Nguyễn Đạo Vinh
ĐƯỜNG VỀ (Ghi chép)
Lời tác giả: ‘’Đường về’’ là một thiên kí sự nói về nỗi gian nan vất vả, nhưng cũng rất lí thú trong chuyến đi Nha Trang – Đà Lạt của anh em chúng tôi. Qua chuyến đi này, những người trong đoàn cũng đã gặt hái được, ít, nhiều những kinh nghiệm trong cuộc sống. Tôi xin được chép lại toàn bộ, hành trình mà chúng tôi đã đi qua, mong được độc giả để mắt tới.
Tôi xin thay mặt anh chị em trong đoàn, cảm ơn tất cả các thành viên trong gia đình Người Lùn, đã tạo điều kiện về mọi mặt, để chúng tôi có được một chuyến đi bổ ích và lí thú.
Và cũng thay mặt anh em trong đoàn gửi lời cảm ơn tới gia đình chú Thân người bạn yêu quí của tôi.
Chúc cho mọi người, mọi nhà mạnh khỏe, vạn sự bình an.
- Cũng như mọi lẽ tự nhiên khác của tạo hóa và căn cứ theo lịch của người Á Đông, thì cứ bốn năm lại có một năm nhuận, năm nay (2025) nhuận tháng sáu.
Ông Trời sắp đặt ra năm nhuận để làm thức tỉnh và nhắc nhở mọi người hãy sống chậm lại, hãy nhìn lại mình để bớt đi những, tham- sân - si và hãy tự hỏi mình, là mình đã làm gì, để góp phần vào việc, bảo vệ thiên nhiên, môi trường, đang bị con người tàn phá hết sức nghiêm trọng.
Đúng vào cái tháng nhuận này, cái tháng mà ông trời ban cho mọi người được phép nghỉ ngơi, thư giãn. Anh em chúng tôi được Người Lùn1 mẹ cháu Kiên ngỏ ý mời đi Nha Trang, thăm ngôi nhà cháu Kiên mới mua.
Tôi là người rỗi rãi về thời gian, tiền bạc cũng tạm đủ, nên đi chơi vào lúc nào chẳng được. Nhưng được đi cùng những anh em hàng ngày vẫn quấn quýt với nhau, như ruột thịt thì vẫn thích hơn, nên tôi nhận lời ngay
Do tham công, tiếc việc, nên mới đầu chỉ có ông Toán Đồ, ông Lý Tè, tôi, vợ chồng ông Cân đăng kí đi.
Khi chốt số người để mua vé thì ông Cân lại đi viện do tiểu đường tái phát, ông điện lên dặn tôi:
- Tôi giao bà Định (vợ ông Cân) cho ông trông nom, nếu có làm gì thì khe khẽ thôi nhé!
Câu nói đùa giỡn, tếu táo ấy, làm cho cả nhà được một trận cười vỡ bụng. Cụ Bản bà năm nay đã chín nhăm tuổi cũng phải lăn ra cười.
Hôm sau lại thêm vợ chồng ông Hóa Te, hôm sau nữa lại thêm bà Hiểu vợ ông Lý rồi ông Hợp Lan, mà chúng tôi quen gọi là thằng Cả Dớ.
Gọi là Cả Dớ vì ông này đã có cháu nội, nhưng tính nết vẫn còn trẻ con và hết sức lớ ngớ.trong giao tiếp, ứng xử. Thế là cả đoàn có chín người đi.
Cả đoàn có chín người, thì có tới tám người là người thân của Người Lùn và cháu Kiên, chỉ riêng tôi là người ngoài, nên ban đầu cũng có chút lo ngại, mặc cảm. Nhưng ‘’vì cây dây cuốn’’ và hơn thế nữa, tôi với ông Nhân, ông Đức trước đây, vừa là hàng xóm lại vừa là anh em. Bởi, khi tôi còn nhỏ, vào những năm đầu của thập niên sáu mươi của thế kỉ trước, mẹ tôi thường sai tôi sang xin rau lang, rau xương xông bên vườn cụ Chuột, mà cô Nha và anh Nhân,anh Đức đang ở. Tôi chỉ cần đi vài chục bước, qua đất nhà cụ Đào là sang đến vườn cụ Chuột. Vì thế cho nên, tôi cũng bớt đi phần nào những mặc cảm ban đầu
Khi ấy, vườn cụ Chuột trồng toàn rau khoai lang để ăn chống đói, vậy mà cụ Chuột, cô Nha và cả anh Nhân, anh Đức vẫn vui vẻ cho tôi. Giờ ngẫm lại thấy tiếc cái thời ấy, bởi, cuộc sống bây giờ có nhiều cái không hợp mắt. Có khi, chỉ vì vài ba phân đất, mà bố con, anh em, chém giết lẫn nhau.
Đầu hồi nhà tôi là bãi đất trống, rộng chừng ba, bốn chuc mét, ( nay là nhà ông Chuyên đang ở) là nơi chơi bi, chơi đáo, chơi quay, của các anh. Nói về quay thì anh Nhân và anh Đức chuyên đẽo đít bẹt, còn anh Sương anh Đảo anh Hiền, lại chuyên đẽo quay lõ chó. Hai trường phái đít bẹt và lõ chó ganh nhau ghê lắm, anh Đức bổ rất nhin làm cho quay của anh Sương anh Đảo bị sứt miếng tướng, hoặc bị chẻ tu.
Khi ấy bọn trẻ chúng tôi hay nói câu ‘’Đít bẹt tàn lâu, lõ chó chóng chết’’, quả đúng như vậy, vì trọng lực của quay đít bẹt được dàn trải đều ở phía dưới, còn quay lõ chó, thì ‘’nặng bồng, nhẹ tếch’’, nên, khi lực li tâm giảm nó ngã lăn quay. Bởi thế cho nên, khi ‘’đồng’’ lúc nào quay của anh Nhân, anh Đức cũng thắng. Chuyện chỉ mới đấy thôi, mà hai anh đã thành người Thiên cổ. Anh Nhân mất do tai nạn nghề nghiệp. Anh Đức đi chiến trường ngót chục năm rồi về làm cán bộ xã, khi sắp ngỉ hưu, anh bị U não rồi mất, có lẽ, anh đã bị nhiễm chất độc da cam.
Chín người, chín tính cách và chín tầm hiểu biết khác nhau, vì thế cho nên, thi thoảng cũng xảy ra những xung đột nho nhỏ, ví dụ như, người thì bảo thuê hai xe bảy chỗ, người thì bảo thuê một xe mười sáu chỗ để khỏi lạc nhau, hay người thì bảo ăn cái này, người thì lại đòi ăn cái kia. Tranh luận ỏm tỏi một lúc rồi đâu lại vào đó. Tất cả mọi việc như đã được mặc định sẵn, bởi ’’ Đâu sẽ có đó, thịt chó phải có mắm tôm’’.
Và có lẽ, con số chín đó, đã giúp chúng tôi may mắn trong mọi chặng đường đi tiếp theo.
Trước hôm đi một ngày, ông Cả Dớ xách hai con gà và một con ngan đã được làm sạch vào bảo ông Lý:
- Anh tìm thùng đóng đá để hôm sau đem vào Nha Trang.
Nghe lời em, ông Lý bỏ cả buổi trưa, bỏ cả cháu nội đang nhao ra đòi bế, để đi tìm thùng đóng gà, ông bị bà Hiểu mắng cho một trận tơi bời rồi bà buông ra một câu chắc như đinh đóng cột:
Rõ là ‘’Ma đống, ma đụn”2.
Nhận được tin ông Cả Dớ đem ngan, gà vào, mặc dù còn đang bận ngoài trường học, ông Hóa Te vội vàng lao vào bảo ông Lý:
- Đi ba tư tiếng đồng hồ cộng với cả ngày hôm nay, vào đến nơi gà còn ăn được không? Đúng là loại Cả Dớ! ‘’Ma đống, ma đụn’’.
Ông Lý lại bị dội lên đầu những câu như vậy, ông ngẩn tò te một lát rồi đành cho gà vào tủ lạnh để sớm mai dùng vào bữa trưa. Bởi, mọi người đều thống nhất, 10 giờ sáng ngày 13-8 sẽ ăn trưa ở nhà ông Lý để lên xe cho kịp giờ tàu chạy.
Để cho lòng được thanh thản khi đi chơi xa, vợ chồng ông Lí, vợ chồng ông Hóa, bà Hảo Tàu, cứ vắt chân lên cổ mà chạy. Nào rau muống, rau bí, rau ngót, ổi… phải cắt trước lứa, về bán tống, bán táng để khỏi bị tồn đọng, bị lỡ lứa. Mặt người nào người ấy đều sạm đi vì nắng gió, nhưng tất cả đều mang tâm trạng vui vẻ, hào hứng.
Vì mọi người phải lo thu xếp công việc của mình, nên chẳng có ai vào nấu cơm, nấu nước để ăn trưa. Và để chạy đua với thời gian, ông Lý phải dậy từ ba giờ sáng, cắt sáu chuyến rau cho bà Hiểu bán. Vừa trông cháu, vừa đánh vật với công việc, mặt ông Lý bạc phếch, mồ hôi nhễ nhại, trông thật tội nghiệp.
Tôi thuộc dạng nhàn rỗi, chỉ ra vườn một lát rồi về để bắt tay vào hỗ trợ ông Lý việc bếp núc và trông cháu.
Vừa sang đến sân, ông Lý đã nhăn nhó bảo tôi:
- Bác Vinh ạ, có lẽ em phải ở nhà thôi. Có bốn thằng con giai, hai cô con gái bỏ đi tất, nhỡ cụ làm sao thì dân làng họ chửi cho bằng chết.
Theo luân lí, gia phong của người Á Đông thì quả thực là như vậy. Bởi người già ’’ như chuối chín cây, sớm nắng chiều mưa’’, chẳng ai đoán trước được điều gì. Ngẫm nghĩ một lát tôi an ủi:
- Thôi cứ đi. ở nhà đã có bà Nga, bà Lan Hợp, cháu Quang, cháu Sáu, dặn kĩ chúng nó cho cụ ăn uống đúng giờ, đúng chủng loại là được. Ông Hóa cũng động viên:
- Yên tâm đi!
Nghe được câu đó, tâm trạng của ông Lý mới nhẹ đi đôi chút.
Động viên ông Lý như vậy, nhưng thâm tâm tôi vẫn cảm thấy lo, tôi xác định trong đầu, nếu cụ Bản có bề gì thì bảo anh em quay về.
Tôi cùng ông Lý hì hục bếp núc, gần chín giờ sáng ông Cả Dớ vào, loanh quanh một lúc ông bảo tôi:
- Em lên mua ít cháo lòng về ăn. Tôi vội gàn:
- Đừng! Ăn thứ đó lên tàu, bụng dạ lại ùng ục, xèn xẹt thì gay to!
Chẳng thèm nghe lời, Cả Dớ cứ vụt xe đi.
Bà Lan Hóa được phân công lo hậu cần, nên bà cũng phải chạy đi, chạy lại từ sớm để mua mọi thứ, hơn chín giờ mới về lo việc nhà, sắm sửa tư trang cho mình và cho chồng.
Cả Dớ hay la cà, cứ ‘’Gặp đâu là nhà, ngã đâu là giường’’. Khi đi lên mua cháo gặp đúng bạn nhậu, Cả Dớ ngồi lì, ba, bốn cuộc gọi nó mới chịu về, bực ơi là bực.
Nhưng Cả Dớ lại rất chăm chỉ trong việc đơm tát theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Cứ trời đổ mưa là hắn vác vó đi kéo cá, được cũng vui mà không được vẫn vui. Nhiều đêm, Cả Dớ vác đủ các loại dụng cụ như lờ, vó, trúm, mành.. đi đơm, tát, cho đến sáng. Đỏ thì Cả Dớ vớ được mớ tướng, đen đủi thì bị bục giỏ, vỡ bờ, cá nhao ra ngoài, trắng tay.
Ông Lý cứ xoay trần với công việc, tôi chặt thịt gà, chờ mãi chẳng thấy Cả Dớ về để giao việc lặt vặt. Càng chờ càng mất hút, nhìn đồng hồ đã gần mười giờ mà chưa thấy ai vào, tôi bồn chồn lo lắng rồi cả nghĩ: ‘’Đi đứng kiểu này thì….’’. Đang bực dọc trong lòng thì nhìn thấy bà Định Cân kéo sền sệt chiếc va li, vợ chồng ông Hóa Te đang phóng xe vào, tôi mừng như bắt được vàng, vội hô mọi người vào xắp mâm, bát để ăn cơm.
Ông Lý đánh vật với thằng Khăm Ba Na, bởi khi cho nó ăn bột, nó vừa ho, vừa khóc mà ông cứ vội vàng lùa bột vào mồm cháu. Tôi vừa xót xa vừa ghê sợ lại vừa lo cho cháu. Khi thằng bé ăn đã xong, tôi bế thốc nó ra ngoài để vỗ về, mãi sau, Khăm Ba Na mới nở nụ cười trên môi.
Khăm Ba Na là cái tên tôi đặt cho con trai thằng Cu Đen từ lúc nó mới hơn hai tháng tuổi. Giờ Khăm Ba Na đã gần một tuổi, nó có nét mặt dễ gần, đẹp trai, da trắng, cười có duyên, hễ ai nhìn thấy cũng muốn được ôm nó vào lòng.
Ông Lý đi sắm sửa quần áo rồi gọi điện cho Toán Đồ. Phải vài cuộc điện thoại, Toán Đồ mới dẫn xác vào, Hảo Tàu cũng được Ba Khoắng đưa đến. Mọi người vào ăn cơm, nhưng tâm trạng của tôi lúc này không mấy vui vẻ, tôi gắng gượng ăn qua quýt cho xong, vì trong đầu còn lo cho chuyến đi.
Gần đến giờ lên xe, Cả Dớ lại lao về nhà, mọi người đều bực, bởi đến giờ đi mà lại giở chứng đi đâu không rõ. Lát sau Cả Dớ quay vào với bọc ni lông đen trên tay, ông Hóa hỏi thì nó bảo:
- Em về lấy vó ra biển kéo cá!
Thật là chán chẳng buồn chết!
- Mười một giờ kém mười, xe vào đến cổng, trời lất phất mưa, tôi giục mọi người lên xe. Hảo Tàu bảo:
- Khoan đã! Đi hơn về kém!
Mặc cho Hảo Tàu gàn mọi người cứ ra xe.
Bà Thục đang nấu cơm trưa vội thò đầu ra hỏi:
- Đi đâu mà khuân vác lắm thứ thế?
- Đi du lịch bà ạ!
Bà Hiểu vừa trả lời, vừa bốc bải chạy theo đoàn. Tôi chào cụ Bản, thằng Khăm Ba Na rồi cũng chạy theo. Ra đến đầu xóm, bà Hiền cùng mọi người đang bán hàng, xúm xít vây quanh hỏi han, chúc tụng.
Buổi trưa, đường vắng xe bon bon chạy, mọi người râm ran chuyện trò. Mười hai giờ kém xe đến cửa ga, lục tục kéo nhau vào phòng chờ. Ngồi chừng vài chục phút, cô nhân viên mở cửa soát vé cho mọi người lên tàu.
Đúng 12 giờ 50 phút tàu khởi hành, hơn tiếng đồng hồ sau tàu vẫn chưa ra khỏi địa phận Hà Nội, đã có đôi ba tiếng người ta thán: ‘’Tàu chậm chứ đâu phải tàu nhanh. Bao giờ cho đến nơi?’’ Tôi liền chêm vào:
- Đây là tàu vừa!
Mọi người đều cười ồ, xóa tan mọi bấm bức trong đầu.
Năm 2025 này, đây là lần thứ ba tôi qua tuyến đường này. Lần thứ nhất đi với Cựu giáo chức trường cấp ba Minh Khai vào Sầm Sơn Thanh Hóa, lần thứ hai đi với anh em trong làng vào Quỳnh Lưu Nghệ An, nên tôi cũng chẳng thèm ngó nghê hai bên đường, bởi càng nhìn càng cảm thấy buồn vì Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện U bướu cơ sở hai, cỏ mọc um tùm, các hạng mục công trình đã xuống cấp hư hỏng nặng, hai bên đường thì đất đai của các dự án bỏ hoang quá nhiều.
Qua địa phận Thanh Hóa tôi mới để mắt nhìn ra ngoài, phong cảnh ở đây cũng chẳng thay đổi nhiều so với bảy, tám năm trước. Năm 2017 tôi được anh Hùng, phó chủ tịch thường trực Hội thơ Đường Việt Nam mời đi thăm quan, tặng sách cho các cán bộ chiến sĩ Hòn Né. Năm 2018 đi thăm khu di tích lịch sử văn hóa của Đại Thi Hào Nguyễn Du và giao lưu với Hội thơ Đường của Nghệ An. Năm 2018 vào Bà Rịa, Vũng Tàu, Côn Đảo rồi về dự Hội nghị thơ Đường toàn quốc tại Bà Rịa.
Có lẽ tâm trạng mọi người cũng như tôi, họ vùi đầu vào ngủ, khi tỉnh dậy lại, họ lôi bánh mì, bánh khúc ra ăn. Đến địa phận Nghệ An thì trời tắt nắng, những vệt sương lờ mờ bao phủ xuống cánh đồng.
Tôi muốn ngắm mảnh đất Quảng Bình, nơi đầu sóng ngọn gió trong những năm chống Mỹ mà không sao nhìn được bởi trời tối quá. Mọi người trong đoàn lúc thức, lúc ngủ, ông Toán Đồ, ông Hóa Te trùm hai chăn mà vẫn kêu rét, riêng Cả Dớ nằm ở ghế triệu tám ngủ li bì. Gọi là ghế triệu tám, vì người ngồi cạnh đã xuống một ga xép ở địa phận Hà Nam, nên ông chiếm trọn cả hai.
Ông Lý bắt đầu kêu đau lưng, Hảo Tàu mới đầu sướng quá cười toe toét, nói như khiếu, sau đó thỉnh thoảng lại rên rỉ ‘’ Bao giờ cho đến được Nha Trang, lâu thế thì chết mất’’. Bà Hiểu kêu ê ẩm cả người, rồi lại lo cho ông Lý, nên không ăn, không ngủ được, bà liền đưa ra ý kiến:
- Bảo con Huyền đặt vé máy bay để về vào thứ bảy không thì chết mất. Còn một ngày nữa mới vào đến Nha Trang để thăm thú, mà tư tưởng đã dệu giã, kiệt quệ thế này, thì vui làm sao được. Thấy tâm trạng mọi người như vậy, ông Hóa động viên:
- Đi chơi thì phải rơi vãi! Đi trải ngiệm để nhòm ngó đó đây, cứ ru rú xó nhà thì biết cái gì!
- Có khỉ gió gì mà ngắm với nghía, toàn cây vớ vẩn, lúa xấu le te, ngắm làm gì cho bẩn mắt.
- Thế mới cảm thông cho đồng bào Miền Trung, lũ lụt quanh năm, ăn đói mặc rét, đi thế này còn biết thêm cái lọ, cái chai, để kể cho con cháu nghe nữa chứ.
Tiếng đối qua, đáp lại mãi không dứt, bà Lan Hóa lên tiếng:
- Lúc về đi máy bay thôi bác Vinh ạ! Mọi người đồng thanh:
- Đi thì đi chứ sao! Ăn chơi thì phải rơi vãi!
Được lời như cởi tấm lòng, bà Lan vội vàng gọi điện cho cháu gái:
- A lô! Huyền xem vé máy bay Việt Nam elai, đặt vé cho mọi người về vào thứ bảy này nhé.
Dự kiến ban đầu của đoàn là đi từ chiều thứ tư đến 17 giờ chiều thứ năm là vào đến Nha Trang. Tắm biển, thăm thú một vài nơi, Chủ nhật lại nhảy tàu về, nhưng cơ sự này thì không ổn. Tôi có cảm giác như đang ngồi trên đống lửa.
Bàn tán chán rồi lại lăn ra ngủ, nhưng trong lòng mỗi người vẫn canh cánh nỗi lo, làm sao về được đến nhà. Đúng là ‘’ mua dây buộc mình’’ và lúc này mới thấm thía đến câu nói của người xưa ‘’Sểnh nhà ra thất nghiệp’’ .
Đang gật gà, gật gù thì chuông điện thoại của bà Lan vang lên, bà vội vàng mở máy, tiếng cháu Huyền phát ra:
- Thím hả, bây giờ giá vé của Việt Nam E lai là hai triệu ba, thím hỏi mọi người có đi không? Im lặng một lúc sau đó mọi người bắt đầu nhao lên bàn tán, bởi số tiền hai triệu ba, không phải là nhỏ đối với những người phải nhặt từng hạt thóc rụng trên đồng.
Ông Lý vươn vai, xoay người:
- Ôi đau quá! Đau quá! Đặt đi!
Nằm một lúc, ông Lý lại than thở:
- Đúng là ‘’Chẳng có cái dại nào giống cái dại nào ?’’. mọi người nghe vậy thì cười phớ lớ, xóa tan sự im ắng trên tàu.
Tàu vào đến Huế vào lúc rạng sáng, mọi người lại giở bánh khúc, bánh mì ra ăn rồi bàn tính tới bữa trưa.
Đang mải mê bàn tán thì tiếng chuông điện thoại réo lên, Bà lan mở máy:
- A lô! Cháu đặt vé chưa?
Huyền trả lời:
- Hôm qua cháu không mang máy tính nên chưa đặt. Giờ vé lên ba triệu rồi thím ạ.
Ông Hóa nghe vậy liền xuống giọng:
- Gọi cho con Linh bảo nó mở xem Việt Jet thế nào?
Bà Hóa bật máy:
- Linh hả? Con xem Việt Jet có còn vé thứ bảy chủ nhật không, giá vé ra sao bảo mẹ nhé.
Mọi người im ắng chờ đợi. Khoảng mươi phút sau nhận được tín hiệu của con, bà Lan hỏi:
- Linh hả? tình hình thế nào?
- Chỉ có chuyến sáng thứ hai, bay lúc tám giờ, giá vé hai triệu mốt thôi. Nghe tới đây mọi người đều cuống cuồng, rồi có tiếng rít của ai đó:
- Đặt ngay đi! Ở nhà bao công việc nằm chết dí ở đây!
Đến nước này thì chẳng đồng ý cũng chẳng được. Có tiếc tiền đấy, nhưng đành buông bỏ, để đem niềm vui đến cho những hành trình tiếp theo.
Mặc cho mọi người chuyện chò, than vãn, tôi bắt đầu để mắt nhìn ra ngoài. Đường qua đèo Hải Vân đã có những thay đổi, ngồi trên tàu tôi có cảm giác an toàn hơn. Ngắm biển, ngắm trời mây, sông nước, tôi đã cảm thấy thư thái và nhẹ nhõm hơn.
Đa số các đoạn đường tàu đi qua đều là cánh đồng, quan sát kĩ tôi chẳng thấy bóng dáng một chú cò nào, chim chóc cũng hiếm, chẳng biết chúng đi đâu, hay đã bị con người săn bắt hết rồi. Nhìn những cánh rừng bị tàn phá trơ trọi, những cây sim, cây mua le te không che nổi những vạt đất trơ ra toàn đá sỏi. Tôi nghĩ trong đầu ‘’Thế này thì bảo sao Mẹ Thiên nhiên không nổi giận vì lòng tham quá mức của con người. Con cháu chúng ta sẽ phải chịu hậu quả của những việc làm vô thức do chính chúng ta tạo ra. Cho nên‘’Đời cha ăn mặn, đời con khát nước’’ là phải thôi.’’
- Tàu đến Nha Trang vào lúc mười chín giờ ba mươi phút, chậm hơn hai tiếng so với dự định, chúng tôi bắt xe vào nhà cháu Kiên, khi Người Lùn vẫn ở trên máy bay. Đúng là ‘’Chợ chưa họp kẻ cắp đã đến’’.
Nhà của cháu Kiên nằm trong con hẻm rộng chừng bốn mét và nằm trên trục Đường mùng 2 tháng 4, ngày giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa.
Các nhà đầu ngõ đã lên đèn và đang ngồi xem ti vi, chỉ còn một số người ngồi trong quán nước. Thấy chúng tôi vào mọi người đều niềm nở hỏi:
- Các ông bà vào thăm nhà cháu hè!
Chúng tôi chào và đáp lại bằng những câu từ tốn:
- Dại! Xin chào các ông, các bà ạ!
Cháu Tâm mở cửa đón các ông, các bà vào, chờ mọi người rửa ráy xong, cháu lại đưa các ông bà đi ăn cơm. Giờ thì mọi người đều muốn làm bát phở hay bát bún cho ấm bụng. Chiều lòng mọi người, cháu Tâm đưa chúng tôi đến hàng bún ở ngay cổng chợ Đầm. Người thích bún to, người ưa bún nhỏ, cánh đàn ông bọn tôi gọi thêm hai bát chân giò heo để tiêu thụ bớt số rượu mang theo. Ăn xong cháu Tâm đưa mọi người ra ngắm biển.
Biển Nha Trang quá đẹp, Thành phố Nha Trang càng lộng lẫy về đêm, bởi những ánh đèn đủ màu từ các biểu tượng, những hàng cây ven đường làm choáng ngợp con mắt của những du khách qua đây.
Dòng xe hối hả nhưng rất có kỉ cương, khi tín hiệu đèn đỏ bật lên mọi người đều dừng lại, không có hiện tượng bát nháo như ở một vài đô thị khác.
Ngắm, thưởng thức hơi mát từ biển thổi vào, độ vài chục phút sau mọi người hò nhau về nghỉ.
Tôi đứng ngoài ngắm thật kĩ ngôi nhà cháu Kiên mới mua. Mặt tiền của ngôi nhà là con hẻm chính, có hẹp hơn so với đoạn bên trong và bên ngoài. Bên trái của ngôi nhà là một hẻm nhỏ dẫn vào trường mầm non tư thục. Bên phải là một hẻm rộng thông sang các khu dân cư khác. Mấy hôm trước tôi có nghe được một vài dư luận cho rằng, Kiên sai lầm trong việc mua nhà. Nhưng theo tôi nghĩ, việc Kiên mua đất, mua nhà là kịp thời và hợp lí, bởi đồng tiền bây giờ đang bị trượt giá.
Khoảng hai mốt giờ, hai bà cháu Người Lùn mới vào đến nhà. Qua câu chuyện mọi người mới rõ, vì Hà Nội mưa to máy bay không cất cánh được nên chậm mất vài tiếng.
Đi hộ tống bà vào thăm nhà mình là cháu Quyết, cháu đang học Thạc sĩ ở Trung Quốc mới về nước được vài hôm. Quyết có dáng người thanh mảnh, da trắng, đẹp trai, tính tình sởi lởi. Ngắm kĩ, tôi thấy Quyết giống ông nội hơn cả bà nội và bố, còn Tâm thì giống bố và bà nội hơn.
Chuyện trò một lúc rồi bảo nhau đi ngủ.
Ông Toán Đồ, ông Hóa Te, đã bị cái rét trên tàu làm cho tê dại, nên không dám vào phòng điều hòa, tôi ông Lý, ông Cả Dớ nằm trong, nói là ngủ nhưng trong lòng cứ thắc thỏm, lúc tỉnh, lúc mơ.
Tôi tỉnh dậy vào lúc một giờ sáng nhưng cố nằm im cho mọi người ngủ, vật đi, vật lại nhiều lần, năm giờ tôi mới ra cửa để tập thể dục. Lúc sau ông Toán, ông Lý, ông Hóa và Cả Dớ đi ra, rồi cả bốn chúng tôi cùng kéo nhau ra biển.
Ra đến biển đã thấy rất nhiều người đang ngâm mình dưới nước, nhưng đa phần là các cụ gìà trên sáu, bảy, tám mươi. Mới đầu tôi cứ tưởng giờ này chưa có ai, hóa ra mình lại thua xa các cụ. Khua khoắng chạy nhảy một lúc rồi cả bọn ào xuống. Ông Lý mới lội đến gối đã vội vàng chạy lên, ông kêu rét quá, ngồi phịch xuống đất.
Hành động ấy của ông, làm tôi nhớ đến chuyến đi năm kia của vợ chồng, con cháu nhà ông. Vào Nha Trang hôm trước thì hôm sau ông ra biển, tắm được nửa tiếng, thì tự dưng ông cảm thấy kềnh kệnh ở hậu môn. Ông nghĩ đỉa rúc, liền ôm đít chạy lên bờ rồi bảo con cho về Hà Nội ngay.
Về đến Hà Nội, các bác sĩ soi chiếu một lúc rồi cầm dao rạch một nhát phía dưới hậu môn. Sau cú rạch, ông cảm thấy nhẹ người, bởi, khoảng nửa lít mủ xanh đỏ chảy ra. Giờ ông mới nhận ra là mình bị dò hậu môn, chứ không phải là đỉa rúc.
Do chuyến đi đó không đạt được kết quả như mong muốn, nên đợt này, ông quyết kéo bà Hiểu đi cùng để sửa sai.
Biển Nha Trang tĩnh và sạch hơn các nơi khác, được tắm ở đây thật lí thú, tôi phải tắm ba lần trong một ngày cho thỏa cơn thèm khát. Tắm chán rồi lại đi ngắm. Người Nha Trang hiền lành thật thà, mua bán sòng phẳng, không ‘’ thớt cao, dao bầu’’ như ở một số nơi mà tôi đã đi qua. Cho đến giờ phút này, tôi xin khẳng định rằng: Nha Trang là điểm đến lí tưởng cho mọi người.
- Do lỡ làng về tàu xe và xét về tâm lí mọi người, thì chẳng mấy ai muốn ở lâu một chỗ, bởi thế cho nên họ bảo nhau, chiều thứ bảy lên Đà Lạt chơi, chiều Chủ nhật chạy thẳng về Cam Ranh để hôm sau đi máy bay cho đỡ vất vả. Mọi người đều nhất trí tán đồng.
Trước đó, tôi cùng chú Hóa cũng đã lên lịch trình cụ thể, sáng thứ sáu tắm biển thâm thú xung quanh, chiều lên thăm Tháp Chàm rồi về tắm tiếp. Sáng thứ bảy tắm buổi cuối, chiều lên xe đi Đà Lạt. Chiều Chủ nhật về Cam Ranh.
Tháp Chàm một địa danh quen thuộc của nhiều người, nơi đây đã được UNETCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhưng với tôi, đây là lần đầu tiên được lên chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của người Chăm. Bản nhạc Chàm Rông, gợi cho tôi nhiều kỉ niệm, bởi khi còn ít tuổi tôi rất yêu thích bản nhạc này. Bây giờ tôi mới chiêm nghiệm rằng, chính bản nhạc đó, đã dắt díu tôi đến với văn chương và âm nhạc sau này.
Cháu Quyết đem theo máy ảnh nên đề nghị chúng tôi chụp rất nhiều kiểu, để làm kỉ niệm cho chuyến đi.
Tối thứ sáu, Người Lùn và cháu Quyết, cháu Tâm, đưa chúng tôi ra nhà hàng trung tâm Thành phố làm một bữa tiệc tẹt ga.
Sáng thứ bảy, tắm xong tôi mới gọi cho Thân, bởi sợ Thân còn ngủ. Nhận được điện Thân vồ vập trả lời:
- Anh Vinh hả?
- Ờ anh đây! Chú bố trí cho anh hai phòng nghỉ, năm giờ chiều anh sẽ tới.
- May cho anh gọi sớm, chứ tý nữa họ lên đông. Em chẳng còn phòng đâu? Em nói với anh thế này nhé. Tiền phòng em khuyến mại tất, em mời cả đoàn bữa tối nay, anh không phải lo.
Tôi sống nội tâm nên trọng tình nghĩa hơn tiền bạc, khi nghe bạn nói vậy tôi đâm ra băn khoăn, liền hỏi ý kiến mọi người. Các vị trong đoàn đều đồng thanh:
- Cứ vào nghỉ ở đó, anh đừng lo. Mọi việc để chúng em lo liệu. Thế là tôi nhất trí với phương án nêu trên.
Trước khi lên xe để đi Đà Lạt, anh em chúng tôi cứ bịn rịn mãi không dứt. Tôi thay mặt mọi người cảm ơn tấm lòng thịnh tình của Người Lùn, vợ chồng cháu Kiên cùng cháu Quyết, cháu Tâm, đã tạo điều kiện cả về vật chất tinh thần, nơi ăn, chốn ở cho anh em. Người Lùn cùng hai cháu tiễn chúng tôi ra xe.
Xe đi Đà Lạt khởi hành lúc hơn mười ba giờ. Bác tài là một người trung niên nhỏ thó, ông rất thông thạo đường đi nối lại. Đi được độ hai chục cây số, ông chỉ tay về phía trước và nói:
- Đà Lạt đang mưa rất to.
Hướng theo phía tay ông chỉ tôi nhìn thấy một vùng trời đen ngòm, nhưng cũng mặc. Tâm trạng tôi lúc này chỉ muốn lên Đà Lạt càng nhanh, càng tốt để gặp được người bạn sau bốn mươi tám năm xa cách.
Nói đến Đà Lạt làm cho tôi lại nhớ tới bài hát ’’Thương về miền đất lạnh’’, tôi lẩm bẩm trong mồm ‘’Tôi nhó đà lạt mơ xa rồi em có nhớ có thương trong lòng mình/ khi tháng ngày dần trôi nhưng bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa khó vơi/ đà lạt thương mến đã ghi trong lòng tôi biết bao nhiêu buồn vui lúc trao thân vào đời/ xứ lạnh yêu…….’’
Ông bạn tôi có tên Là Thân, học cùng lớp trồng trọt với tôi từ 1973- 1976. Năm 1977 ông nhập ngũ, tham gia mặt trận phía Bắc chống quân Bành trướng, sau đó vào công tác tại Ban chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng cho đến khi nghỉ hưu. Trước khi nhập ngũ, ông đã sang tận nhà chào gia đình tôi, mặc dầu lúc đó phương tiện đi lại rất khó khăn. Ngoài lời an ủi động viên ra, tôi chẳng có gì để cho Thân.
Cách đây khoảng ngót chục năm, anh em mới tìm được nhau. Và nhờ vào công nghệ thông tin, chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, hỏi thăm, trao đổi về gia đình và những người thân. Thân nhiều lần gọi điện mời tôi lên chơi, nhưng đi mình thì ngại.
Nay có dịp để được,’’ tai nghe, mắt thấy, tay sờ’’, vì vậy, dù xa xôi đến mấy, tôi cũng cố gắng lên thăm người bạn. Kể từ lúc đó tôi đâm ra dửng dưng với cảnh vật bên ngoài, luôn để tâm nghĩ đến người bạn.
Lên đến độ cao 1000 mét so với mực nước biển, không khí trở nên lạnh hơn, những đám mây mang nặng hơi nước cứ bao vây quanh xe. Chiếc cần gạt làm việc hết công suất, mà vẩn không làm cho mặt kính được trong hơn.
Hảo Tàu bắt đầu ậm ọe làm cho mọi người lo lắng, nhưng chỉ lúc sau Hảo Tàu đã ổn định trở lại.
Bác tài thì luôn mồm tán gẫu rồi giới thiệu cho chúng tôi những địa danh, những tộc người đang sinh sống ở nơi đây, làm cho quãng đường chúng tôi đi trở nên ngắn hơn.
Khoảng năm giờ chiều xe lên đến Đà Lạt, Những cảnh vật bên hồ mang tên Hồ Xuân Hương đập vào mắt chúng tôi, những chú Thiên nga do người tiếp năng lượng đang bơi quanh hồ. Tôi định hỏi Bác tài xem, cái tên Hồ Xuân Hương có phải là lấy tên của bà chúa thơ nôm, để đặt tên cho hồ này hay không, hay còn một lí do nào khác, thì xe đã đến trước cửa nhà bạn.
Tôi đứng ở cửa xe quan sát, căn nhà của bạn mặt hướng ra đường Lê Hồng Phong, được xây dựng theo kiểu kiến trúc Pháp có pha thêm chút Á Đông. Phía trước là một sân rộng, đủ cho khoảng năm đến bảy ô tô loại vừa đỗ. Sườn phía bên trái ngôi nhà có cây anh đào cổ thụ, hoa nở đỏ rực. Trên lan can tầng hai có dòng chữ ‘’NẮNG VÀNG’’, đây là tên khách sạn của bạn tôi.
Trời mưa nặng hạt, ông bạn đang bế đứa cháu nội khoảng một tuổi, tôi đội mưa chạy lên ôm lấy đứa em đã cách xa nhau gần nửa thế kỉ. Vợ Thân là người nhỏ thó hơi lùn nhưng lúc nào cũng tươi cười, cô đon đả mời chúng tôi vào rồi đưa mọi người xuống các phòng.
Bạn ưu tiên cho bọn tôi ở phòng dưới thấp để tiện việc đi lại trò chuyện. May cho cả đoàn, tôi mà điện chậm chút nữa thì không có phòng mà ở.
Qua câu chuyện của bạn tôi được biết, Thân có hai người con trai, anh con cả vẫn ở Ô Cách- Gia Lâm, trên nền đất của tổ tiên. Thân cùng vợ và con trai út ở trong Đà Lạt.
Hai vợ chồng bạn đưa chúng tôi ra một nhà hàng, phía sau ngôi nhà của mình. Khu nhà này rộng rãi thoáng mát, hôm đó là thứ bảy nên đông khách.
Khi thức ăn được bày lên, Thân giới thiệu tôi với mọi người. Tất cả đều nâng chén để chúc mừng cho cuộc hội ngộ này. Vợ, chồng Thân liên tục gắp thức ăn cho anh em chúng tôi. Ăn xong trời lại mưa to, nhà hàng phải rút ra một đống áo mưa để cấp, phát cho mọi người. Về đến nhà lại tíu tít chuyện chò bên bàn trà. Phải nói thật rằng, lâu lắm rồi tôi mới có được một cuộc vui như thế này.
Mọi người tập trung xem trận đấu bóng đá nữ, Thân mở điện thoại gọi cho Lục, cho Thơm, qua điện thoại chúng tôi nói chuyện, hỏi han về gia đình, bạn bè, đến khoảng 22 giờ Thân bảo tôi đi ngủ.
Tôi xuống phòng thì mọi người vẫn còn xem phim, xem bóng đá. Thấy tôi họ bảo:
- Bác Vinh ạ, em đi nhiều nơi, ở nhiều chỗ, nhưng chưa thấy người nào tốt như vợ chồng chú Thân. Nhiều người bây giờ lúc nào cũng khoe của nả, mời, gọi liên tục, làm ra vẻ, quan tâm, kính trọng nhau lắm. Nhưng khi bạn bảo, hôm nay đến chơi, thì lại giả vờ đi vắng, hoặc có bắt buộc phải tiếp, thì mặt nặng, mày nhẹ, mắng chó, chửi gà, đá thúng, đụng nia, chứ chẳng tốt lành gì.
Câu nhận xét chân tình của các, anh chị em trong chuyến đi này, gợi cho tôi nhớ lại những giai thoại về tình bạn, trong các câu chuyện tiếu lâm trước đây. Nhưng hôm nay, đứng giữa trời đất Đà Lạt, tôi phải khẳng định rằng, Thân là một người bạn tốt.
Vừa chợp mắt, nghe có tiếng mở cửa, tôi vùng dậy thấy Cả Dớ đi ra ngoài, tôi nhao ra hỏi:
- Ông đi đâu?
- Em ra ngoài tí! Tôi bực mình xẵng giọng.
- Không đi đâu hết! Vào ngủ! Nói xong tôi lui vào.
Mặc cho tôi ra lệnh, Cả Dớ vẫn đặt chân lên cầu thang. Nghe có tiếng động Thân đi xuống hỏi:
- Giờ này còn chưa ngủ?
Chẳng biết Cả Dớ nói thế nào, Thân thương tình đưa cho nó cái chăn rồi tống nó vào một phòng bên cạnh.
Tôi hết sức bực mình về thái độ vô tổ chức của Cả Dớ, nên cứ lẩn thẩn nghĩ, cái nọ xọ cái kia. ‘’Nếu không may đêm nay, nhà bạn mình xảy ra điều gì thì, dù hay, dù dở, mình sẽ phải gánh chịu hậu quả’’. Tôi hết sức lo sợ liền bảo ông Lý;
- Ông gọi điện xem Hợp nó ở đâu?
Ông Lý bật máy, tôi nghe rõ tiếng trả lời của Cá Dớ ngay phòng bên. Tôi vùng dậy nhao sang giật chăn, bắt nó về phòng, Cả Dớ vùng vằng:
- Anh không cho ngủ đây, em sang thuê khách sạn khác.
Sẵn cơn bực tức tôi nói ngay:
- Chú đi thuê ngay đi, đừng làm ảnh hưởng đến nhân cách của tao. Đừng để tao mất mặt trước bạn bè.
Về phòng nằm một lúc, tôi cảm thấy mình hơi nóng, có chút ân hận, nhưng ân hận thì đã muộn. Tôi gọi ông Lý dậy bảo ông ra xem Cả Dớ nằm đâu, lát sau ông về, bảo nó ngủ với lái xe, lúc ấy tôi mới yên lòng.
Vì đều là những người làm nông nghiệp, nên ai cũng dậy sớm, bốn giờ đã có tiếng thì thào. Tôi bật dậy ra sân thể dục, thời tiết ở đây thật mát lành, tôi hít căng lồng ngực rồi nhả ra từ từ để cố lưu giữ một chút hương Đà Lạt. Tôi trộm nghĩ, ‘’Thân chọn nơi này đóng đô là hợp lí’’.
Khe khẽ chuyện tào lao, sáu giờ hơn bọn tôi mới dám lên phòng trà. Phòng lặng như tờ, nghĩ bạn đang ngủ chúng tôi chỉ dám thì thầm to nhỏ. Lúc sau tôi mạnh dạn nhắn tin cho Thân ngỏ ý muốn đi ra ngoài. Không có tín hiệu đáp trả, tôi và mọi người cứ ngồi im.
Ngồi lâu, sốt ruột, tôi liều mạng gọi cho Thân thì vợ Thân ra mở cửa. Thật ái ngại quá, vì sở thích riêng của tôi mà làm bạn mất giấc ngủ. Tôi cảm thấy áy náy, nhưng chắc bạn cũng hiểu và bỏ qua cho tôi.
Như chim sổ lồng, bốn anh em tôi tung tăng đi dạo, vừa đi vừa để mắt ngắm nghía các ngôi nhà cao tầng, hè phố, mỗi người cảm thụ Đà Lạt theo mỗi cách khác nhau.
Tôi đang mải ngắm thì nghe thấy tiếng của ông Toán, ông Lý, ông Hóa gần như đồng thanh cùng một lúc:
- Ông đã đi chợ về rồi ư?
Quay sang, tôi nhìn thấy một người, tay cầm túi thực phẩm đang đi về. Ngỡ các em mình nhìn lầm, nhưng theo phép lịch sự tôi vẫn đưa tay ra, lúc đó tôi mới nhận ra Thân. Vừa lắc, lắc cánh tay tôi vừa hỏi:
- Sao chú đi sớm thế?
- Em đi thể dục rồi kết hợp mua thực phẩm luôn.
Nghe Thân nói vậy tôi trộm nghĩ ‘’Cứ tưởng chỉ cánh nông dân mới cần dạy sớm để ra đồng, tránh cái nắng, cái nóng, ở đây có nắng, nóng đâu? Nhưng, những người chăm chỉ, biết trân trọng những giá trị cuộc sống, thì ở đâu họ cũng như vậy.’’
Bốn anh em tôi, vừa đi đường vừa bàn về chuyện ở lại hay về, bởi thời tiết không thuận, cứ lúc nắng lúc mưa. Cuối cùng ông Hóa và ông Lý đưa ra ý kiến là lên xe đi ngắm, được đâu thì được rồi xuôi cho nó lành.
Về đến nhà, tôi trao đổi với vợ chồng chú Thân, về ý định của anh em chúng tôi. Nghe xong chú bảo:
- Em cũng nghĩ thế, nhưng không dám nói ra, sợ anh trách ‘’Tao chưa lên mày đã đuổi’’.
Hai ý tưởng lớn gặp nhau, trước khi chia tay cả đoàn chúng tôi và vợ chồng chú Thân chụp vài kiêu ảnh để làm kỉ niệm. Thân tặng tôi chiếc sơ mi, về đến nhà bà vợ tôi mở ra xem, cứ tấm tắc khen mãi.
Chúng tôi mời vợ chồng Thân ra ăn sáng cùng, nhưng vợ chú cáo bận. Ăn xong, chúng tôi chia tay nhau để về, với một khối lượng công việc còn dang dở.
Vì trời mưa nên chỉ ngồi trong xe ngắm nhìn được vài điểm, vào chợ coi ngó, mua sắm một chút rồi ra xe. Thôi! Thế cũng là đủ.
Xe đang đổ đèo thì có tiếng chuông điện thoại, tiếng Người Lùn vọng ra hỏi han một lúc rồi Người Lùn bảo:
- Bác và các cậu, các mợ, chiều lại về đây nghỉ nhé!
Bàn bạc một lúc, mọi người trong đoàn đều thống nhất về Nha Trang nghỉ ngơi, tắm thêm buổi nữa, năm giờ sáng mai ra sân bay vẫn kịp.
- Về đến Nha Trang lúc hai giờ chiều, nghỉ ngơi một lúc, bà Hểu, bà Lan, bà Định rủ nhau ra chợ mua rau, đậu phụ về ăn tối.
Chợ Nha Trang chỉ họp buổi sáng nên các bà loanh quoanh mái mới mua được ít rau ế và hai chục bìa đậu phụ.
Bốn giờ chiều mọi người hò nhau đi tắm, Hảo Tàu ho hắng nên ở nhà, Người Lùn cũng bảo ở nhà để com nước cho mọi người. Bà Định Cân, bà Lan Hóa, bà Hiểu, cứ chèo kéo mãi Người Lùn đành phải đi.
Tất cả đã xuống biển, Người Lùn vẫn đứng trên bờ, lại chèo kéo mãi, Người Lùn mới chịu xuống.
Nước ngập đến gối, Người Lùn kêu rét chạy lên rồi lững thững đi về.
Tắm được khoảng nửa tiếng, trời mưa to, tôi hô anh em lên bờ. Tôi cùng Toán Đồ về trước, tiếp theo ông Lý, ông Hóa và mấy bà.
Đang xối nước để cọ, rửa cho sạch muối, tôi nghe thấy tiếng Hảo Tàu hỏi:
- Bác Tính đâu? Ông Toán Đồ lè nhè:
- Về mẹ từ bao giờ, còn hỏi!
- Về đâu! Em nằm đây đã thấy về đâu?
Mọi người bảo nhau lên tầng tìm cũng chẳng thấy. Nghe chừng không ổn, tôi bảo các ông:
- Tất cả ra đường, mỗi người một ngả, đem theo điện thoại để liên lạc. Mọi người làm theo, cháu Quyết, cháu Tâm đèo nhau bằng xe đạp. Trời thì lại đang mưa to.
Chắc rằng tất cả mọi người đều lo lắng như nhau, tôi sợ Người Lùn vì rét quá bị gục ở đâu đó, họ đưa vào trạm y tế thì khó bề tìm thấy.
Nhớn nhác, lo lắng, chẳng ai còn tâm trạng nào để nghĩ đến chuyện cơm nước buổi tối. Tôi cứ đứng chôn chân ở cửa để nhìn ra đầu ngõ. Khoảng hai mươi phút sau, tôi thấy ông Lý dẫn Người Lùn về, tôi mừng như ‘’Tá điền có tiền trả nợ’’, tôi bảo ngay ông Lý điện cho mọi người về. Qua lời ông Lý kể, thì ra Người Lùn bị lạc đường.
Tôi nghĩ trong đầu: ‘’Hôm nay mà không tìm thấy Người Lùn thì ngày mai ai dám bỏ về”. Tất cả bị một phen hú vía!
Người Lùn sinh năm 1947, tính theo lịch âm, thì sang năm Người Lùn bước sang tuổi tám mươi. Ở độ tuổi này, thì mấy ai còn được minh mẫn, bởi thế cho nên, lạc là phải. Theo lời ông Lý kể, thì ông nhìn thấy Người Lùn cứ loanh quanh ở ngã tư, nơi có Tượng Đài những chiến sĩ giải phóng, giơ cao cây súng và đang hoan hỉ với chiến thắng. Nhưng tôi cho rằng, những đồng đội, những người thân của Người Lùn đã ngã xuống nơi đây, họ đã níu, kéo Người Lùn đứng đó để hỏi han đôi ba câu chuyện.
Bữa cơm buổi tối, mọi người ăn uống dè dặt, nói năng cũng ít, ai ai cũng mang tâm trạng lo lắng cho đường về.
Hò nhau ngủ sớm để dậy sớm cho kịp giờ bay, nhưng khi lên phòng, bà Lan, bà Hiểu, bà Định mở điện thoại ra xem, đến mười một giờ mới chịu đi nằm, riêng Hảo Tàu và Người Lùn, vừa đặt mình xuống đã ngáy khò khò. Đúng là con cháu cụ!
Vừa ngả lưng một tẹo, bà Lan, bà Định, bà Hiểu, Hảo Tàu, đã bị Người Lùn dựng dậy bằng một giọng oang oang:
- Các bà dậy đi, bốn giờ rồi! Bà Lan Hóa nhìn điện thoại rồi gắt:
- Mới hơn mười hai giờ chị đã gọi dậy! Lại nằm xuống, nhưng có ai ngủ được.
Tôi chợp mắt được lúc lâu, gần sáng thấy lạnh dậy tắt quạt, Người Lùn từ trên đi xuống bảo:
- Mới hơn hai giờ dậy làm gì? Tôi gật đầu nằm xuống rồi đưa ra các giả định: ‘’Nếu mai mưa to, máy bay không cất cánh được thì sẽ gọi cho Thơm, cô bạn học đang sống ở Cam Ranh, lo giúp vé ô tô để về, chứ càng ở lâu thì càng sinh lắm chuyện.’’
Và rất may cho cả đoàn chúng tôi, hôm sau, trời quang mây tạnh, máy bay, bay đúng giờ. Ra khỏi cổng sân bay Nội Bài, tôi mới dám thở phào nhẹ nhõm.
N.Đ.V
Ghi chú: 1. Người Lùn là biệt danh của bà Tính Nhân vì người bà cao độ mét mốt.
2- Ma đống ma đụn là câu cụ Bản ông thường sử dụng để răn con, dạy cháu.