc, mặc dù tuổi cao, dáng đi hơi tập tễnh, nhưng không làm ông chậm chạp. Khi biết tôi tìm hiểu về đơn vị của ông và những liệt sĩ của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9, ông Sang kể khá rành mạch từng trận đánh, tôi mở máy điện thoại để ghi âm lại, vì chép tay không kịp. Giọng sôi nổi, ông Sang kể: “Trận Đồng Hến vì sao ta thua, không nhắc lại nữa, ông Nguyễn Văn Gấu, quê xóm Nước Lạnh, xã Liên Sơn (sau này là Tỉnh đội phó Tỉnh đội Hoà Bình) lúc đó là tiểu đoàn phó bị thương, khi trở về Minh Hoá, Quảng Bình chữa trị khỏi, có lần xuống đại đội gặp chúng tôi, nhắc lại trận đó, ông còn nói lẽ ra phải thế này, lẽ ra phải thế nọ. Đau sót lắm, chỉ mỗi việc xin mệnh lệnh cho trung đội vận tải vào lấy xác anh em ra, mà cũng không được cấp trên đồng ý, vì sợ chúng phát hiện rót pháo sang thì hy sinh hết. Nhưng ông Gấu vẫn cử hơn chục đồng chí vào vác xác đồng đội ra. Chủ yếu là những chiến sĩ hy sinh bên ngoài căn cứ địch, đã được anh em cho vào từng túi ni lông bó lại rồi. Hai lượt anh em vào cũng chỉ được vác được khoảng ba chục thi thể thôi, (nói nhỏ ở đây thôi nhé: Bọc nào nhỏ thì anh em chọn vác trước). Khi đem ra bìa rừng chôn vội, có biết ai nằm trong đó đâu, nên sau này nếu có quy tập hài cốt về nước, thì cũng sẽ ghi là chưa xác định được danh tính. Sau trận đó cũng còn vài trận đánh nhỏ quanh khu vực đường số 9, nhưng lâu quá rồi không nhớ nổi nữa. Đến cuối tháng 5 năm 1965 vào mùa mưa chúng tôi rút về nước, nghỉ ngơi một thời gian đơn vị chuyển ra xã Hưng Thi, huyện Lạc Thuỷ, Tiểu đoàn 3 chúng tôi nhận thêm khoảng 200 tân binh quê tỉnh Hoà Bình tâp trung vào huấn luyện.

Đầu năm 1967 Trung đoàn 9 được lệnh tách khỏi đội hình Sư đoàn 304 vào Nam chiến đấu, ăn tết nguyên đán xong chúng tôi lên đường. Cả bốn tiểu đoàn được tăng cường cho Quân khu Trị Thiên, mỗi tiểu đoàn bổ sung cho một tỉnh đội. Tiểu đoàn 3 chúng tôi có tên mới là Tiểu đoàn 816 về Tỉnh đội Quảng Trị. Vào đến Hướng Hoá, rồi xuống Hải Lăng được mấy hôm đã có chiến sĩ hy sinh rồi, anh Phê quê xã Yên Mông của chị Xiêm đây là người đầu tiên bị đạn pháo, tôi trực tiếp chôn cất cho anh ấy, vị trí rất dễ xác định, nơi hai con suối chảy nhập vào nhau, lính chúng tôi gọi là “ngã ba cưa” thuộc xã Hải Trường, sau này vào đó tìm hai lần mà không thấy mộ. Tiếp đó chúng tôi tập kích vào cứ điểm La Vang, hy sinh vài chục chiến sĩ, có 6 người quê Hoà Bình (hai anh Tân Lạc, một anh Kim Bôi, một anh Đà Bắc, hai anh Kỳ Sơn, trong đó có anh Nguyễn Phong Thì, người xã Phú Minh cạnh đây. Số liệt sĩ này sau tôi vào tìm cũng không thấy mộ người nào cả). Cuối tháng 5 năm 1967 chúng tôi chuyển xuống khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng. Những ngày chiến đấu ở vùng ven biển vô cùng khốc liệt, đơn vị xây dựng kế hoạch tác chiến tập trung tấn công liên tục vào các căn cứ địch, khi đó với cách đánh chiến thuật “nở hoa trong lòng địch” chúng tôi đều giành thắng lợi, nhưng ngay sau từng trận đánh, địch cho B52 rải bom và pháo từ ngoài biển bắn vào, quân ta thương vong khá nhiều. Tôi nhớ nhất là trận bị pháo kích vào trúng đội hình đóng quân đêm 19 rạng ngày 20 tháng 5, sáng ra chúng tôi điểm danh đơn vị hao hụt gần 100 quân. Số anh em hy sinh được chôn cất tử tế, nhưng sau đó những loạt bom nổ cách đó vài trăm mét, mặt đất rung chuyển, lớp cát lấp bên trên lọt hết xuống bên dưới, các bọc thi hài nổi lên khỏi mặt đất, có chỗ bom ném trúng khu vực nghĩa địa lật tung, lấp đi vùi lại chả còn gì. Đấy! Có vào trận mới biết, không phải liệt sĩ nào hy sinh cũng còn nguyên vẹn xác và được chôn cất, ghi danh tính vào lọ penicillil cẩn thận, như Tiểu đoàn 3 chúng tôi, suốt từ bên Lào, rồi vào Hải Lăng, mãi cho đến ngày giải phóng, gần một nghìn cán bộ chiến sĩ hy sinh, có liệt sĩ nào tìm thấy mộ đâu. Các anh đừng nhầm với Trung đoàn 9b của Sư đoàn 304 đầu năm 1968 cũng vào Quảng Trị chiến đấu nhé. Vì trước đó Trung đoàn 9 chúng tôi tách ra, thì Sư đoàn 304 lại có thêm một Trung đoàn 9b thay thế. Trung đoàn 9 chúng tôi khi ấy thuộc Quân khu Trị Thiên, nhưng sau đó quân khu giải thể, hồ sơ quân nhân hy sinh lưu ở đơn vị nào tôi không rõ? Cũng có thể vì lí do đó mà tra cứu Cổng thông tin Cục Chính sách không có thông tin của tất cả liệt sĩ tiểu đoàn chúng tôi, trong đó quê tỉnh Hoà Bình ít nhất có 85 liệt sĩ.”

Tôi chuyển sang tra cứu Hệ thống thông tin mộ liệt sĩ quốc gia, cả hai địa phương Quảng Bình và Quảng Trị hy vọng phát hiện ra manh mối gì liên quan đến thông tin của các liệt sĩ Tiểu đoàn 3 (Tiểu đoàn 816) quê tỉnh Hoà Bình không? Tỉnh Quảng Bình có 4 nghĩa trang liệt sĩ là nơi quy tập các liệt sĩ từ bên nước bạn về, thì tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Mai Thuỷ có một mộ liệt sĩ chỉ ghi họ và tên Nguyễn Văn Đường, muốn tư vấn cho gia đình liệt sĩ Đường làm thủ tục giám định AND, nhưng theo quy định phải có giấy xác nhận nơi liệt sĩ hy sinh gần khu vực đó, vì không xin được giấy xác nhận đành bỏ cuộc. Nếu có phép mầu nhiệm xác định được danh tính ngôi mộ đó là của liệt sĩ Nguyễn Văn Đường (phường Dân Chủ, thành phố Hoà Bình) thì sẽ mở ra cánh cửa cho 41 liệt sĩ của Tiểu đoàn 3 hy sinh bên nước bạn. Còn tại hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thì không có mộ liệt sĩ nào có tên trong số 43 liệt sĩ Tiểu đoàn 816 hy sinh tại đây.

Đến đây dấu tích của một tiểu đoàn đã được khắc hoạ, linh hồn hàng trăm liệt sĩ quê khắp mọi miền đất nước, trong đó có 85 liệt sĩ quê tỉnh Hoà Bình đã hoà vào lòng đất hai tỉnh của hai nước có chung con đường số 9, con đường mang đầy thương tích của chiền tranh, con đường đã ghi lại những chiến công oanh liệt của quân đội ta, trong đó có các anh hùng liệt sĩ của một tiểu đoàn chủ lực thuộc Trung đoàn 9 (Trung đoàn Quang Trung) anh hùng.

                                                                                                           N.T.L.

 

 

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 32
Trong ngày: 654
Trong tuần: 3469
Lượt truy cập: 1236580
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông