Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

ĐI ĐÊM

Nguyễn Đạo Vinh
 
ĐI ĐÊM
 
   Hoàng vừa ra đến cổng thì gặp ngay bà Hiền đi vào. Bà gấp gáp gọi Hoàng lại gần rồi nói:
- Thằng Quang bị công an phường bắt đêm qua, ông đã biết chưa?
Hoàng thẫn thờ hỏi lại:
- Sao lại bị bắt?
Bà Hiền chậm rãi kể:
- Hôm qua khoảng mười giờ đêm tôi đã đi nằm, thì nghe tiếng con Hòa gọi. Tôi ra đến nơi thì thấy nó sụt sịt khóc. Cứ nghĩ là vợ chồng nó cãi nhau, tôi gặng hỏi thì nó bảo chồng nó bị bắt, rồi nó kể.
- Thằng Khoan người Hà Nam ở trọ nhà con đã bốn, năm tháng. Hàng tháng con xuống bảo nó đóng tiền, nhưng nó lí do khất lần rồi bỏ đi biệt tăm. Tối qua thằng Cả Dớ nhà con đi chơi, nó nhìn thấy thằng Khoan đang đứng ở quán bia nhà bà Tính. Nó liền chạy về bảo bố.
Khi nhà con ra, thấy thằng Khoan đang gọi điện, nhà con liền giật luôn cái điện thoại rồi quát to:
- Mày phải trả tao mười triệu đồng tiền phòng, thì tao mới trả máy, hai bên khùng khoằng, giằng co, cãi cọ nhau một lúc, rồi nhà con bỏ về.
 Vào khoảng tám giờ tối thì thằng Khoan dắt theo hai chú công an phường vào. Nó vu cho nhà con cướp điện thoại của nó, nó còn cho xem hình ảnh mà nó đã trích ở cameera ở quán bia hơi. Thế là nhà con bị hai chú công an mời lên phường rồi giữ ở đấy. Họ bảo nếu không thỏa hiệp với nhau được, thì ngày mai họ sẽ đưa nhà con lên quận. Ngừng một lát, bà Hiền tiếp lời:
- Ông xem có quen ai trên đó, thì nói giúp thằng Quang một tiếng. Rõ khổ!
                                                    ***
   Không chịu nổi sự dè bỉu, mỉa mai, miệt thị của anh em trong dòng tộc, năm sáu mươi tuổi, cụ Sinh phải lấy thêm bà vợ lẽ. Một việc làm bất hợp pháp ở thời bấy giờ, nhưng biết làm sao được. Phải có đứa con nối dõi tông đường, để bịt mồm những kẻ xấu bụng trong làng, ngoài họ.
   Đào bới mãi, cụ Sinh mới sinh được một hoàng tử, liền đặt tên cho con là Quang. Do kết hôn bất hợp pháp, nên bà vợ hai cùng năm đứa con của cụ Sinh không được nhập khẩu. Không có khẩu thì không được điều hòa lương thực và không được phát phiếu vải, cùng những quyền lợi khác. Do vậy gia đình cụ Sinh luôn trong tình cảnh túng quẫn. "Đa mang thì phải đèo bòng", tuy tuổi cao sức yếu, nhưng cụ Sinh vẫn phải cố gắng tăng gia sản xuất. Hàng ngày cứ vào lúc hai ba giờ sáng, cụ cùng các con đi, hái rau, cắt mướp đem ra chợ bán. Hôm nào hàng nhiều, nỏ chợ, thì cụ đong được vài cân gạo mậu dịch, hôm nào ít hàng, ẩm chợ, thì bữa đó cả nhà đều phải bớt bát.
   Sớm hiểu ra nỗi khó nhọc của người cha, nên mới có tám tuổi, Quang đã biết kiếm tiền để giúp đỡ gia đình. Hàng ngày cứ vào sáu giờ sáng lại có một chuyến tàu khách từ Hà Nội, đi Phú Thọ, Yên Bái chạy qua. Với siêu nước vối, vài ba chiếc cốc, bao thuốc lá Đồ Sơn, Quang nhảy lên tàu. Lên đến Vĩnh Yên, Quang lại nhảy sang chuyến tàu xuôi về Hà nội. Cứ mỗi lần đi về như thế là Quang lại kiếm được cân gạo về cho gia đình.
  Phải ra ngoài kiếm ăn từ khi còn ít tuổi, nhưng Quang vẫn giữ được bản tính, thật thà, trung thực, không lấy cái gì của ai. Khi nghe tin Quang bị công an bắt, nhiều người trong làng không khỏi ngỡ ngàng, tiếc nuối cho anh.hoicung321
 
                                                   ***
   Do chĩ trụ làm ăn, chi tiêu chắt bóp, năm ba mươi tuổi, Quang xây được mười tám phòng trọ cho sinh viên cùng những người lao động thuê. Trừ tiền điện, nước, vệ sinh, hàng tháng, Quang thu về được mười hai triệu đồng. Cộng với số tiền đi làm của hai vợ chồng là mười ba triệu. Vị chi là hai nhăm triệu, đủ chi tiêu cho ba đứa con ăn học. Quang cứ ngỡ rằng, cuộc sống sẽ êm đềm trôi như vậy cho đến hết cuộc đời. Nhưng oái oăm thay, vào một buổi chiều cuối xuân, lại nảy sinh ra cơ sự, nó dẫn Quang đến một cảnh ngộ trớ trêu.
Hôm đó, khi đi làm về, Quang lên phòng Khoan để đòi tiền thì chỉ nhìn thấy căn phòng trống hốc. Đồ đạc đã được dọn đi. Quang gọi điện, Khoan không nghe. Quang cuống lên, biết tìm đâu bây giờ? Nỗi bực trong đầu Quang cứ mỗi lúc một tăng. Quang nghĩ "Giá chỉ một hai triệu thì chẳng lấy gì làm tiếc cho lắm, nhưng đằng này những mười triệu, mười triệu làm bao giờ cho ra". Quang cay cú, lồng lộn, chạy ngược, chạy xuôi, để tìm Khoan. Nhưng tìm sao được kẻ đã cố tình trốn chạy.
Sự việc cứ chìm dần theo ngày tháng và cũng tưởng chừng chỉ đến đó là kết thúc. Nhưng ngờ đâu, vào một buổi tối, khi Quang vừa đưa bát cơm lên, thì thằng Cả Dớ, con trai Quang hớt hải chạy về:
Bố! Bố! Bố ra ngay, con vừa nhìn thấy thằng Khoan ở quán bia.
Bao bực dọc bị kìm nén bấy lâu nay lại có dịp trỗi dậy. Bỏ bát cơm xuống mâm, Quang chạy ra, nhìn thấy Khoan đang gọi điện. Quang đưa tay, giật ngay chiếc điện thoại, nói với Khoan vài câu, rồi khùng khoằng bỏ về.
 
                                                  ***
   Kiệt đưa cốc bia lên mồm nốc ừng ực, quệt cùi tay vào mép rồi nói với Khoan:
- Thằng này ke lắm! Hôm nọ, bọn tao vào xin ít tiền để đi biển rửa chim. Nó cho con vợ ra ì èo, đưa cho bọn tao có năm chục đồng. Đ…mẹ chuyến này ông phải cho ra bã.
Kiệt đang nói chuyện với Khoan thì nghe thấy tiếng điện thoại réo. Kiệt mở điện thoại ra nghe rồi buông ra một câu chửi đổng:
- Mẹ kiếp! Lúc nào cũng chỉ tiền, tiền!
Khoan vừa cười, vừa nói:
 - Lại con Hoan gọi để vòi tiền chứ gì?
Kiệt phẩy tay một cái, đưa cốc bia lên tu rồi nói:
- Tiêu gì mà nhanh thế không biết? Tuần trước, tao đã đưa cho con bà nàng hơn chục triệu rồi, mà nay lại gọi. Tiên sư loại cố đỉn! Kiếm được đồng tiền đâu có dễ. Phải nghĩ nát óc, phải xây dựng lên kịch bản nọ, kịch bản kia chứ dễ à? Đ… mẹ chỉ tham ăn, tục uống với ngửa l… ra là giỏi!
Nghe những lời Kiệt vừa thổ ra, Khoan biết ngay là Kiệt chửi con Hoan. Khoan vội vàng can ngăn:
- Anh cho nó ra dìa đi. Dính vào con này đen lắm! Lần trước ông Tuy trưởng công an phường Xuân Đơ, cặp với nó được mấy tháng. Nó cứ nheo nhéo gọi điện, lại đúng vào lúc giao ban. Tay Sơn, bí thư chi bộ kiêm phó trưởng công an phường Xuân Đơ, nghe thấy giọng quen quen, hắn cho điều tra rồi tống Tuy lên Sơn La. Giờ ở đấy mà gặm đá.
Kiệt là con trai duy nhất của vợ chồng ông bà Thơ người Hà Nam. Vào những năm tám mươi của thế kỉ trước, Hà Nam là vùng đất thường xuyên bị ngập úng. Nhiều nơi bị sình lầy, khi cày bừa, nước mấp mé lưng trâu, cho nên họ phải cày mò. Và khi cắm cây mạ xuống, người dân nơi đây phải ngồi trên một chiếc thuyền thúng. Năm nào mưa gió không thuận là năm đó mất mùa. Kiếm được hạt thóc, hạt gạo ở vùng đất, chiêm khê, mùa thối ấy, quả là rất khó.
Ông bà Thơ rời làng đi kiếm sống vào những năm tháng đói kém đó. Sau hai lần sảy thai, bà Thơ mới tòi ra được cu cậu. Ông bà đặt tên cho nó là Kiệt để sau này nó trở thành một nhân vật kiệt xuất, có tiếng nói, có tên tuổi trong xã hội.
Cậu Kiệt lớn lên trong vòng tay yêu thương của bố mẹ. Cậu được chăm bẵm, nuôi dưỡng hết sức chu đáo, nhưng đường học hành của Kiệt thì lại hết sức trắc trở. Bởi cứ ở nơi này một dạo, ông bà Thơ lại chuyển đi nơi khác. Có lúc, Kiệt phải nghỉ học vài ba tháng vì không xin được vào trường nào. Mãi đến năm hai mươi tuổi, Kiệt mới học xong trương trình cấp ba hệ bổ túc. Và đến khi đó, ông bà Thơ cũng mới bắt đầu an cư, lạc nghiệp.
          Khi lên Hà Nội, ông bà Thơ làm thợ khuân vác hoa quả ở bến xe Long Biên. Công việc nặng nhọc mà giá cả sinh hoạt lại đắt đỏ, do đó thu không đủ chi. Hai ông bà bàn nhau chuyển sang buôn bán hoa quả, vì khi đó trong Nam chuyển ra rất nhiều trái cây như, xoài, cam, mít, dừa, bưởi da xanh, chuối, đu đủ, sầu riêng… Mới đầu hai vợ chồng mua từng thùng rồi gánh đi rong các phố. Vớ được thùng nào đẹp, ngon, thì còn có lãi, vớ phải thùng thối là cụt vốn. Nhưng buôn bán lâu, vợ chồng ông bà Thơ cũng đã rút ra được kinh nghiệm. Khi đã có vốn, họ sắm xe đạp, rồi xe máy, chở những thùng hàng đi bán nơi xa hơn. Vì vậy, thu nhập của hai ông bà Thơ cũng dần dần tăng lên. Họ tích cóp rồi mua được mảnh đất ở cạnh Trường Tuyên giáo Trung Ương. Từ đó hai vợ chồng bà Thơ chuyển sang bán hàng cơm, bún, phở, phục vụ cho những học viên của trường và những người đi đường.
          Vì chưa xin được vào cơ quan nào, nên Kiệt ở nhà phụ giúp bố mẹ những việc như: rửa bát, bưng bê. Cơ may đến với Kiệt khi ông Báng, nhân viên phòng tổ chức của trường thường xuyên vào ăn cơm nhà bà Thơ. Ông thấy Kiệt khỏe mạnh, nhanh nhẹn nên ông bảo với vợ chồng bà Thơ, ông sẽ xin cho Kiệt vào công an nghĩa vụ, nhưng phải chi ra một khoản tiền để quà cáp, nhờ vả.
          Ông bà Thơ mừng quýnh liền đưa ngay hơn trăm triệu bạc tích cóp được, cho ông Báng để lo lót.
          Sau vài tháng, Kiệt nhận được giấy gọi, được đào tạo cấp tốc vài khoa mục cơ bản. Hết thời gian huấn luyện, do không có tiền lo lót tiếp, Kiệt bị điều động lên Lai Châu, để ngăn chặn những người vượt biên trái phép và bắt những vụ buôn lậu qua biên giới. Ở Lai Châu được sáu tháng, Kiệt buồn chán đòi bỏ về. Ông bà Thơ lại mất một khoản lớn để chạy cho Kiệt về Hà Nội. Kiệt cứ nằng nặc đòi bố mẹ xin cho vào công an giao thông, vì Kiệt nghĩ, vào được đó, thì chẳng mấy chốc sẽ thành tỉ phú.
Vừa làm nhà, vừa xin việc cho con, ông bà Thơ cũng đã kiệt sức, đành vay mượn bạn bè hơn bảy trăm triệu, để xin cho con vào làm công an phường ở gần nhà. Sau gần chục năm làm việc ở phường, nhờ sự quen biết đặc biệt, lại biết lấy lòng cấp trên, Kiệt được phong hàm thiếu tá. Và sau đó, Kiệt được bổ nhiệm làm phó trưởng công an phường Giời Ơi, quận Đất Hỡi.
 Nghe cái tên Giời Ơi với Đất Hỡi, nhiều người đã cảm thấy chán, ai cũng phải ngac nhiên vì làm gì có nơi nào lại đặt tên phường, tên quận xấu như vậy? Ấy thế mà, cái tên đó lại có thật mới lạ! Chẳng biết ngày xưa, vì lí do thiên tai, mất mùa triền miên, hay vì bọn quan lại áp bức bóc lột quá, nên các cụ đặt tên là làng Giời Ơi, huyện Đất Hỡi để thay cho một lời than chăng?
Từ khi Kiệt được giao chức phó trưởng công an phường Giời Ơi, cứ vào dịp lễ tết, hoặc đi du lịch nơi đâu là Kiệt lại cho nhân viên công an phụ trách các tổ dân phố, đến những nhà có phòng cho thuê để xin tiền. Gia đình nào không cho, Kiệt bất ngờ kiểm tra tạm trú. Nếu có trường hợp chưa khai báo, Kiệt phạt nặng gia chủ cùng những người chưa kịp khai báo.
Cứ sáu tháng một lần, Kiệt yêu cầu những người ở trọ phải sang tổ dân phố, để khai báo tạm trú, tạm vắng, rồi thu của họ tám mươi ngàn đồng. Biết như vậy là không đúng luật, nhưng chẳng người dân nào dám kêu ca. Ngoài ra, Kiệt cho bọn đàn em thu tiền của các hàng quán ven đường để lấy tiền chia nhau. Lâu dần, nó đã trở thành luật bất thành văn, ai chậm, hoặc không nộp, Kiệt tìm mọi cách, cho bán xới luôn.
Vụ của Quang và Khoan vừa rồi, cũng nằm trong kế hoạch dàn dựng của Kiệt.
 
                                            ***
   Quang được mời lên trụ sở công an phường, rồi anh được đưa vào một phòng có diện tích khoảng 12 mét vuông, có hai cửa sổ nhìn ra ngoài. Bên trong kê một chiếc bàn, trên tường có hai lá cờ đuôi nheo và vài bức tranh phong cảnh.
Quang được mời ngồi xuống một chiếc ghế, hai đồng chí công an ngồi đối diện. Một đồng chí công an đeo lon đại úy yêu cầu Quang bỏ điện thoại ra bàn. Đồng chí công an còn lại đưa tay ra cầm chiếc điện thoại rồi nói:
- Chúng tôi sẽ tạm giữ chiếc điện thoại này, đến khi nào anh được trả tự do. Đưa tờ giấy và cây bút cho Quang, đồng chí công an nói tiếp:
- Chúng tôi yêu cầu anh viết cho bản tường trình về sự việc vừa rồi. Nói xong, hai đồng chí công an đi ra ngoài.
Còn lại một mình, Quang bắt đầu suy nghĩ. Quang cho rằng hành động vừa rồi của mình là hợp pháp, bởi anh chỉ muốn đòi lại số tiền mà Khoan không trả, chứ Quang có ý đồ ăn cướp đâu? Từ xưa đến nay mình chưa lấy bất cứ cái gì của ai, dân làng đều biết cả. Nếu muốn, thì cứ về xóm, về tổ dân phố mà điều tra, xác minh, mình chẳng sợ.
Khoảng mười năm phút sau, chú công an đeo lon đại úy đi vào hỏi Quang:
- Anh viết xong chưa?
-  Viết gì cơ ạ?
- Viết tường trình chứ còn viết gì? Giọng chú hơi gắt. Lát sau, chú lại hạ giọng nói với Quang:
- Anh không viết tức là anh chống đối, vả lại, chúng tôi biết lấy gì làm cơ sở để giải quyết cho anh. Nói xong, chú đi ra ngoài.
Đến nước này thì cứ viết theo đúng những gì đã xảy ra từ mấy tháng trước. Nghĩ vậy Quang bắt đầu cắm cúi viết.
Hơn tiếng đồng hồ sau, Quang mới viết được già nửa trang, bởi mấy chục năm nay, anh chỉ quen cầm kìm, cle, mỏ nết, cuốc, cào chứ đâu có cầm bút bao giờ. Nhiều chỗ Quang viết người ngoài muốn hiểu, phải luận từng chữ mới đọc nổi. Hơn một tiếng sau, vẫn chú công an đeo lon đại úy đi vào. Cầm tờ giấy lên đọc, chú ấy lắc đầu. Cố kìm nén bực dọc, chú giải thích:
- Anh chỉ viết các sự việc vừa xảy ra tối nay thôi. Việc trước đây là việc tranh chấp dân sự, không có liên quan gì đến việc hôm nay.
Quang lí nhí:
- Không có lửa thì làm sao có khói. Tôi viết theo đúng những gì đã xảy ra. Tôi không thêm bớt là được.
- Thôi được rồi, anh ngoan cố lắm!
Khoảng hai giờ sáng Kiệt đi vào, trên người hắn toàn mùi rượu bia, mùi gái gú. Hắn khạc nhổ liên hồi, rồi lừ lừ nhìn Quang, sau đó hắn mở miệng:
- Thế có cần báo cho gia đình biết không?
Nghe Kiệt hỏi, Quang có chút bối rối, sau Quang nghĩ "Cũng nên thông báo cho vợ con biết, mình ở đây để họ đỡ lo ". Quang gật đầu tỏ ý đồng tình.
Kiệt đưa cho quang chiếc điện thoại rồi nói thêm một câu:
- Bảo vợ con, đem theo ít quần áo để mai chuyển sang phòng tạm giam của quận. Sau đó Kiệt đi ra ngoài.
 
                                                               ***
   Bà Hòa giật mình khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại, bà vội vàng mở ra nghe. Vì tai nghễnh ngãng nên bà chỉ nghe, câu được, câu chăng. Bà cứ hẩm hẩm, hử hử làm cho ông Quang bực mình gắt toáng. Khi nghe được ông Quang bảo, mai đem cho ông ít quần áo. Bà rụng rời đánh rơi chiếc điện thoại xuống giường. Bà mở ra gọi lại, nhưng điện thoại đã bị ngắt. Bà cứ thẫn thờ đi ra, đi vào, nghĩ ngợi lung tung. Bà cho rằng, chồng bà có gây gổ đánh mắng Khoan đâu, ông Quang chỉ muốn đòi lại sự công bằng mà thôi. Sự việc chỉ có thế, mà họ lại cố tình làm to lên như vậy? Ông Quang bị đi tù thì lấy ai ra trông nom mẹ đang nằm viện. Rồi đứa con gái, vừa mới được nhà trai đem trầu cau đến giạm hỏi, họ nghĩ thế nào về gia đình mình? Bao câu hỏi cứ lấn lướt trong đầu, làm cho bà Hòa trở nên bấn loạn. Bà chẳng còn nghĩ thêm được gì, bà ngồi khóc cho đến sáng.
Mới hơn năm giờ, bà Hòa đã ôm bọc quần áo, cứ loanh quoanh, luẩn quẩn đi ra, đi vào trước cửa phòng. Bà định bụng đi ra sớm để mua cho ông vài chục ngàn bánh cuốn nóng, bởi cả đêm qua đã có hột gì vào bụng đâu. Nhưng tám giờ họ mới làm việc, ra thì ngồi đợi mấy tiếng đồng hồ ở cổng à? Nghĩ vậy bà bỏ bọc quần áo xuống giường rồi đi ra ngoài. Hôm nay có lẽ nắng to, mặt trời chưa lên, mà phía đông đã ửng đỏ. Bà đang nghĩ ngợi thì nghe có tiếng gọi, Quay ra bà thấy mẹ mình đang đứng ở cổng.
Bà Hiền vừa đi vào vừa vội vàng hỏi con:
- Đêm qua Quang nó có được về không?
Đang nẫu hết ruột gan, bà Hòa trả lời trống không:
- Họ còn đang định đưa nhà con lên tạm giam trên quận kia kìa. Về gì mà về!
- Tao nghe nhiều người họ nói, giờ phải lo lót nặng tay thì mới xong, rồi bà tuồn tuột kể ra vô số những câu chuyện, chẳng lấy gì làm to tát, thậm chí có những việc chỉ cần ngồi lại, nói với nhau vài câu là xong, nhưng vì tiền họ sẵn sàng bới lên, bới xuống, rồi chiểu theo điều này, chiểu theo luật nọ, họ cứ gán cho tội này, tội kia chẳng phải chịu à? Cãi sao được pháp luật. Cái chuyện của con bà Hồng chưa đủ để mày sáng mắt ra à? Chỉ vì đói quá, thằng Cam ăn trộm ổ bánh mì mà họ còn cho đi tù kia kìa.
- Nhưng nhà con có ăn trộm đâu? Hòa nhanh mồm cãi lại.
- Ngay nó bẻ thành queo, để chúng nó còn nặn bóp. Ở cái thời buổi này ai còn lạ gì? Thôi con ơi! Bỏ ra ít tiền chạy cho nó về, không thì lấy ai trong nom bà cụ đang nằm viện. Lại còn việc cưới xin của con Hoa nữa chứ.
Nghe mẹ nói đầu óc bà Hòa lại như muốn nổ tung, bà chỉ muốn đập đầu vào tường mà chết đi cho khuất. Nhưng chết đâu có dễ, bởi còn một đống công việc đang chờ. Mẹ chồng nằm viện, chồng đang bị giam, con thì sắp cưới.
Thấy bưng bức trong đầu, bà Hòa bỏ mẹ ở lại một mình, bà cầm bọc quàn áo đi ra đường, chứ ở nhà để đối thoại với mẹ, thì bà càng quẫn trí.
Đi một đoạn khá xa, bà Hòa mới nghĩ đến việc mua cho chồng ít bánh, bà quay lại.
Nhìn cánh cổng trụ sở công an phường vẫn khóa chặt, bà Hòa thất vọng. Bà cố căng mắt nhìn vào trong để đoán xem chồng mình nằm ở đâu. Nhưng bà chỉ nhìn thấy một khối nhờ nhờ, vì ngôi nhà ba tầng nằm ở khá xa nơi bà dứng.
Từ cổng vào đến ngôi nhà làm việc của công an phường Giời Ơi là một khoảng sân rất rộng. Những chiếc ô tô nối đuôi nhau xếp hàng dàn dạt. Bà lẩm nhẩm đếm, rồi ước tính, có lẽ nó phải tới hàng trăm chiếc ở trong sân. Hai bên cánh gà cổng trụ sở công an phường Giời Ơi, là vỉa hè, rộng tới năm, sáu mét, cũng đặc kín ô tô. Bà thở dài đánh sượt rồi chép miệng: "Đường thì hẹp mà hai bên vỉa hè rõ rộng. Họ làm thế để làm gì nhỉ? ". Bà tuột chiếc dép ở chân rồi ngồi dựa vào trụ cổng.
Đợi ở cổng trụ sở công an phường hơn một giờ đồng hồ, mới có chú công an trực ban ra mở cửa. Bà Hòa đứng lên, nhưng lại bị ngã bịch xuống, gáy đập vào trụ cổng đau điếng. Bà xuýt xoa nắn bóp một lúc, hai chân mới duỗi thẳng ra được. Khi thấy nhẹ nhõm đôi phần, bà Hòa vịn tay vào cánh cổng rồi kéo người lên, túi bánh cuốn bà mang ra cho chồng đã lạnh ngắt. Bà gắng gượng dê từng bước, từng bước về phía trước. Giờ này cũng có vài ba tốp người đang đi vào, bà gật đầu chào rồi lẳng lặng đi đến phòng trực ban.
Mới qua một đêm mà trông ông Quang đã hốc hác, xương gò má nhô cao, quai hàm bạnh ra. Bà khóc lên, khóc xuống một lúc lâu. Ông Quang cũng rơm rớm nước mắt, nói không ra hơi. Ông bảo bà yên tâm, đừng lo nghĩ nhiều.
Đưa túi bánh cho chồng xong, bà Hòa đi ra ngoài. Mục đích chính của bà, là để trình bày với lãnh đạo về hoàn cảnh gia đình, mong các ông thương tình, chiếu cố.
 Kiệt đang ngồi ở phòng bên nhìn thấy bà Hòa đi ra liền giật giọng gọi lại. Đợi cho bà Hòa ngồi xuống ghế, Kiệt ra đóng cửa phòng rồi hắn mới mở lời:
- Hôm qua chúng tôi yêu cầu anh Quang viết tường trình nhưng anh không viết, cứ quanh co chối tội, buộc chúng tôi phải đưa anh lên quận tạm giam thêm ít ngày nữa. Ý chị thế nào? 
Nghe, câu được, câu chăng, bà Hòa liền hỏi lại:
- Ông nói to lên, tôi nghe chưa rõ!
Nghe bà Hòa nói vậy, Kiệt yêu cầu bà Hòa bỏ điện thoại ra bàn. Tự tay tắt nguồn xong hắn mới nói:
- Nguyện vọng của bà ra sao cho chúng tôi biết. Vừa nói Kiệt vừa ghi con số 300 triệu vào tờ giấy. Hắn cố ý đẩy tờ giấy về phía bà Hòa để cho bà nhìn thấy. Sau đó, Kiệt đưa ra những lời đe dọa:
- Nếu chị đồng ý hợp tác với chúng tôi, thì chỉ trong nội nhật đêm nay anh Quang sẽ được thả. Bằng không, chúng tôi sẽ chuyển hồ sơ của anh sang Viện kiểm sát, để họ truy tố theo đúng trình tự của pháp luật. Nặng đấy chứ không phải nhẹ đâu?  Kiệt vo tròn tờ giấy cho vào túi quần rồi đi ra ngoài. Bà Hòa nghe xong những câu nói ấy, thì mặt mũi tối sầm, bà gục đầu xuống bàn bất tỉnh
 
                                           ***
    Khoan năm nay cũng gần ba mươi tuổi, mặt mũi sáng sủa, hàm răng trắng bóng, bộ ria mép vểnh lên, càng làm tăng thêm vẻ đẹp cho khuôn mặt của hắn. Khoan học xong cấp ba rồi thi đỗ vào trường Tài chính. Ra trường chưa xin được việc, Khoan không về nhà, cứ nằm lì trong phòng trọ. Đợi cho mọi người đi làm, hoặc đã ngủ say Khoan mới giở trò, khi thì xoáy của họ chiếc laptop, khi thì xoáy điện thoại, xe máy…. Chính vì vậy, Khoan thường xuyên phải thay đổi chỗ ở, để trốn nợ, để tránh tai tiếng và để dễ làm ăn hơn.
Khoan thường xuyên gặp Kiệt ở quán bia bà Tính. Hai bên chuyện trò rồi qua lại với nhau. Khi biết Kiệt cùng tuổi lại cùng quê, Khoan chủ động đề nghị với Kiệt, xin được làm anh em kết nghĩa. Kiệt đồng ý ngay, vì Kiệt đang muốn tìm người để làm chân gỗ cho mình, còn Khoan thì đang cần chỗ dựa để làm ăn.
Kiệt giao cho Khoan phải gom hết những thành phần bất hảo lại, để phục vụ cho các kịch bản lâu dài của mình. Nhóm người này có nhiệm vụ chuyên đi nghe ngóng, rồi báo cáo lại những điều tai nghe, mắt thấy cho Kiệt, để Kiệt lên kế hoạch hành xử.
Kiệt nuôi bọn tiểu yêu này bằng cách, cho bọn chúng ăn cắp những chiếc xe máy đắt tiền. Người mất, xót của đến trình báo. Chỉ sau một giờ đồng hồ, Kiệt đã phá xong vụ án. Nhưng đối tượng mất xe phải nôn ra cho Kiệt một món tiền kha khá, thì mới nhận được xe về, bằng không, Kiệt chỉ thị cho bọn đàn em tự xử. Những vụ đánh bạc lớn đều được Kiệt lên phương án triệt phá. Tiếng tăm, uy tín của Kiệt cứ nổi lên như cồn, không những ở địa bàn phường Giời Ơi mà còn bay lên đến quận Đất Hỡi.
Cứ sau những phi vụ làm ăn như vậy, Kiệt lại được biểu dương, khen thưởng, được thăng chức lên lương.
Vụ việc của Quang với Khoan cũng nằm trong âm mưu của Kiệt, vì Kiệt đang khát tiền để chu cấp cho ba con bò cái.
   Nếu xét cho công bằng về vụ việc của Quang với Khoan, thì Khoan chính là ngòi nổ, Quang chỉ là nạn nhân. Hai bên có thể hòa giải, thương lượng với nhau một cách êm thắm. Nhưng làm như vậy thì lấy đâu ra tiền để cờ bạc, để tiêu pha, để nuôi bồ nhí.

   Đi đêm lắm có ngày gặp ma, Kiệt bị bắt quả tang khi đang hú hí với con bồ nhí. Kiệt bi kỉ luật rồi bị đuổi ra khỏi nghành công an. Tên tuổi của Kiệt được nhiều người biết đến, Kiệt đã trở thành, nhân vật kiệt xuất trong chuyện, lừa lọc và gái gú.
Ông Hoàng, cũng đã đóng góp một phần không nhỏ, trong việc đấu tranh, để đưa những phần tử sâu mọt ra khỏi nghành. Bởi, ông đã kịp thời báo cáo, những hành vi, tham nhũng, tiêu cực, cùng những việc làm xấu xa của Cao Xuân Kiệt, cho Phan Anh Đức, trưởng công an phường Giời Ơi để họ kịp thời xử lí. 
 
                                                                                           N.Đ.V 
(Trích trong tập truyện ngắn: "Chiếc xắc cốt bội bạc)
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 33
Trong ngày: 653
Trong tuần: 3469
Lượt truy cập: 1236575
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông