Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

GIỖ TRẬN

Trương Ngọc Hùng

GIỖ TRẬN                                            

          Như thường lệ, sau bữa sáng ông ra ngồi dưới gốc me già ngắm nhìn những bông nắng nhảy múa của mảnh đất phương Nam. Ông nghĩ nhiều lắm mà như không nghĩ gì. Mấy chục năm qua đi, biết bao những địa danh ông đã từng đặt chân đến. Từ Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng trên đất Lào, đến Tasanh, Batambang Campuchia, rồi Vị Xuyên Hà Tuyên, nơi nào cũng để lại cho ông những kỷ niệm khó quên, những niềm vui và nỗi buồn day dứt. Những ngày gần đây, dường như những kỷ niệm một thời chiến trận ấy trở về bên ông ngày càng dày hơn, thường nhật hơn. “Âu cũng là căn bệnh của tuổi già”. Ông thở dài nghĩ…

          - Ông ơi.- Thằng cháu ngoại hơn mười tuổi gọi thất thanh. Ôm chiếc ipat lao vụt từ trong nhà ra, vừa nói vừa thở. “Có người nhắn tin tìm ông này”. Thằng bé giơ chiếc máy tính bảng về phía ông.

          Lập cập mở bao kính: “Thủ trưởng Kiệm ơi, bố Kiệm ơi. Bố đang ở đâu hãy trả lời chúng con. Anh em Tiểu đoàn đã tập hợp nhau, lấy ngày địch đánh Cô Ích, Đồi Đài, Đá Pháp ác liệt nhất làm ngày giỗ trận. Bố về với chúng con đi, về với thằng còn sống và cả những thằng đã chết”. Ông thừ người… Ngày ấy, Mặt trận Hà Tuyên vô cùng ác liệt, các đơn vị thay phiên nhau lên chiến đấu, chỉ là Tiểu đoàn trưởng nhưng nhiều tuổi nhất trung đoàn, lại có con gái đang học năm đầu trường sư phạm nên hầu hết lính và một số sỹ quan trẻ gọi ông là bố.

          - Chúng nó lấy ngày ấy làm ngày giỗ trận, cũng đúng. Vì 12 tháng 7 là ngày giỗ trận chung của toàn Mặt trận, ngày ấy đơn vị ông chưa lên thay phiên.- Ông nghĩ, có một ngày riêng cho Tiểu đoàn, để người sống và người đã mất “gặp” nhau cũng tốt… Mà cũng “hao” nhiều rồi, thời gian thật là... - Ông lại thở dài, nhớ ngày địch tấn công toàn tuyến phòng ngự do Tiểu đoàn ông đảm nhiệm. Hàng ngàn quả đạn pháo trút xuống, đất đá lộn nhào trắng như vôi. Ta và địch giành nhau từng mỏm đồi, vách đá. Thằng Hải trên Đồi Đài đã bắn hơn chục phát B41, vượt hơn hai lần cho phép, khiến địch kinh hoàng bỏ chạy. Chốt vẫn vững nhưng vài chục người đã “nằm” xuống, nhiều tờ quyết định hoàn thành nghĩa vụ quân sự loang máu đỏ. Ông đã khóc khi kiểm di vật Liệt sỹ, có những bao thuốc lá và quà mừng đám cưới của anh em đồng đội… Ông lặng người, trân trân nhìn vào dòng tin nhắn, tay run run sờ vào mặt từng người trên tấm ảnh được anh em chụp lại hiện trên màn hình. Đây là tấm ảnh đen trắng chụp ông và một số người trước khi đơn vị về lại Tây Nguyên. Tấm ảnh tuy đã mờ phai vì năm tháng nhưng còn nhìn khá rõ. Ông nhớ hết tên những người trong ảnh, nhớ khá kỹ tính nết, sở trường cũng như vi phạm của bọn họ… Đây thằng Bình “trắng”, sinh viên khoa ghi ta của trường âm nhạc Việt Nam, thằng đã từng năn nỉ ông: “Thủ trưởng giao cho em việc gì cũng được, kể cả gắp c… nhưng đừng bắt em cuốc đất, bàn tay này là tài sản duy nhất mà em có”. Ấy vậy mà khi lên chốt đã không ngần ngại bê đá, vác bê tông làm hầm, làm công sự. Kết thúc chiến tranh, trở lại trường, rồi trở thành giảng viên và là cây ghi ta có tiếng trong giới nghệ sỹ đàn dây. Ông đã nghe cậu ấy trả lời phỏng vấn trên truyền hình: “Những năm tháng lăn lộn ở chiến trường đã cho tôi ngón tay cứng rắn và mềm mại để tấu lên những khúc nhạc này”. Đây là thằng Long “bùn” nhỏ choắt, đen đúa, nhanh như cắt, nổi tiếng nghịch ngợm, đã “phát minh” ra trò thả kẹo, thuốc lào xuống chốt giặc. Vì chuyện đó bị “cạo” lên bờ xuống ruộng nhưng sau đó lại được biểu dương vì “sáng kiến” địch vận. Còn cái thằng cao lêu đêu như sếu vườn này là thằng Thạo “sẹo”, cái sẹo chéo từ mép lên má lúc nào trông cũng như cười: “Ngày còn bé tao bị rạch cho chừa thói ăn vụng”.- Nó nói thế, chả ai tin vì còn lạ gì cái thói bông phèng, chuyện gì qua miệng nó cũng trở thành tiếu lâm. Nghiêm túc như hát tập thể, vậy mà nó cũng xuyên tạc được. Khi đơn vị đang hát: “Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng” (Bài hát Giải phóng Miền Nam của Lưu Hữu Phước), nó lại gào lên với âm thanh cao vút: “Giời ơi, hôm nay lại say mất rồi”. Không ai nhịn được cười. Bị phê bình, gãi đầu gãi tai xin nhận rồi lại đâu đóng đấy. Và đây, đây nữa… “Mấy thằng trời đánh, còn nhớ đến lão già này à”.- Ông lẩm bẩm, như thấy luồng điện chạy dọc sống lưng.

vna_potal_ky_niem_72_nam_ngay_thuong_binhliet_sy_dai_huong_tuong_niem_cac_anh_hung_liet_sy_hy_sinh_tai_diem_cao_468_ha_giang_stand

          Từ hôm đó, ông như người lẩn thẩn quên cả ăn sáng, uống cà phê, quên cả việc ra ngồi dưới gốc cây đầu ngõ. Bà vợ vội gọi điện cho các con:

          - Chúng mày về ngay, bố mày bị sao ấy. Đang đêm lẩm nhẩm gọi tên từng người, hỏi: “Các em ở đâu? Đã “về nhà” chưa hay vẫn nằm cheo leo trên đỉnh đồi, vách đá”. Lúc lại: “Lẽ ra chúng mày đã được giải ngũ theo luật, nhưng vì đơn vị chuyển trạng thái lên toàn bộ nên đã tình nguyện ở lại, giá như chậm lại vài ngày và tao không “thúc” chúng mày lên thì có lẽ bây giờ thành ông thành bà cả rồi. Thương chúng mày quá.”

          Chưa đầy ngày, trai, gái, dâu, rể có mặt đầy đủ dù khoảng cách rất xa. “Phương tiện bây giờ tuyệt thật”. Ông hơi bất ngờ vì sự có mặt của chúng, thường chúng chỉ về vào dịp trọng đại.

          - Về tổng thể ông cụ không có gì bất thường, duy tâm lý có hơi bị xáo trộn do bị một tác động nào đó. Nếu có điều kiện, nên đưa đến bác sỹ tâm lý nhưng tốt nhất là gia đình nên theo dõi tìm hiểu xem gần đây có gì khiến cụ bị phân tâm không.- Anh bác sỹ của Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ sau khi khám rất cẩn thận, nói.

          Về nhà, ông vẫn không thay đổi. Không những thế, cứ vào lúc nửa đêm, ông lại vùng dậy, ngồi bó gối, nhìn sâu vào đêm tối, vô định. Không biết ông đang nghĩ gì. “Các em có công việc cứ đi, anh sẽ theo dõi, chăm sóc bố, có gì sẽ thông báo, ở nhà cả trong lúc này không giải quyết được gì”.

          - Ông ơi, lại có tin nhắn tìm ông này.- Thằng bé sấp ngửa chạy ra. Ông bật dậy đón lấy. Dòng chữ in đậm hiện ra. “Được, nhất định bố sẽ về... Bố nhất định sẽ về”. Trên khóe mắt, giọt nước chầm chậm lăn, đặc sánh.

          - Bố nhớ các anh ấy lắm phải không? Con đưa bố đi gặp các anh ấy nhé.- Anh con trai ướm hỏi.

          - Thật à, mày đưa bố đi hả?- Ông hăm hở- Bà nó ơi, lấy cho tôi bộ quân phục- Ông gọi với sang bà.

          - Vâng, con sẽ đưa bố đi.- Anh con trai vội vàng đáp. Nhưng không phải ngay bây giờ vì sức khỏe không cho phép. Vả lại đường xá xa xôi, sắp vào mùa mưa rồi, nghe nói vùng ấy hay bị sạt lở lắm. Để vài tháng nữa khí hậu mát mẻ đi cũng không muộn. Bố nhé.

          Ông ngồi phịch xuống giường, đưa đôi mắt lờ đờ nhìn xung quanh, co mình, phật phờ như chiếc bóng. Những ngày sau đó xem chừng còn tệ hơn. “Các con nên bàn cách đưa bố ra ngoài ấy một lần”- lời nói của mẹ được xem là quyết định cuối cùng chấm dứt việc tranh cãi của những người con.

          Quyết là thế, nhưng cũng phải gần nửa tháng mới thu xếp được. Vị bác sỹ đi cùng phải viết cam đoan, hãng hàng không mới cho phép ông lên máy bay.

          *****

          Chiếc xe 7 chỗ của trạm khách Quân đoàn ở Hà Nội lướt nhanh trên đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai. Nhìn qua ô cửa, ông nói: “Hình như đây không phải đường cũ lên Hà Tuyên”. “Vâng, đây là đường mới làm, Quốc lộ 2 ở phía trong kia cơ”.- Anh lái xe đáp.

          - Này, nếu được cậu chạy đường cũ đi.

          - Đường cũ xấu lắm, ít người đi đường ấy nữa.

          - Cũ cũng được, xấu cũng được, ít người đi cũng được, cứ cho tớ đi lại đường ấy.

          - Phiền anh chiều cụ.- Anh con trai nói khẽ.

          Con đường cũ có khó đi, gồ ghề hơn nhưng so với ngót 40 năm về trước đã được coi là tuyệt hảo. Ngày ấy, được lệnh hành quân khẩn cấp, ông và những người lính trên những chiếc xe Din 157, xe Gát 63 không mui nhảy chồm chồm qua ổ voi, ổ gà. Nắng như lửa táp, bụi như rắc phấn. Nắng, nóng đến mức màng bơm xăng chùng xuống không thể đẩy xăng lên chế hòa khí. Lái xe phải dùng khăn thấm nước đắp lên để làm mát nhưng chỉ mươi cây số đã khô cong. Cá biệt một số xe phải dùng can đựng xăng treo lên nóc cabin để cấp xăng trực tiếp, cách làm nguy hiểm nhưng trong điều kiện khẩn trương, có lẽ đó là phương án tối ưu. Xe dừng nghỉ ở đâu, bà con nơi đó tụ họp thật nhanh, mang đến tất cả những gì họ có, thậm chí khi xe qua chợ ven đường, mọi người chạy theo ném lên rau, quả, thực phẩm, đồ dùng dân dụng họ đang bán, mua. Ông cho dừng xe, đề nghị đồng bào không làm “hư” lính và nhận được câu trả lời mà đến tận bây giờ ông cũng không thể nào quên. “Các anh ra đi để gìn giữ biên cương, máu xương chẳng tiếc chả lẽ chúng tôi lại tiếc những thứ này, đất nước còn là sẽ còn tất cả”.

          - Sắp tới Thành phố Tuyên Quang, ta nghỉ ăn trưa rồi đi tiếp, sẩm tối là tới thành phố Hà Giang.- Anh lái xe thông báo cắt ngang dòng suy tưởng của ông.

