Giang Hiền Sơn
NÀ HANG - HUYỀN THOẠI TRÊN MẶT NƯỚC
Bắt đầu từ Bến Thuỷ, nằm bên cạnh nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang, chúng tôi lên thuyền ngược dòng sông Gâm hướng về phía Cọc Vài để chính thức bước vào hành trình ngao du xứ sở Na Hang trên mặt nước. Rồi cũng từ đây, hướng theo mũi thuyền, một bức tranh sơn thuỷ vô cùng kỳ vĩ quyện trong bầu không khí mát mẻ, nguyên sơ của trời thu tháng Tám trên địa đầu Đông Bắc lần lượt mở ra trước mắt chúng tôi khiến cho ai nấy không khỏi thích thú, trầm trồ ngợi ca. Và trong niềm vui háo hức sảng khoái ấy, ánh mắt của tôi như bị hút vào trong cái nhìn say sưa của muôn ngàn sóng nước xôn xao giữa trập trùng non xanh ngút ngàn mây phủ, mịt mù sương giăng. Cứ thế, hoà cùng tiếng máy nổ giòn tan của con thuyền đang chầm chậm rẽ sóng trên mặt hồ mênh mang và ông chủ thuyền cũng bắt đầu kể cho chúng tôi nghe những huyền thoại về non nước quê mình với một niềm say mê bất tận.
Theo đó, trong gió ngàn mát rượi bay trên mặt hồ màu ngọc bích chúng tôi được biết, Na Hang xưa được gọi là Nà Hang, trong ngôn ngữ của người Tày bản địa xứ Tuyên có nghĩa là “ruộng cuối” hay còn có cách hiểu khác là “ruộng dưới thung lũng”. Và cái lòng hồ Na Hang chúng tôi đang du ngoạn đây, khi xưa vốn là khúc sông Gâm được chặn lại cho nước dâng lên để làm thuỷ điện. Công trình này mới được làm hồi đầu thế kỷ mới, khởi công năm 2002 và hoàn thành năm 2008, với ba tổ máy phát điện và là nhà máy thuỷ điện lớn thứ năm ở miền Bắc. Tính từ khi được đưa vào hoạt động, lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang, với sức chứa lên đến hai tỷ mét khối nước, giờ đây, không chỉ có giá trị là nguồn bạc trắng quý báu mà còn là một lá chắn xanh, phòng chống lũ lụt cho vùng châu thổ sông Hồng cũng như cấp nguồn nước mát lành cho khu vực hạ nguồn trong mỗi mùa khô hạn. Nghe lời ông kể, con mắt của tôi không khỏi mơ màng theo làn nước mênh mang như đang xẻ dọc đại ngàn, tách ra những trái núi, dập dềnh trên mặt hồ xanh biếc. Cứ thế, theo hướng mũi thuyền ngược dòng, đi bên các vách núi đá vôi dựng đứng, bất giác, tôi lại chợt nhớ ra, ở phía trên thượng nguồn, lòng hồ này còn là nơi gặp gỡ và hoà quyện của hai dòng nước lớn, sông Gâm và sông Năng. Sông Gâm từ Quảng Tây (Trung Quốc) đi qua miền biên giới, mang theo cả bầu nước tươi mát của sông Nho Quế từ Đồng Văn xuôi về Bắc Mê rồi đổ vào Na Hang. Sông Năng cũng từ Cao Bằng len lỏi qua hồ Ba Bể, vượt thác băng ghềnh đưa dòng nước ngọt ngào của Bắc Kạn hoà chung một nhịp cùng sông Gâm ở phía thượng nguồn Na Hang, mà làm nên một lòng hồ thuỷ điện vô cùng kỳ vĩ. Hành trình từ những dòng sông song hành cùng những ngọn núi sóng đôi cho đến một lòng hồ nhân tạo thơ mộng mở ra mênh mông giữa đại ngàn xa xôi, nơi được nức tiếng xem như một “Hạ Long trên núi”, chính là một sự kết hợp vĩ đại giữa thiên phú và nhân tạo. Nhận ra sự giao hoà của những dòng nước và ngọn núi ấy, tôi lại chợt ngộ ra, Na Hang không đơn giản chỉ là một nơi “ruộng cuối” mà còn là nơi hò hẹn của những dòng sông, nơi hội tụ của những ngọn núi giữa bốn bề rừng rậm thâm nghiêm. Chính vì thế, những mảnh ruộng ở dưới thung lũng nơi đây không chỉ có những dải núi cao hùng vĩ như bức trường thành bao bọc mà còn được nguồn nước mát ngọt của những con sông dài ôm ấp, tưới mát quanh năm. Bởi thế, non nước xứ Tuyên nơi này hiện lên trong mắt chúng tôi vừa như một bức tranh sơn thuỷ hữu tình vừa như một mạch nguồn hội tụ các giá trị kinh tế và văn hoá của đại ngàn biên viễn. Rồi cứ thế, trong nỗi niềm bâng khuâng ấy, ký ức trong tôi lội ngược dòng thời gian, từ lòng hồ kỳ vĩ, xanh mát trước mắt ngược về với thời hồng hoang của đất và người trên miền viễn xứ. Hoá ra, đây không phải vùng đất mới được khai phá. Xứ sở Na Hang giữa bốn bề đại ngàn mênh mông, sâu thẳm, từ thời xa xưa từng là tổ ấm dung dưỡng của đồng bào hơn mười dân tộc anh em, đặc biệt là người Tày, tộc người có đến hơn một nửa dân số (52%). Chẳng những vậy, những di chỉ khảo cổ ở hang Phia Muồn với những di cốt, mộ táng, công cụ đá, vết tích bếp lửa mà người ta biết được sự sống của con người ở đây đã có từ ba ngàn năm đến bốn ngàn năm thuở trước. Đặc biệt, di chỉ khảo cổ ở hang Phia Vài từng là nơi lưu dấu một hiện tượng độc đáo. Với bộ xương cốt của một người phụ nữ cổ còn nằm lại trong hang, giúp người ta nhận ra sự xuất hiện của con người ở Na Hang cách ngày nay có đến một vạn năm. Những di chỉ đã tìm thấy kia, có thể xem là một minh chứng biết nói: miền đất Na Hang, từ xưa đã tràn trề nhựa sống và là chốn an cư của người tiền sử. Những di cốt ấy chính là những chủ nhân đầu tiên đã bám rễ sâu, mọc cánh dài trên miền đất này. Sự sinh tồn này cũng chưa bao giờ bị đứt gãy mà xuyên suốt từ thời kỳ Đồ đá mới sang Đồ đồng và cho đến tận ngày nay.

Mải mê và đắm chìm giữa dòng chảy của lịch sử hàng vạn năm như thế tôi bâng khuâng nghĩ đến một Na Hang từng nổi tiếng từ lâu là một “miền gái đẹp” với câu ví “chè Thái gái Tuyên”, cùng với cảnh quan ruộng bậc thang đẹp mê hồn trong mỗi mùa vàng óng ả hay những vườn hoa lê trắng muốt, bung nở trên những triền non xanh khiến bao lữ khách mơ màng trong mỗi tiết Thanh Minh. Nhưng rồi tiếng máy nổ bỗng giảm ga, con thuyền trôi chậm lại, tiếng ông chủ thuyền lại vang lên: các bác nhìn kìa, phía xa, ở đằng trước mũi thuyền kia là ngọn núi trông như hình một con voi đang đứng bên nậm rượu, núi ấy là núi Pắc Tạ. Đây là ngọn núi cao nhất ở Na Hang, khoảng hơn một ngàn mét so với mực nước biển và là ngọn núi linh thiêng nhất trong khu vực lòng hồ Na Hang. Tương truyền ngọn núi này chính là hoá thân của con voi nghiện rượu nhưng có nhiều công lao to lớn, giúp triều đình đánh tan quân giặc. Bởi thế, ngọn núi sừng sững giữa hồ nước mêng mông ấy cũng đã từng được nhà vua ban phong là “Voi quận công hoá đá”. Ngọn núi này cũng rất kỳ lạ, dáng hình của nó không thuần nhất. Đứng ở trên bờ nhìn vào ta thấy như hình con voi bên nậm rượu, nhưng từ lòng hồ nhìn lên lại thấy giống như một bầu vú khổng lồ, tròn trịa vươn lên giữa mây ngàn tựa như bầu sữa của mẹ thiên nhiên ban tặng cho miền đất này. Bởi thế nhìn quả núi người Tày nơi đây còn ví von là bầu “vú của trời”. Và ở bên dưới chân núi cao ngất ấy có một ngôi đền, người ta đã lấy tên núi để đặt tên cho đền. Khởi thuỷ, ngôi đền có từ thế kỷ XIII, tương truyền đền thờ vị hôn thê của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, năm 1285. Truyền thuyết ở Na Hang có kể lại rằng: Thời kỳ Trần Nhật Duật trấn thủ xứ Tuyên đã phải lòng một sơn nữ nơi này. Nàng là con gái của một tù trưởng trong vùng, nổi tiếng xinh đẹp và hiền thục. Sau chiến thắng quân Nguyên Mông, triều đình đã đứng ra tổ chức hôn lễ cho tướng quân và ái nữ miền sơn cước. Nhưng khi đón dâu về kinh đô, đoàn thuyền rước dâu đi trên sông Gâm, lúc lướt qua chân núi Pắc Tạ, trời bỗng nổi lốc xoáy cuồng phong làm cho thuyền cô dâu bị lật úp. Hôn thê của Chiêu Văn Vương cùng tuỳ tùng bị chìm xuống lòng sông lạnh giá. Nhớ thương người vợ trẻ của Trần Nhật Duật, triều đình đã ra lệnh cho nhân dân bên đôi bờ tổ chức tìm kiếm thi thể và trọng thưởng cho ai tìm thấy nàng sơn nữ. Sau nhiều ngày tìm kiếm, một người thuộc dòng họ Ma đã vớt được thi hài vương phi. Sau đó, để tưởng nhớ vong linh hôn thê của Trần Nhật Duật, triều đình và dân trong vùng đã lập đền thờ tại nơi con thuyền bị lật úp và dòng họ Ma được quyền chăm lo hương khói, giữ gìn mạch nguồn tâm linh ở ngôi đền từ đó cho đến ngày nay. Thuở ban đầu, đền Pắc Tạ được làm bằng tranh, tre, nứa, lá. Trải qua những thăng trầm của thời gian, ngôi đền đã được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Diện mạo khang trang hiện nay là kết quả của lần tôn tạo năm 2008 và được xếp hạng Di tích Quốc gia vào năm 2009. Hằng năm, vào dịp đầu năm và cuối năm, người dân xứ đại ngàn Na Hang tổ chức hai lễ lớn, đầu năm lễ cầu, cuối năm lễ tạ để xin Thánh Bà che chở cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng được ấm no, hạnh phúc.
Câu chuyện về ngôi đền cùng vị hôn thê của tướng quân Trần Nhật Duật vừa dứt cũng là lúc mũi thuyền từ từ cập bến cho chúng tôi lên đền chiêm bái và thắp nén tâm hương hướng về bậc tiền nhân được đời đời thờ phụng. Thong thả tản bộ dưới tán rừng xanh rợp lá cây, bước qua mấy chục bậc tam cấp, chúng tôi lên đến đền Pắc Tạ. Mặt đền hướng ra hồ xanh bao la, không gian thoang thoảng một mùi trầm hương tinh khiết, khiến cho ngôi đền giữa đại ngàn tịch mịch càng trở nên thâm nghiêm lạ kỳ. Gió hồ đưa vào mát rượi, nhìn ra phía xa, chỉ thấy sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ ngọc bích, không còn nghe thấy tiếng sóng hay tiếng máy nổ ồn ào, chỉ còn lại những tiếng chuông thi thoảng ngân nga mỗi khi có ai đó bước vào trong đền dâng hương và gửi gắm những ước nguyện bình an hay cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ nơi Thánh Mẫu Vương Phi. Cũng như bao người đến vãn cảnh lòng hồ khác, sau khi thành kính dâng hương, chúng tôi trở lại bến, lên thuyền và tiếp tục hải trình du lãng. Tiếng máy nổ lại vang lên giòn giã, xua tan không khí tĩnh lặng ở trên đền. Thuyền nhổ neo, rẽ nước lòng hồ, hướng về phía Cọc Vài. Tuy là mùa mưa lũ nhưng con sông khá hiền, không dâng sóng dữ dội như nơi ghềnh thác mà dịu dàng, uốn lượn như một dải lụa xanh thẫm, giấu mình giữa hai bức tường thành đá vôi dựng đứng. Cứ thế, giữa dòng nước mênh mang, mũi thuyền lại băng băng rẽ sóng ngược sông tiến lên phía trước và mở ra một không gian ngập tràn sắc xanh của bầu trời, cây núi, mặt nước trong cái tĩnh lặng vô cùng của hương sắc mùa thu làm cho lòng tôi không khỏi trào dâng một niềm háo hức khó tả khi nghĩ đến danh thắng Cọc Vài - nơi được xem là biểu tượng kỳ vĩ của du lịch trên lòng hồ và cũng là một biểu tượng linh thiêng gắn liền với huyền thoại chàng Tài Ngào từ thuở hồng hoang, nay đang ẩn mình giữa lòng hồ thẳm xanh cùng với chín mươi chín ngọn núi điệp điệp trùng trùng của miền gái đẹp Thượng Lâm.
Trên dọc hải trình sông nước Na Hang, thuyền của chúng tôi cứ chầm chậm dong chơi giữa ngút ngàn núi xanh, dưới bầu trời thanh sạch cùng những làn gió mát rượi. Quãng chừng đến già nửa đường đi, khi vào vùng đất Thượng Lâm, tiếng của ông chủ thuyền lại một lần nữa vang lên chỉ dẫn hướng về phía những ngọn núi trập trùng trước mặt để giới thiệu với mọi người đây là chín mươi chín ngọn núi, nơi từng có đàn chim phượng đưa nhau về xây tổ. Và bên vách núi nhô ra trên dòng sông bỗng hiện lên pho tượng của một con chim phượng hoàng khổng lồ được trang trí bằng sơn màu rất đẹp. Con phượng hoàng ấy đang trong thế vươn đầu nhìn về phía hồ nước và tung hai sải cánh giữa bầu trời đại ngàn, trên mặt nước mênh mông, trông rất sống động. Rồi ông kết nối bluetooth giữa điện thoại với chiếc loa kéo tay và mở vang bài hát “Tâm tình cô gái Na Hang”. Giữa hồ nước bao la, trong xanh êm ả, một giọng nữ cao vút lên với quãng âm rộng, hoà trong giai điệu trữ tình thiết tha như thể mang đậm chất nhạc dân gian của vùng cao, rất tự do, phóng khoáng mà bay bổng, ngọt ngào khiến cho hết thảy mọi người trên thuyền phải lặng đi, chìm trong tiếng lòng mời gọi thiết tha: “… Ai lên Tuyên Quang vượt vòng cung Lô Gâm tới Na Hang quê em. Ai bay trên không tới miền Thượng Lâm thấy chín chín ngọn núi, đấy chính là Na Hang quê em. Na Hang quê em, rừng cây xanh xanh cảnh đẹp thần tiên Phượng Hoàng đã về đây. Em mong anh về đây anh ơi. Thương anh như chín mươi chín ngọn núi nhớ anh như núi Pắc Tạ anh ơi…”. Tiếng hát ấy cứ da diết và vang vọng cả núi ngàn mà làm say đắm lòng người, làm sống dậy cả một không gian huyền thoại bấy lâu nay đang ẩn mình dưới lòng hồ xanh thẳm. Cái giai điệu ấy lắng đọng và ngân nga mãi trong lòng người, cả khi điệu nhạc đã dứt từ lâu. Dường như cảm xúc huyền thoại của miền đất Thượng Lâm vẫn còn dư ba trong sâu thẳm tâm hồn du khách. Khi thuyền đi qua chốn thần tiên chín mươi chín ngọn núi, tôi mới đi lại chỗ ông chủ thuyền bảo rằng bài hát ông vừa mở là sáng tác của bác tôi, nhạc sĩ Lê Việt Hoà. Tôi nói dứt lời, ông chủ thuyền hình như có một chút sững người rồi nói: Ông nhạc sĩ này viết về Hà Tuyên hay lắm. Bài hát này thời Hà Tuyên cũ được xem như là tỉnh ca đấy. Du lịch trên lòng hồ Na Hang, mỗi khi thuyền đi qua nơi này, dường như các chủ thuyền đều mở cho khách nghe bài hát của ông để thay lời giới thiệu về cảnh đẹp và huyền thoại của vùng đất Na Hang cho mọi người được biết. Ông còn bảo tôi: Năm trước con gái ông Hoà (Đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Việt Hương) có về Na Hang và làm bộ phim ca nhạc (MV) về bài hát này để quảng bá du lịch cho vùng hồ sơn thuỷ hữu tình xứ Tuyên của tôi đấy. Nghe lời ông nói vậy, tôi lại nhớ đến bác và không khỏi tự hào. Tôi liền mở điện thoại nhắn tin cho chị Việt Hương và kể lại câu chuyện nhân duyên trên sóng nước. Và tôi có viết cho chị: Du lịch lòng hồ Na Hang còn, núi Pắc Tạ và chín mươi chín ngọn núi huyền thoại của xứ sở “ruộng cuối” còn… thì bài hát “Tâm tình cô gái Na Hang” của bác sẽ không bao giờ bị lãng quên. Thế đấy, cuộc “gặp gỡ” này thật bất ngờ nhưng đầy xúc động và cũng rất đỗi tự hào!
Đi qua vùng núi huyền thoại của miền đất Thượng Lâm, con thuyền chở chúng tôi rẽ sóng trong yên lặng, tôi có cảm giác dư âm của bài hát “Tâm tình cô gái Na Hang” dường như lắng đọng trong cõi lòng du khách và lan sang cảnh vật trên sông nước. Rồi tiếng máy tăng ga, con thuyền lướt nhanh trên mặt hồ. Những ngọn núi đồ sộ điệp trùng, hai bên vách đá hùng vĩ và những cánh rừng nguyên sinh sâu hun hút… đều được thu trọn vào trong tầm mắt. Cả khu vực hồ nước với khoảng tám ngàn héc-ta hiện lên với một khung cảnh ngập tràn sắc xanh khiến cho lòng người không khỏi mê đắm. Màu xanh của cây rừng quyện vào sắc xanh của mặt nước, soi rõ cả tầng trời biêng biếc cùng những áng mây trôi, khiến cho cảnh vật hiện ra đầy sức quyến rũ. Tất cả mọi người, ai nấy đều lặng yên để lưu vào tầm mắt cho riêng mình một khoảng trời đầy thơ mộng. Nhưng rồi cái tĩnh lặng ấy cũng chẳng được bao lâu khi tiếng máy nổ nhỏ dần và hiện ra trước mắt một trái núi mọc lên thẳng đứng như ngọn tháp đá cô đơn ở giữa hồ nước xanh thẳm, mênh mông. Và tiếng ông chủ thuyền lại một lần nữa cất lên: Cọc Vài kia rồi, tôi cho thuyền đi chậm ít phút các bác chụp ảnh nhé. Từ trong khoang thuyền nhìn ra, Cọc Vài trong mắt tôi ước chừng cao khoảng năm mươi mét, tựa như một cột chống trời được tạo nên từ những tảng đá xếp chồng lên nhau. Vách núi đá vôi bạc màu dựng đứng, trên đỉnh núi ấy được điểm xuyết những bụi cây dại, rễ bám kiên cường vào vách đá như thể thi gan cùng tuế nguyệt. Nhìn cột đá ấy tôi bỗng lặng đi bởi sự kỳ vĩ của thiên nhiên và nhớ đến chàng trai Tài Ngào từng cứu trâu trời và đắp đập dâng nước giúp dân bản ở chính nơi này. Cọc Vài hay còn gọi là Vài Phạ, theo tiếng Tày địa phương có nghĩa là cọc buộc trâu trời. Truyền thuyết xứ Na Hang kể rằng, nhờ con đập Tài Ngào đắp ấy mà vùng đất ruộng dưới thung lũng mới có nước trồng lúa, nhờ có cây cọc ấy mà trâu trời mới được sống sót. Có lẽ tin truyền thuyết là có thật mà người dân ở Na Hang coi núi đá này là một nơi rất linh thiêng, đầy bí ẩn giữa đại ngàn. Người ta bảo rằng, ai cần cầu gì cứ đi quanh cây cọc thành tâm ước nguyện thì mọi việc sẽ tất thành. Ngắm nhìn Cọc Vài trồi lên giữa lòng hồ, đêm ngày soi bóng xuống mặt nước lung linh huyền ảo để cho du khách mặc sức chiêm ngưỡng, chụp hình lưu giữ những khoảnh khắc thần tiên tựa chốn bồng lai mà không biết chán. Cũng có khi từ trên đỉnh núi, thỉnh thoảng lại rơi xuống mặt hồ những giọt nước trong lành tạo nên những vòng sóng đồng tâm lan tỏa xao động. Người ta bảo những giọt nước ấy giống như giọt lệ tiếc thương của trần gian dành cho người anh hùng thuở trước. Cứ vậy, giữa bộn bề của sóng nước, mây trời; trong đôi bờ hư thực của huyền thoại năm xưa, lòng hồ Na Hang đã trở thành một cõi thiêng của xứ này và làm say lòng bất cứ bước chân nào của mọi lữ khách từng một lần may mắn ghé qua.
Con thuyền chở chúng tôi dưới sự điều khiển rất điệu nghệ của ông lái già đã áp sát vào chân cột đá, chầm chậm đi quanh trái núi Cọc Vài mấy vòng cho du khách mãn nhãn và chụp ảnh lưu niệm. Rồi vòng về, trở lại miền đất Thượng Lâm để mọi người tiếp tục thưởng ngoạn thác nước Khuổi Nhi. Thuyền chạy khoảng ba mươi phút đã đưa chúng tôi trở lại vùng đất phượng hoàng năm xưa với thác nước tung bọt trắng xoá chảy qua năm tầng bậc đá mà thành một bức tranh phong cảnh nên thơ, hữu tình. Cứ thế, ngắm nhìn cảnh vật núi non hùng vĩ ấy tôi thấy tiếc cho vùng đất nơi này. Giá như, cái ngày một trăm con phượng hoàng bay về, nếu có thêm một trái núi nữa thì có lẽ nơi này đâu còn là chốn thâm sơn cùng cốc. Nhưng cũng chẳng sao, trời không lấy đi tất cả của vùng đất ấy. Chín mươi chín ngọn núi và dòng thác như áng tóc dịu dàng đang buông lơi giữa trời kia không làm nên một kinh đô của triều đình thì cũng làm nên một kinh đô của sắc đẹp. Nhan sắc của các cô gái Na Hang, nhất là ở Thượng Lâm chẳng từng vang danh thiên hạ và làm mê mẩn biết bao nhiêu người. Chỉ cần vậy thôi Thượng Lâm cũng đủ tự hào và kiêu hãnh lắm rồi. Dòng nước như dải lụa kia được dội từ trên đỉnh núi cao xuống dưới lòng hồ. Chiều dài của dòng thác dễ chừng khoảng gần ba cây số, trong vắt và mát lạnh. Ngược theo ngọn thác, chúng tôi men theo lối mòn của một khu rừng để lên tầng đá cao nhất. Trên hành trình trải nghiệm xuyên rừng tắm thác ấy, tôi thấy Khuổi Nhi hiện ra trước mắt như là một tuyệt phẩm của trời đất dành để ban tặng cho miền đất này. Ngọn thác chia thành nhiều dòng chảy với nhiều tầng thác lớn nhỏ khác nhau và được che chở bởi một rừng cây rậm rạp, hoang sơ. Cứ thế, trong mắt tôi, từng bậc thác trắng xoá, thướt tha nối tiếp nhau đổ xuống chân núi tựa như dải lụa mềm mại, tinh khiết nối đất với trời, rồi buông hờ xuống mặt hồ lung linh mây trời khiến cho ai nhìn thấy cũng không khỏi bâng khuâng, xao xuyến. Dưới chân ngọn thác trên núi là một hồ nước nhỏ. Vào những ngày nóng bức, hồ nước có hàng trăm người với đủ lứa tuổi, trai gái thi nhau ngụp lặn, bơi lội để xả nhiệt. Đặc biệt trong hồ có rất nhiều cá suối. Khi ngâm mình trong dòng nước mát, chỉ một lát thôi, đàn cá đã bám quanh chân và rỉa vào da thịt tựa như massage và mang lại cảm giác rất dễ chịu, thích thú cho người tắm thác. Người ta kể, thác nước này là kết quả của một chuyện tình bất thành. Một đôi trai gái yêu nhau nhưng không thể đến được với nhau. Trong một lần bị lạc, cô gái vì đi tìm chàng trai khắp nơi nhưng không thấy mà đã hóa thành dòng thác. Bởi vậy người Thượng Lâm nhìn ngọn thác mà bảo rằng đấy là mái tóc của cô gái lạc mất người thương. Mái tóc ấy hiền hoà, ngọt mát và phảng phất hương rừng như tình yêu ngọt ngào nhưng đầy bi thương của đôi trai gái. Đằm mình trong dòng nước ấy ta như được trở về với cội nguồn trong lành, nguyên sơ của tạo hoá. Và nhiều người tin rằng cái làn nước tinh khiết của thác Khuổi Nhi ấy còn giúp cho các thiếu nữ da dẻ hồng hào, mịn màng, trắng trẻo. Có lẽ, tiếng lành đồn xa mà có rất nhiều chị em khi đến đây là phải lên tắm thác.

Xế chiều, chúng tôi rời Khuổi Nhi, trở lại bến thuyền để trở về nơi xuất phát. Lúc này, hoàng hôn bắt đầu buông xuống trên lòng hồ Na Hang, mặt nước màu ngọc bích vốn có được nhuộm một màu vàng đỏ bảng lảng kiêu sa từ chín mươi chín ngọn núi nhấp nhô hắt xuống khiến cho ai nấy trong lòng không khỏi trào dâng những nỗi niềm bâng khuâng. Ngồi bên cửa sổ của khoang thuyền, lặng yên, ngắm nhìn làn nước trong xanh đang lùi dần về phía sau đuôi lái, tôi thấy mình không khỏi lưu luyến chốn đại ngàn biên viễn ải Tuyên. Chiều về, thanh âm hồ nước dường như không còn tĩnh lặng nữa, hoà cùng sóng xô vách núi là tiếng thuyền máy rẽ nước vào bờ. Không biết có phải khi về thuyền đi nhanh hơn hay cảm giác chưa muốn chia tay mà tôi thấy dòng sông như ngắn lại hơn rất nhiều. Chỉ một thoáng chốc, núi Pắc Tạ sừng sững hiện ra trước mắt và khung cảnh Bến Thuỷ lại tấp nập hàng trăm con thuyền phơi mình trên sóng nước, như thể nằm nghỉ đợi ngày mai lại xuất bến ngược dòng, tiếp tục nâng những gót chân của hàng ngàn lữ khách trên khắp mọi miền về đây du ngoạn trên mặt nước. Có lẽ sau chuyến đi này, tôi đã nhận ra, hình như mình mang theo về xuôi không chỉ là những tấm hình kỷ niệm với non nước Na Hang mà còn có cả một khoảng trời kỷ niệm của người bác thân yêu với miền đất sơn thủy hữu tình, mộng mơ và huyền thoại. Cứ vậy, tạm biệt Na Hang, tôi lại thầm hẹn có một ngày không xa, mình sẽ trở về rẽ sóng nơi này!
G.H.S