          Nhanh thế ư? Trước kia, phải mất một ngày mới tới cây số 8, ngủ lại ở Trường Quân Chính Quân Khu. Thêm một ngày nữa đến Nông trường Việt Lâm. Tối đến, xe không bật đèn lầm lũi đi lên Thanh Thủy, thay phiên xong trời vừa sáng. Được “đón tiếp” bằng trận pháo “vô tiền khoáng hậu”. Ngày ở Quảng trị, bom pháo liên miên nhưng vẫn còn phân biệt được tiếng nổ đầu nòng, tiếng rít của quả đạn đang bay và tiếng nổ chát chúa của trái phá. Nhưng ở đây mọi âm thanh pha trộn, xoắn vào nhau rền rền không dứt như tầu hỏa qua cầu, như mưa đá gõ trên mái tôn.

          Ông như khỏe ra dù một ngày tàu xe vất vả, nôn nóng muốn được đi ngay lên “chốt”. Mọi người can ngăn mãi ông mới chịu. “Ở ngay Vị Xuyên thôi để mai tiện đường lên luôn”.- Ông nói.

          Hôm sau, ngay từ sáng sớm khi màn sương chưa kịp tan, xe đã đến điểm dừng đỗ ở lưng chừng điểm cao 468. Bỏ lại cây gậy inoc 4 chân, vật bất ly thân của ông gần chục năm nay, phăm phăm bước lên các bậc dẫn lên đài hương do các cựu binh của sư đoàn 356 xây dựng. Nhìn ông, không ai có thể biết, mới cách đó ít ngày, phải hai người dìu cùng hỗ trợ của cây gậy mới di chuyển được. Ông đứng lặng, nhìn đăm đăm sang điểm cao 1509, 772, 685, H1,2,3, xuống Đồi Đài, Cô Ích khuất dưới xa xa…

          - Đồng đội ơi, các “quê” ơi, về ăn cơm, có đủ món đặc sản vùng miền. Các quê “biến cỗ” nhé, một biến mười, mười biến trăm, trăm biến hằng hà sa số. Để tất cả mọi người được hưởng tấm lòng thơm thảo của những người đồng đội đã vượt hàng trăm, hàng ngàn cây số đến đây. Nào chúng ta cùng cất lên bài ca truyền thống của Sư đoàn: Tôi yêu đồng đội của tôi/ Những người lính sư đoàn ba mốt/...Về Vị Xuyên tiền tiêu Tổ quốc/Chiến công ta làm khiếp vía quân thù...

          Ông bước vào, hòa cùng nhịp hát.

           Thức ăn, hoa quả, can rượu, rất nhiều bát đũa cùng các ly nhiều chủng loại được sắp đặt trang trọng trên bàn, đặt dưới ban thờ. Mắt ông nhòe đi, nước mắt của người già dinh dính như keo. Giữa khói hương mờ mịt, bóng những bộ quân phục, áo chít gấu, áo K74, cái lành cái rách, chao qua chao lại. Tiếng lao xao: “Tao lấy một ít, mang về”. “Cái thằng này vẫn không bỏ được cái thói ky cóp. Bây giờ oách rồi, đầy đủ rồi, nào có thiếu gì. Đâu còn cái cảnh ngày mấy nắm cơm, thấm máu, bám bụi, đượm mồ hôi của anh em vận tải. Cả tháng may ra được lon thịt hộp, thêm chút cá khô bị bọ ăn hết phần bụng, giơ xương dính tý đầu, may mắn còn chút thịt bám trên lưng, lính  gọi là “kỷ nguyên khủng long”. Còn lại là mắm tôm đen kít. Nhưng thế còn khá, nhiều khi còn nhịn đói đánh nhau”. “Tao mang về cho tiểu đoàn trưởng, ông có tuổi rồi, không nhai được lương khô, hôm qua quăng tất cho tao. Khổ thân, qua mấy cuộc chiến rồi vẫn chưa được nghỉ ngơi”. Không nhìn rõ mặt nhưng nghe giọng nói quen quen, ông muốn gọi mà không sao thốt lên được. Bỗng ông giật thót:   

          - Bố Kiệm!- Ai đó reo lên rồi quay sang mọi người- Đây là bố Kiệm, Tiểu đoàn trưởng người đã chỉ huy ngăn không cho địch chiếm Cô Ích, Đồi Đài năm ấy.

          Không ai bảo ai, mọi người đứng nghiêm giơ tay chào, có vẻ không được đúng điều lệnh cho lắm. Ông giơ tay định chào đáp lễ, cánh tay run run, bàn tay khum khum, ngón tay cong cong, cái lưng còng còng. Dường như thời gian đang làm phận sự “uốn” cơ thể ông thành các đường cong... Những người lính xích lại gần, nhìn sâu mắt ông, ngấn nước. Ông không nhận ra người đã gọi tên mình, vẫn chưa thoát ra khỏi trạng thái mơ mơ, tỉnh tỉnh.

          - Bố không nhận ra con à? Thằng Phú “ngáo” đây mà.

          Ông không nhận ra thật, thời gian và tuổi già… nhưng biệt danh “ngáo” thì ông không quên được. Nó là thằng vì quá cẩn thận, vô tình làm lộ mục tiêu. Sau trận pháo “chào mừng”, các hầm (chủ yếu lợi dụng các hang hốc cheo leo trên các sườn núi, cải tạo lại) bị hư hại. Ông đã ra lệnh không được làm thay đổi địa hình, vì ta và địch cách nhau vài trăm có khi vài chục mét, mắt thường cũng nhìn rõ, có gì bất thường là dội hỏa lực không tiếc tay. Vậy mà cái thằng này, lúc ấy làm liên lạc thấy hầm chỉ huy đại đội bị pháo bắn tốc nóc, đã lấy bê tông và đá xếp lên. Hậu quả đến tức thì, hàng trăm, hàng ngàn quả đạn dội xuống, cả ban chỉ huy thương vong, nó may mắn thoát chết… Một tuần sau nó mới về đơn vị, ngu ngơ. Ông phải cho về làng Pinh, nơi có trạm Quân y của Sư đoàn để điều trị.

          - Bố chờ chút, thay ca xong con đưa bố sang đài hương, ở trận địa của tiểu đoàn mình, nhỏ hơn đây một chút nhưng ấm cúng. Tối nay bố về với vợ chồng con, nhà con ở ngay trung tâm Thành phố.

          - Thay ca, có vẻ như công xưởng ấy nhỉ.

          - Nhóm chúng con có một số người tình nguyện thay nhau hương khói, cúng cơm cho các Liệt Sỹ. Toàn cựu binh đã tham gia chiến đấu ở đây.

          Ông thở phào, trong lòng nhẹ đi nhiều lắm.

          Tuyến phòng ngự, nơi Tiểu đoàn ông đảm nhiệm, giờ đây cây cối đã lên xanh. Không leo nổi lên đỉnh, ông ngồi lên hòn đá mồ côi ở lưng chừng. Hòn đá này là điểm chuẩn, là mốc giới của pháo địch, nó đã bị vạt đi già nửa. Ông ngồi lặng, tưởng như trận đánh năm xưa lại dội về: “Trận chạm trán đầu tiên với bộ binh địch hóa ra cũng không kinh khủng lắm. Pháo có nhiều nhưng độ chính xác còn thua xa thời đánh Mỹ, lại không có máy bay nên cũng nhẹ nhàng. Sau hàng giờ pháo kích, ông nghe tiếng nổ trầm hơn, khác hơn. Kiểu này ông đã gặp ngày ở Tây Nguyên nên vội quay máy xuống các Đại đội “Địch bắn đạn giấy, cho anh em lên”. Chưa đầy phút sau các loại súng bộ binh đan xen nhau không thể phân biệt đâu là của ta đâu là của địch. “Tưởng gì, vẫn bài cũ”. - Ông lẩm bẩm khi thấy bộ binh địch lùi lại, tiếp đến là pháo, rồi lại xung phong. Cổ điển, cũ rích. Khác chăng là “dai như đỉa và không tiếc sinh mạng”. Chiến thuật “sóng táp bờ” không phải không gây khó khăn cho đơn vị. Một ngày ròng rã, mệt mỏi, thương vong. Người oãi ra. “Phải xin pháo binh”. Ông quay sang trợ lý Tham mưu: “gọi chủ nhiệm pháo binh Sư đoàn”. “Đề nghị cho pháo chi viện”. “Báo tọa độ”. “Tọa cái củ...”- Ông văng tục. “À, cho trinh sát pháo thấy chỗ nào có điểm nổ của B41 thì phang vào đó”. Cách đó không ngờ lại đạt hiệu quả rất tốt. Địch không dám xung phong nữa. “Báo cho anh em, nếu nó lên lấy xác thì kệ nó”.- Ông nói với sỹ quan Tham mưu.

          - Anh lại hữu khuynh.- Chính trị viên nhắc. “Khuynh khiếc cái gì, cho nó lấy về, sau này còn có chỗ cho con cháu nó thắp hương”.

          Ông thở dài, mới đấy đã mấy chục năm. Ông xót lòng khi nghĩa trang còn nhiều mộ “chưa biết tên” quá. “Thái ơi, Thuyên ơi, Lũy ơi... Các con ơi, chúng mày ở đâu. Hộp cao sao vàng mày đưa cho bố vẫn còn đây. “Mai con về rồi, bố cầm lấy, dạo này trời lạnh, bố hay ho lắm, có tuổi rồi, phải bảo trọng”. Mới buổi sáng mày còn nói với bố như thế, nhưng mày đã không kịp xuống, phải từ bỏ ước mơ quay lại trường học tập. Chúng mày ơi...” Tiếng gọi không thoát ra được, bật ra tiếng ho khe khẽ.

          - Phải đưa ông cụ về thôi, anh ạ.- Anh con trai thì thầm.

          - Muộn rồi, mình về đi bố.- Phú chạy lại đỡ ông đứng dậy.

          *****

          Mấy chục năm ông mới quay lại. Thành phố đông vui, tấp nập như bù lại những ngày gian khó. Ông cố nén tiếng thở dài. Căn nhà của Phú cách đó không xa, nhỏ nhưng ấm cúng, gần sông Lô, quay mặt lên dãy núi.

          - Đây là vợ con, làm ở công ty Khoáng sản. Nhờ có bát cháo của cô ấy, con còn sống để trở về đơn vị. À quên, bố chưa biết chuyện này...

           Mới hôm trước vừa thay phiên xong đã “xúc miệng” bởi trận pháo kinh thiên động địa, hầm của chỉ huy Đại đội gần như bay mất “mái”. Gọi là hầm nhưng thực tế là giữa khe hai phiến đá được công binh gác các thanh bê tông rồi xếp đá lên. Sau trận pháo ngồi trong hầm thấy thông thống như ngoài sân. Con đi kiếm lá ngụy trang thì pháo lại trút xuống vô hồi kỳ trận. Con chạy như thiêu thân, như ma đuổi, trượt lên những mỏm đá tai mèo lởm chởm, cứ thế chạy miết mà chẳng rõ chạy đi đâu. Ở hoàn cảnh ấy, con chắc chắn ai cũng làm như thế. Mới có ba tháng tuổi quân lại huấn luyện ở đồng bằng, bắn ba phát súng ném một quả lựu đạn còn run như dẽ, giờ “ăn” liên tục hai trận pháo bầy như thế, không chạy mới là lạ. Cứ thế cho đến khi ngã vật ra trước hiên một nhà nào đó. Con chỉ kịp nghe ai đó nói: “Mọi người giãn cả ra cho anh ấy thở, có lẽ anh ấy đói. Con kia thập thò ở đấy làm gì, xuống đặt cho bố nồi cháo”. Thoáng thấy cái bóng loắt choắt chạy vào bếp rồi lịm đi. Lần đầu tiên con được ăn gạo luộc còn lõi nhưng mà ngon nhất từ trước đến giờ.

          - Chỉ được cái điêu. Luộc bao giờ, chẳng qua là người ta vội, đun to lửa, nước cạn nhưng gạo chưa kịp nở chứ.- Cô vợ cắt ngang.

          - Thì vẫn cứ là gạo luộc.- Phú cười xòa rồi quay sang ông, nói tiếp. Bát “gạo luộc” ấy là cây cầu bắc lên duyên chồng vợ của chúng con. Ở vài ngày cho lại sức, con trở về đơn vị vẫn ngu ngơ nên được bố cho về đội điều trị. Sau khi khỏi lại lên chốt. Từ đấy mỗi lúc được về tuyến sau, con đều tranh thủ về thăm ân nhân của mình. Một hôm bà mẹ nói: “Tôi cho anh con Xuân đấy, nhưng phải chờ nó lớn đã”. Chả là bà thấy chúng con có ý với nhau. Nhưng con không chờ được. 17 tuổi cô ấy đã làm mẹ.

          - Hay lắm đấy mà kể”.- Cô vợ lại hấm hứ.

          - Chứ lại không à, chờ cho “cháu” lớn chắc thằng này đứng nhìn mà hít khói. Thì đấy, ngày nào chả có cả đàn, cả lũ đàn ông ngấp nghé ngoài ngõ. Người ta nói “gái một con” đúng thật bố ạ. Cô ấy đẹp khác thường, con phải nghĩ ra “chiêu” đánh dấu “chủ quyền” bằng cách khoác quân phục bước ra: “Có việc gì, các anh vào nhà”. Chờ mọi người yên vị, con nói tiếp: “Có biết “lò vôi thế kỷ” không? Biết à! Tôi nằm trên ấy mấy tháng đấy”. Mấy thanh niên nhìn nhau. “Chúng em nghe nói ở xóm núi này có một cô xinh lắm, đáng mặt làm hoa hậu nên tò mò. Biết anh là lính biên cương chúng em không dám nữa. Nhưng mà… vợ anh đẹp thật”. Lính chốt chúng mình cũng oách phết, bố nhỉ.

          Những năm ấy khó khăn vô cùng.- Phú tiếp. Cô ấy chưa đủ tuổi lao động, con còn nhỏ, ở nhà phụ bố làm thợ may. Nhưng ngày ấy ăn còn chả đủ, may vá gì nên việc cũng chẳng có, đồng nghĩa với thu nhập thấp. Con làm công nhân “vá sống”, “vá chín” ổ gà đường nhựa. Vá sống là trộn đất đá đổ xuống các chỗ sụt lõm trên đường rồi đầm nèn cho kỹ, vá chín là tưới thêm tý nhựa đường đun nóng. Công việc nặng nhọc mà lương bổng cũng không được bao nhiêu nhất là sau vụ “giá, lương... tiền”…Hồi ấy, ai chả thế. Nhưng rồi, năm tháng qua đi, cuộc sống cũng dần khá lên, con được làm cán bộ quản lý, vợ con xin vào làm Công ty cơ khí và khoáng sản của tỉnh. Con được ba cháu, đều được học hành tử tế, có vợ có chồng, ra ở riêng. Bây giờ nhà chỉ còn hai vợ chồng. Vợ con vẫn đi làm. Lương hưu và trợ cấp thương tật của con cũng đủ cho cuộc sống. Một tuần hai buổi con lên đài hương, giờ là nhà tưởng niệm trên 468, coi như được sống lại những ngày quân ngũ.

          Đêm đó hai người lính, một già, một không còn trẻ, nằm gác chân lên nhau, kể lại những câu chuyện ngày còn áo lính. Mà lạ không, dường như có rất nhiều những người đứng, nằm cùng họ. Ông còn nghe rõ nhiều tiếng rì rầm: “Bố còn nợ lời hứa gả con gái cho con đấy nhé”. Ông lặng đi: “Chúng mày có chịu về đâu. Cứ nằm mãi ở vùng biên ải này. Tao cũng có ý... Nhưng con gái có thì... Giờ nó thành bà ngoại rồi”.

                               Một đêm ở vùng biên một thời khói lửa, bình yên và ấm cúng…
                                   Chuyến trở về thăm chiến trường xưa. Hà giang Tháng 7 Năm 2022

                                                                         T.N.H

                                                   

         

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 48
Trong ngày: 707
Trong tuần: 3503
Lượt truy cập: 1236730
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông