Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

CHIẾC XẮC CỐT BỘI BẠC

Nguyễn Đạo Vinh

CHIẾC XẮC CỐT BỘI BẠC

   Chiếc xe comangca đỗ xịch bên cổng làng, cạnh đó là cái sân kho hợp tác rộng mênh mông. Hàng phi lao đang rũ rượi vì phải gồng mình, gắng sức, để chống chọi với cái nắng nóng của mùa hè.

Vai đeo xắc cốt, tay trái xách chiếc phích Trung Quốc mới toanh, tay phải xách chiếc giỏ tre, ông Tiền từ trên xe bước xuống. Ông đảo mắt nhìn quanh, chẳng thấy một ai. Ông chặc lưỡi:

- Quái lạ!

 Làng Cò Lài là một ngôi làng cổ, nó chỉ cách trung tâm thành phố hơn chục cây số, người dân nơi đây đa phần làm nghề nông, họ hiền lành thực thà chất phác. Nhiều người cả đời chưa đi ra khỏi lũy tre làng, bởi vậy, hễ cứ thấy cái ô tô hoặc xe máy nào vào làng, là trẻ con người lớn lại ào ào chạy ra rồi xúm đông, xúm đỏ, để xem. Không hiểu sao, tự dưng hôm nay, làng lại cứ im bằn bặt?

  Ông Tiền ưỡn ngực đứng trân trân giữa cái nắng, nóng, như muốn chờ đợi ai đó. Chừng độ mươi phút chẳng thấy có bóng dáng người nào qua, lại, ông mới chậm rãi bước tiếp. Đi được hơn chục bước ông lại dừng, hình như ông đang cố tình dùng dằng để cho mọi người nhìn thấy ông với những món quà trên tay.

  Một lát sau ông lại đi tiếp, vừa đi, ông vừa nghĩ: “Lạ thật! Nếu như mọi ngày, vào giờ này phải có vài ba chục đứa trẻ choai choai đứng câu cá, hoặc móc cái hoa mướp vào lưỡi câu rồi văng ra xa để nhử ếch ven hồ. Nhưng hôm nay thì lại chẳng có một đứa trẻ nào. Dưới các lùm tre quanh ao cũng chẳng thấy bóng ma nào ngồi tán gẫu”.

 Đi được vài bước ông lại dừng, mắt nhìn, tai ngóng, mãi sau ông mới nghe được tiếng đặng hắng, tiếng gậy khua lộc cộc. Ông Tiền mừng như bắt được vàng, ông cố nán đơi rồi xoay hẳn người về nơi phát ra tiếng động ấy. Qua làn nắng chói chang, ông nheo mắt, nhíu mày, một lúc mới nhận ra bà Nhạn mù đang đi ra. Ông chép miệng:

Mù thì còn nhìn thấy gì nữa. Mất toi bao công chờ đợi. Chó thật!

Ông Tiền thõng thượt thở dài rồi lê chân bước tiếp. Vẻ mặt ông lúc này trông cứ buồn thiu, chẳng khác gì bánh đa dấp nước. Ông đang nuối tiếc về những suy nghĩ nông cạn và có phần hơi vội vã của mình: “ Đáng lẽ mình cứ để cho chú tài đánh xe vào tận sân, cho bà vợ và mấy nhà hàng xóm nhìn thấy phải lác mắt. Vừa đỡ mệt lại vừa oách.”

- Ông về rồi hả? Sao không đội cái mũ, cái nón vào? Ông chỉ nghe được mấy câu hỏi đó của vợ rồi ông ngã vật xuống giường nằm bất tỉnh.

                                                                   ***xaccot123

 

Ông Tiền là đứa con duy nhất của vợ chồng cụ Bảy, bố ông làm nghề gõ đầu trẻ, mẹ ông suốt ngày quần quật với hơn mẫu ruộng và đám lợn gà. Cả hai ông bà đều chắt chiu nhặt nhạnh, nên kinh tế gia đình ông cũng vào dạng phong lưu.

Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nho giáo, bởi vậy ông Tiền được cha mẹ dạy bảo rất cặn kẽ, nên bản tính ông rất nhã nhặn hòa đồng. Ông đã tin tưởng vào một ai đó, thì cho dù, trời long, đất nở, ông cũng sẽ đi theo người đó đến cùng,

Với thân hình to cao vạm vỡ, với bản tính ôn hòa, cứ đi tới đâu, ông cũng được mọi người ngợi khen. Họ nhìn ông với con mắt vừa thèm khát, vừa nể trọng. Ông hay bênh vực những người yếu thế, bởi vậy, ông được mọi người đều hết lòng thương yêu. Ở vào độ tuổi mười bảy, ông đã dám đương đầu với năm sáu thanh niên làng bên, giải cứu cho cô Hà, thoát khỏi nanh vuốt của những tên côn đồ.  Vài năm sau ông cưới vợ, vợ ông chính là cô Hà mà năm xưa ông đã từng giải cứu.

Lấy nhau đã ba năm vợ chồng ông mới cho ra đời được một thằng cu, ông đặt cho nó cái tên là Tuyến. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, nghe theo tiếng gọi của Việt minh, ông tham gia tự vệ cứu quốc. Cuối năm 1946 ông gia nhập Vệ quốc quân, sau này được đổi tên là Quân đội Nhân dân Việt Nam. Do có trình độ văn hóa, lại có bản tính liêm khiết, tiết kiệm, ông đã được trên điều động sang phụ trách kho lương thực và phân phát quân tư trang của đơn vị. 

Năm 1954 ông Tiền cùng hàng ngàn chiến binh tham gia tiếp quản thủ đô. Tháng mười một năm ấy, ông được trên cho phục viên. Khi trao quyết định phục viên cho ông, đồng chí cục trưởng cục quân nhu đã tặng ông một chiếc xắc cốt rồi căn dặn:

-  Đây là phần thưởng cao quí của Đảng và Nhà nước dành cho đồng chí, vì đồng chí đã đóng góp một phần không nhỏ, vào công cuộc giải phóng đất nước. Tôi mong rằng, khi trở về địa phương, đồng chí hãy phát huy những thành tích đã đạt được trong quân ngũ, để làm tốt những gì mà Đảng và Nhân dân giao phó.

 Người Vệ quốc quân năm xưa nay trở về làng với bộ quân phục màu cỏ úa, ngoài chiếc áo trấn thủ, chiếc mũ đan bằng tre được phủ lên trên một lớp vải mỏng, ông còn có thêm một chiếc xắc cốt màu rỉ sắt. Chiếc xắc cốt này là phần thưởng cao quí của Đảng dành cho ông, nó sẽ cùng ông đi cho đến hết cuộc đời.

  Được tin ông về, người dân làng Cò Lài hết sức vui mừng phấn khởi, họ ùn ùn kéo đến để được ngắm nhìn anh bộ đội cụ Hồ. Người đã đem một vinh dự lớn về cho làng. Nhưng vui nhất vẫn là bà Hà, người vợ đảm đang chung thủy, suốt bao năm thay ông nuôi dạy con cái, trông nom bố, mẹ già.

  Với bản tính cần cù chịu khó, với bản lĩnh của một quân nhân đã được rèn rũa trong quân đội. Ông Tiền chỉ nghỉ có vài ngày rồi lại bắt tay ngay vào công việc. Lúc thấy ông đeo chiếc xắc cốt đo ruộng đất cho dân, chốc lại thấy ông đeo chiếc xắc cốt trong đám chia quả thực. Ông cứ như con thoi, nơi nào cần là ông xông vào, bởi ông là đảng viên và là người có trình độ văn hóa duy nhất ở làng Cò Lài.

Từ tổ trưởng tổ đổi công, ông chuyển sang làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp thôn Cò Lài. Khi Đảng ta phát động phong trào “Ba ngọn cờ hồng”, ông Tiền lại được phân công sang phụ trách mảng tín dụng và sau đó ông được bầu làm chủ nhiêm hợp tác xã tín dụng thôn Cò Lài.

“Có bột mới gột lên hồ”. Không có vốn thì lấy đâu ra để cho xã viên vay? Đó là những suy nghĩ đầu tiên và vô cùng thiết thực của ông Tiền. Bởi vậy, việc đầu tiên ông làm là phải huy động vốn. Ông Tiền đã bỏ ra hai tháng liền để đi vận động, giải thích. Đến đâu ông cũng đọc bài thơ do mình sáng tác:

- Gửi tiền vào tín dụng a/ Để cho ích nước lợi nhà mai sau/ Chủ nghĩa xã hội mạnh giàu/ Muốn thắng đế quốc ta mau gửi tiền.

 Những câu thơ mộc mạc giản dị ấy, đã nói lên phần nào những nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và ý chí tiến công không ngừng nghỉ của ông. Nhưng ngặt một nỗi, ở vào thời điểm đó, kinh tế của những người dân làng Cò Lài vô cùng khó khăn, họ phải ăn rau, ăn sắn thay cơm. Cả làng chỉ có mươi hộ được xếp vào dạng khá giả, nhưng họ lại không tin vào hình thức làm ăn mới này. Họ thường rỉ tai nhau rằng:

- “Hơi đâu mà thả lợn trong chuồng ra để đuổi”, rồi “Lãi lờ đâu chẳng thấy không cẩn thận còn mất oan”. Vì vậy, sau hơn hai tháng ròng, nói đi, nói lại, nói sái quai hàm, ông Tiền mới vận động được bốn hộ cho vay, với tổng số dư tiền gửi vào quĩ tiết kiệm là 40 đồng. Số tiền này chỉ đủ cho dăm bảy hộ vay để mua lợn giống, gà giống.

Cứ đà này thì khó mà hoàn thành được nhiệm vụ trên giao. Sau nhiều đêm suy tính, ông Tiền quyết định, bán đi hai sào đất hương hỏa, bán thêm đôi hoa tai, của hồi môn quí giá nhất của vợ. Tổng số tiền thu được là 180 đồng, ông đưa tất số tiền đó vào ngân quĩ của hợp tác xã.

Từ sự gương mẫu và những việc làm tận tâm, tận lực, của ông, năm ấy, hợp tác xã tín dụng thôn Cò Lài có số dư tiền gửi cao nhất huyện. Ông Tiền được huyện biểu dương và được tặng một chiếc quạt giấy, một cuốn sổ, một cây bút Packe.

Thời gian sau, nhiều xã viên đã nhận ra cách làm ăn mới này cũng có hiệu quả, vừa ích nước, vừa lợi nhà, mà lại không lo chuyện mất cắp. Người nọ truyền tai người kia, có người còn bán cả trâu, bò, vàng bạc để gửi vào quĩ của hợp tác xã. Do vậy số dư tiết kiệm của hợp tác xã tín dụng thôn Cò Lài đã không ngừng tăng lên. Vượt chỉ tiêu định mức huyện giao. Ông đã làm đúng lời dạy của các đồng chí lãnh đạo, là: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Năm đó ông Tiền được bình bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc, một phần thưởng cao quí mà Đảng và nhà nước dành cho ông. Kể từ đó, ông dành mọi thời gian công sức của mình cho các phong trào và các hoạt động của xã.

 Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, thì phải nâng qui mô các hợp tác xã, nông nghiệp, tín dụng, mua bán, lên một tầm cao mới. Nhận thức rõ điều đó, cấp trên đã chỉ thị cho bốn hợp tác xã, là Cò Lài, Búng, Báng, Tràng Sơn hợp nhất với nhau, thành một hợp tác xã lớn, mang tên, hợp tác xã tín dụng xã Cò Lài. Ông Tiền trở thành chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng đầu tiên của xã. Ông được hưởng phụ cấp mười bảy đồng mỗi tháng.

Ngoài những ngày đi làm để trực tiếp giải quyết việc vay, gửi, trả lãi, ông Tiền còn tham gia vào các công việc ở hợp tác xã nông nghiệp như một xã viên thực thụ. Nhiều khi ông mua thêm các sản phẩm nông nghiệp như: cà chua, cà tím, dưa, mướp, bầu bí v v của bà con trong làng rồi đem ra phố bán. Khi chưa có xe đạp, ông gánh hàng đi từ mười một, mười hai giờ đêm, ra tận Đồng Xuân, Bắc Qua để bán. Ông chỉ bớt lại vài đồng vốn, còn đâu ông lại gửi tuốt vào quĩ tín dụng của hợp tác xã.

Do mải mê với công việc tập thể, mải mê với việc tính toán tiền nong, nên sáu năm sau, vợ chồng ông mới sinh thêm được mụn con gái. Đứa bé ra đời cứ ốm đau quặt quẹo, bởi nó bị suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ.

Thức ăn hàng ngày của gia đình ông, quanh đi, quẩn lại chỉ có tương với cà. Hôm nào bà Hà hái được ít rau dại, vơ được mớ cua, mớ tép, mớ ốc, dưới mương, là hôm đó gia đình ông được bữa ăn tươi. Ông chắt bóp từng xu, từng hào, mớ rau, con ngan, con gà tăng gia được, ông cũng đem bán. Tem tăng gia cấp cho những hộ nuôi lợn nái, ông cũng đem ra chợ qui đổi thành tiền rồi gửi tất vào quĩ tiết kiệm của hợp tác xã. Vì vậy, chỉ trong mười năm, số dư tiền gửi của gia đình ông đã lên đến 1700 đồng, cao nhất huyện Đồng Vị.

Và cũng ngần ấy năm trời, ông không mua cho vợ con được tấm vải nào để may quần, may áo. Hàng ngày trước khi ra khỏi nhà ông đong sẵn bơ gạo, vài ba củ khoai, ít muối mắm cho vợ con nấu. Ông giữ chặt khóa buồng, khóa tủ không cho vợ con đụng vào. Chiến tranh lạnh giữa ông và vợ con liên tiếp xảy ra. Nhưng, để giữ thể diện cho chồng, cho con, bà Hà đành nín nhịn. Nhiều khi thèm nắm ngô rang đến quắt tai, bà Hà với hai đứa con đề xuất, xin được rang bát ngô. Ông nghiêm giọng bảo:

- Giờ là lúc phải thắt lưng buộc bụng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải làm việc bằng hai để giúp đỡ đồng bào miền Nam ruột thịt và góp phần vào công cuộc đấu tranh, thống nhất đất nước chứ. Phung phí sao được!

Nghe câu nói của chồng, bà Hà chỉ còn cách, nén cơn giận vào lòng. Nuốt nước mắt vào trong, bà rủ rỉ nói với các con:

-  Để lúc nào có tiền thì mẹ mua cho ăn chán thì thôi! 

An ủi con thế thôi, chứ bà bực ông lắm, bởi từ khi ông ở bộ đội về rồi làm chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng, thì chẳng bao giờ bà được cầm lấy một đồng xu. Nhiều khi bà trộm nghĩ: “Thà rằng ông cứ đi xa như những năm trước thì bà và con còn được ăn no, mặc ấm”. Giờ thì chỉ có tết, tết mới được miếng thịt mỡ, nhưng tết ông cũng chỉ cho ăn cầm chừng. Cả nhà được sáu cân lợn hơi, gặp con đặc ruột thì còn được bốn kí cả thịt lẫn xương, nhưng ông bắt rán kiệt để lấy mỡ ăn ra giêng. Mấy ngày tết, mỗi người được vài ba miếng tóp mỡ lèo phèo. Từ dạo đó, bà cùng các con sinh ra oán ghét ông. Đôi lần thèm khát quá, thằng Tuyến tìm cách mở khóa rồi xúc trộm bơ ngô để rang. Ông vớ được, liền bắt Tuyến quì trên đống gai mít. Ông rỉa róc, ông mắng nhiếc thậm tệ, làm cho Tuyến xấu hổ phải bỏ nhà ra đi. Thời gian sau anh xung phong vào bộ đội rồi bị hi sinh ở cánh đồng Chum bên nước bạn Lào.

Chính từ sự hi sinh cao cả, hết lòng tận tụy với dân với nước, suốt đời phấn đấu cho Đảng cho đất nước, nên ông Tiền đã nhận được rất nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp. Không còn chỗ để treo, ông dán luôn các bằng, giấy khen đó vào vách nhà, vách dại, cột nhà. Ông luôn tự hào về những thành tích đó.

                                                              ***

 Kết thúc kế hoạch lăm năm lần thứ hai, ông Tiền lại được đồng nghiệp suy tôn, bình chọn là chiến sĩ thi đua toàn quốc. Hôm nhận được giấy mời họp, ông đọc đi, đọc lại hàng chục lần, người cứ như muốn nổ tung vì sung sướng. Ông sao chép lại nguyên văn nội dung giấy mời rồi đem đi khoe khắp làng, xã. Phần đông họ khen ông, nhưng cũng có đôi người cười mỉa, có người còn bạo miệng nói răng: “Được tiếng khen ho hen chẳng còn”. Nhưng ông chẳng thèm để tâm tới những câu nói của những kẻ phàm phu tục tử, bởi họ có biết đâu về lập trường quan điểm giai cấp. Họ có biết, công hữu và tư hữu nó khác nhau ở điểm nào đâu? Họ chỉ biết vun vén cho cái gia đình nhỏ nhoi của mình. Hàng ngày, hàng giờ, họ chỉ nghĩ đến việc, làm thế nào để cho cái dạ dày của mình được đầy lên mà thôi.

Cái giấy mời chính ông cho vào chiếc hộp sắt rồi cất vào tủ khóa chặt. Ông giữ nó như giữ một vật báu, đi đâu về là ông lại mở ra xem rồi lại cẩn thận cất vào tủ. Ông cho rằng, đây là một vinh dự lớn mà Đảng và Nhà nước đã trao cho ông. Cả tỉnh, cả huyện này đã có mấy ai được như ông.

Để chuẩn bị cho chuyến đi này, ông Tiền đã mất bao thời gian, công sức đễ cân đo, đong đếm, Cái câu: “Ở nhà ăn cháo, mặc áo đi đường” cứ xoáy sâu mãi vào bộ óc của ông. Ông nghĩ, đi gặp các đồng chí lãnh đạo mà ăn mặc tuềnh toàng quá cũng không nên. Sau bao lần, đắn đo, cân nhắc, ông Tiền quyết định, phải dứt ra ba đồng bạc và một buổi sáng để đi xuống chợ Hà Đông mua ít vải sồi về nhuộm rồi may bộ quần áo cho tươm tất, chứ ăn mặc lôi thôi, lếch thếch thế này, không khéo lại bị phê bình, hoặc bị họ đuổi ra thì bẽ mặt lắm.

                                                   ***

 Nằm đến hơn ba giờ chiều ông Tiền mới tỉnh, ông nhìn thấy vợ, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy, tay kia cầm chiếc khăn mặt rách thấm những giọt mồ hôi đang lăn trên má ông, nước mắt ông tự nhiên tứa ra. Bà Hà tưởng chồng thương mình nên cũng chảy nước mắt rồi sụt sịt khóc.

Nhưng ông Tiền đâu có khóc vì thương bà Hà, ông khóc vì chuyến đi vừa rồi của ông không được như mong muốn.

 Trước khi đi, ông Tiền đã lo liệu, trù tính hết sức kĩ càng. Ông dự tính, sẽ đi họp vào nửa buổi chiều, để cho mọi người trong thôn được chiêm ngưỡng và phải lác mắt, phải kính nể khi nhìn thấy ông. Phần nữa, cũng là để tuyên truyền cho công việc của ông sau này “Bởi trăm nghe không bằng một thấy”. Nhưng vì trời nắng gắt quá nên ông phải lùi lại, bởi ông nghĩ, đi nắng quá chẳng may ngã bệnh thì lại mất công toi. Lúc về, giữa thanh thiên, bạch nhật, lại đem theo tặng phẩm, quà các, cả làng nhìn thấy chẳng hơn à? Do vậy ông Tiền quyết định chuyển sang đi đêm.

 Khi tiếng đài galen vừa dứt mục tiếng thơ, ông đeo chiếc xắc cốt lên người rồi thũng thẵng bước đi. Chạm mặt người nào ông cũng đánh tiếng thật to để gây sự chú ý, nhưng dường như đa phần chẳng mấy ai để ý tới ông. Ông tự an ủi: “Lúc về, giữa ban ngày, ban mặt, lại chẳng bu đen từ cổng làng về đến nhà, lúc ấy tha hồ mà vênh vang”. Rồi ông nghĩ đến việc, nếu cấp trên có hỏi thì mình trả lời thế nào? Ông cứ lan man suy nghĩ rồi tự đặt ra những câu hỏi, những tình huống, lắm lúc ông cười một mình trông như kẻ dở hơi.

Ông Tiền đã mất rất nhiều công sức, để xây dựng nên một kế hoạch hoàn hảo cho chuyến đi như vậy, mà cuối cùng lại chẳng đâu vào đâu. Đúng là “Người tính không bằng trời tính”, mọi hi vọng ban đầu của ông đã bị dập tắt. Đi một đoạn đường rõ dài mà chẳng gặp mặt ai, lại dớ ngay phải bà Nhạn mù. Mù thì làm sao mà biết được, mình ăn mặc ra sao, cầm trên tay thứ gì. Gặp được người sáng mắt thì có khi tin đồn đã bay ra khắp làng, khắp tổng. Có khi họ còn thêm mắm, dặm muối, họ phao tin là mình được tặng phích nước Trung Quốc, xe đạp Mi fa cùng những thứ nọ, thứ kia rồi cũng nên?  Nếu được như thế mình cũng nở mày, nở mặt. Chứ đi, về, như thế này thì có khác gì “Áo gấm đi đêm”. Biết thế mình bán quách chiếc phích và bộ ấm chén cho tay lái xe, lấy bốn mươi đồng cho vào quĩ, cuối năm lại đẻ ra bao là lãi.

          Nhìn thấy bà Hà đang soạn quang gánh chuẩn bị ra đồng, ông Tiền bật dậy nói với bà:

          - Bà ra cửa hàng mua giúp tôi gói chè!

Bà Hà đi vào gần tới nơi ông ngồi, bà nhẹ nhàng bảo:

- Ông đưa tiền đây!

 Ông Tiền ngớ người một lát rồi moi hết các túi mới gom được bốn hào. Số tiền này ông định để khi về sẽ đi xe khách cho đỡ mệt. Ông nhét vào mỗi túi áo, túi quần một hào để đề phòng kẻ gian lấy cắp, nếu có bị móc thì chỉ mất một hào thôi.

Nhưng lúc về, vì tiếc bốn hào nên ông quyết định đi bộ. Đi được vài cây số, mồ hôi xổ ra ướt đẫm quần áo, chân tay bủn rủn chỉ trực ngã. May thay lúc đó lại có chiếc commangca chạy tới, anh bộ đội nhảy xuống đưa ông lên xe. Chứ không thì…

Ông đang mải suy nghĩ thì bà Hà chạy về bảo:

- Chỉ có chè Vị Xuyên nhưng phải bốn hào rưỡi, ông đưa thêm năm xu.

Biết moi đâu ra năm xu, ông cằn nhằn:

- Chè gì mà đắt thế? Thôi, bà đưa đây!

Không được cái nọ thì phải sọ cái kia. Ông Tiền không thể chịu được cái cảnh “Áo gấm đi đêm”, có thì phải trưng ra cho thiên hạ biết mà nể phục. Cứ để yên trong nhà thì ai biết, mà quà này là quà của Trung ương, còn hơn cả lộc thánh nữa chứ. Nghĩ vậy cho nên ông Tiền mới sai bà Hà đi mua chè để tối nay ông báo chi bộ đến họp, mặc dầu phải đến ngày kia mới là ngày họp của chi bộ. Có ấm chén, có phích mà lại không có chè, đem phích ấm không sang thì còn có ý nghĩa gì nữa? Phải có ấm trà. Phải có ấm trà. Nghĩ đến đây, ông Tiền lao vội ra cửa hàng rồi tiện thể đi báo các đảng viên trong chi bộ, tối đến trụ sở để họp. Nhưng mục đích chính của ông Tiền là để khoe với mọi người, ông được lên thành phố họp, được bắt tay các đồng chí lãnh đạo và được tặng thưởng những tặng phẩm đặc biệt.

                                                       ***

Chiến thắng 30/4/ 1975 làm nức lòng mọi người, đất nước đã thống nhất, người dân không còn phải lo bom rơi, đạn lạc, không còn phải lo đóng góp sức người, sức của cho chiến tranh nữa.  Họ vui mừng phấn khởi, liên hoan, ca hát, nhảy múa hết ngày này sang ngày khác, mãi hơn tháng sau mới tạm dừng. Nhân lúc không khí, gia đình và dân làng đang vui như diều gặp gió, bà Hà đề xuất với chồng:

- Giờ đã hết chiến tranh, hết bom, hết đạn, ông rút một số tiền trong quĩ ra, sửa sang lại nhà cửa để có chỗ chui ra, chui vào, cho yên tâm. Mua cho con cái xe đạp, vài bộ quần áo tươm tất để con có được tấm chồng.

Bà Hà nói chưa dứt câu, ông Tiền đã quát toáng:

- Xây sửa cái gì? Mua sắm cái gì? Bà có biết không? Mai kia nước Mĩ phải bỏ ra mấy ngàn tỉ Đô la để bồi hoàn chiến tranh cho Việt nam. Nhà nước sẽ lấy số tiền đó về, xây cho mỗi nhà một căn hộ hai, ba tầng, cấp cho mỗi hộ một chiếc ô tô, ti vi, tủ lạnh đủ hết. Việc gì mà phải xây với sửa cho tốn công, tốn của. Từ nay tôi cấm bà không được nói đến chuyện đó. Nói xong ông bỏ đi ra ngoài.

 Tối đó, cơm nước xong, bà Hà đưa cho ông Tiền lá đơn. Trong đơn, bà khẩn khoản cầu xin quí tòa cho bà được li dị ông, với lí do, ăn ở với nhau không hợp. Ông Tiền trừng mắt nhìn bà một lát rồi lại bỏ đi.

Sau mấy lần hòa giải không thành, bà Hà cùng con gái ôm mớ giẻ rách của mình, về tá túc tạm bên nhà cháu ngoại. Ông Tiền vẫn làm chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng của xã. Và cũng kể từ đó, ông Tiền sống trong cảnh cơm niêu, nước lọ.

Đi về một mình, ăn một mình, ngủ một mình, nhiều khi ông cũng cảm thấy bùi ngùi. Nhưng những lúc như vậy, ông lại đem, ý thức tổ chức, tính đảng, tính giai cấp ra để đối chiếu, để soi rọi. Ông cho rằng mọi suy nghĩ và việc làm của ông đều đúng, chẳng có điều gì phải ân hận. Bởi ông nghĩ, đã là một công dân sống trong một nước Xã hội chủ nghĩa, thì phải có ý thức xây dựng, phải biết sống vì mọi người, phải biết hi sinh cái riêng để xây đắp cho cái chung. Mình là cán bộ đảng viên thì phải lo trước thiên hạ và hưởng sau thiên hạ, như lời Bác Hồ dạy mới đúng. Chưa chi đã đòi hỏi hưởng thụ thì chỉ có vứt, vứt. Ông cho rằng, những suy nghĩ của bà Hà là những suy nghĩ của kẻ tiểu nông, thiển cận, vụn vặt, cá nhân chủ nghĩa, cần phải lên án, cần phải loại bỏ.

 Nhưng thực ra thì ông Tiền đã dùng những suy nghĩ ấy, để lấp liếm, để che đậy, cho nỗi sợ bên trong của ông. Nếu ông rút một nửa, hay một phần ba số tiền gửi của gia đình mình ra, để làm nhà, để tậu xe cho con, thì ông sẽ mất đứt cái vị trí số một của huyện, mà hơn chục năm qua ông vẫn nắm giữ. Ông đã xây dựng quyết tâm và bằng mọi giá, không thể để cho bất cứ một cá nhân nào, một hợp tác xã tín dụng nào trong huyện, được phép cưỡi lên đầu, lên cổ ông. Ông tận tâm, tận lực với công việc, chính là ở chỗ đó.

                                                                    ***

Mới bốn rưỡi sáng, khi ông Tiền và nhiều người còn chưa tỉnh giấc. Tiếng loa phát thanh ở đầu ngõ vang lên, giọng nam nữ đan xen: Âm thanh mới ngân vang/Trong dòng tên tổ quốc/Đang chuyển rung tiếng vang/Non sông yêu dấu của ta ngàn đời vinh quang/ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam/ Chặng đường mới thênh thang/Niềm vui trong ánh mắt hân hoan/ Em có nghe chăng âm thanh ngày mới/ Vững bước ta đi trên con đường mới………Và sau bài hát đó là bản tin đặc biệt về việc đổi tiền, để thống nhất tiền tệ trong cả nước. Từ người già đến trẻ em, không ai bảo ai, đều chạy ra cột đài rồi giỏng tai lên nghe. Không khí lúc này lặng im như tờ, chỉ còn có giọng đọc của cô phát thanh viên. Khi cô đọc đến đoạn tỉ lệ và hạn mức qui đổi, thì trong đám đông mới bắt đầu có tiếng xì xào:

- Mười đồng ăn một. Thế này thì bằng cướp không rồi còn gì?

Ông Tiền đứng cạnh cụ già vừa nói. Ông trừng mắt quát lớn:

- Phản động, phản động! Dân quân đâu! Khóa mồm, gô cổ lại. Ngừng một lát, ông nói tiếp:  

- Phàm việc gì hệ trọng, Đảng và Nhà nước phải tính toán hết sức kĩ lưỡng, cặn kẽ, chi li, đâu ra đó chứ? Ai lại để các ông, các bà phải chõ mũi vào hả?

Nghe ông Tiền nói mọi người lẳng lặng tản ra. Đi một đoạn khá xa họ lại túm năm, tụm ba bàn tán. Khi đã vỡ nhẽ, người nọ, người kia, ba chân, bốn cẳng, chạy như chạy loạn. Về đến nhà, họ gọi vợ, giục con, mau mau đem tiền ra đổi kẻo hết hạn.

Ông Tiền cũng trở về nhà, ông lấy quyển sổ tiết kiệm rồi mở ra xem. Con số 1700 đồng đập vào mắt ông, nếu tính theo giá trị qui đổi, thì nay chỉ còn là 170 đồng. Ôi! Sao nhà nước lại tính toán vô lí thế nhỉ?

Cầm cuốn sổ tiết kiệm, ông Tiền chạy như bay đến điểm đổi tiền của thôn. May thay, ông Tiền gặp ngay được đồng chí Dương Qui, Phó chủ tịch huyện Đồng Vị đang từ trên xe bước xuống. 

Nghe Phó chủ tịch Dương Qui giải thích, ông Tiền liền quay về. Vừa đi, ông vừa nghĩ “Ồi dào! Dễ người dễ ta, khó người khó ta.” Chuyện của cả nước, chuyện riêng của mình đâu mà để tâm. Với lại: “Nước nổi sợ chi bèo chẳng nổi.” Rút cục thì đâu sẽ có đó, thịt chó phải có mắm tôm.

                                                             ***

Mấy năm sau cuộc đổi tiền, ông Tiền và hợp tác xã tín dụng xã Cò Lài vẫn dẫn đầu toàn huyện về số dư tiền gửi. Ông được trên cho đi báo cáo điển hình ở nhiều nơi, sau đó huyện đề nghị ông làm hồ sơ, về thành tích và công lao đóng góp của ông, để Nhà nước xét duyệt, phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho ông. Từ dạo đó, ông cứ hí hửng, đi đâu ông cũng khoe khắp làng trên, xóm dưới.

Nhưng thật trớ trêu, khi cấp trên xét duyệt hồ sơ của ông Tiền, họ loại ngay ở vòng đầu với lí do: Để cho vợ con phải sống lang bạt, thiếu cơm ăn, áo mặc hàng ngày, Lí do thứ hai nghiêm trọng hơn là, số dư tiền gửi đang trên đà sụt giảm, những trường hợp nợ xấu lại đang trên đà tăng. Nguy cơ vỡ tín dụng đang là hiện hữu.

Và cũng chính trong thời điểm ấy, lạm phát cứ liên tục tăng cao, với tốc độ phi mã. Trong một tháng, lãi suất tiền gửi đã tăng, từ 22% lên 28% năm, mà vẫn không có người gửi. Để khống chế nạn lạm phát, Nhà nược lại tổ chức đổi tiền. Cuộc đổi tiền lần thứ hai vẫn theo tỉ lệ và hệ số qui đổi là mười ăn một. 170 đồng trong sổ tiết kiệm của ông Tiền, giờ chỉ còn là 17 đồng. Số tiền này không mua đủ bát phở, nó chỉ đủ để mua được bó nhang với vài thếp tiền âm phủ.

Như một kẻ điên, ông Tiền vơ hết bằng giấy khen rồi nhét vào một xó. Ông đưa mắt nhìn lên nóc nhà, những đám rui mè mục nát cùng những con sâu rạ to bằng ngón chân cái đang ngọ nguậy chỉ trực rơi xuống mặt ông. Ông cúi xuống nhìn vào chiếc xắc cốt, bỗng dưng, ông cảm thấy ghê sợ nó đến mức nghẹt thở. Ông cho rằng, chính nó đã làm cho ông tan cửa, nát nhà, nó làm cho thằng con trai ông, phải bỏ mạng nơi xứ người. Nó làm cho bản thân ông điêu đứng và bị dồn đến bước đường cùng.  Ôi xắc cốt, xắc cốt! Tao căm thù mày! 

  Giá như có vợ con ở nhà, thì ông Tiền sẽ trút hết mọi bực tức lên đầu họ. Nhưng bây giờ chỉ có ông với chiếc xắc cốt trên người, ông chẳng trút giận cho nó thì trút giận cho ai? Ông sử sự với một vật vô tri, vô giác như vậy liệu có phũ phàng quá không? Bởi từ ngày được cấp trên tặng thưởng, ông với nó cứ như hình với bóng. Ông cảm thấy rất vinh dự và tự hào mỗi khi đeo chiếc xắc cốt dó lên người. Ông yêu quí nó như yêu quí chính bản thân mình, lúc ngủ ông cũng cho nó nằm bên cạnh. Ông không cho bất cứ ai được đụng chạm vào nó, bởi bên trong ruột của nó, chứa đựng toàn bộ, những đường lối, chủ trương, chính sách và những chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Đó là những thứ hết sức quan trọng, có liên quan trực tiếp đến cuộc sống, vận mệnh, cùng tính mạng con người.

Chiếc xắc cốt đó đã cùng ông đi khắp mọi nẻo đưởng, để tuyên truyền, vận động, để giác ngộ quần chúng nhân dân. Nó đã cùng ông chịu bao cảnh, cay đắng, cơ cực, tủi hổ, nó cũng đã cùng ông chia ngọt sẻ bùi, Cớ sao ông lại trở mặt với nó một cách phũ phàng như vậy? Ông chuyển bạn thành thù, ông cạn tàu ráo máng với nó một cách nhanh chóng đến vậy? Hay ông dùng cách đó để trả thù cho những tháng năm, mà ông đã bị nó dắt mũi.

 Ông ôm mặt khóc nức nở, ông nghĩ về người vợ và những đứa con. Chỉ vì khắt khe, nguyên tắc, và tự đề cao mình một cách thái quá, mà vợ con ông phải bỏ nhà ra đi. Đứa con gái út năm nay đã hăm sáu tuổi mà vẫn chưa lập được gia thất. Và cũng chỉ vì nắm ngô rang mà thằng Tuyến con trai ông phải bỏ mạng nơi đất khách, quê người. Nghĩ tới đây, ruột gan ông đau thắt, ông khóc rống lên, ông cho rằng chỉ vì chiếc xắc cốt, nên ông mới ra nông nỗi này.

 - Xắc cốt ơi, xắc cốt ơi, mọi nguyên nhân, tội lỗi đều nằm trong bụng mày. Ông gào lên thật to rồi lăng mạnh, những tờ giấy bên trong xắc cốt bật ra bay tứ tung. Ông cười sằng sặc như một kẻ điên. Lúc sau, ông Tiền ngửa mặt lên trời rồi than rằng:

- Ới trời cao, đất dày ơi! Trên hành tinh này, liệu có còn ai ngu hơn tôi không?

Nhạt nhòa trong nước mắt, ông Tiền thẫn thờ bước chân lên chiếc ghế, ông tra dầu vào cái thòng lọng. Và sau đó, là một tiếng động nhỏ.

                                                                       N.Đ.V

 

 

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 31
Trong ngày: 654
Trong tuần: 3469
Lượt truy cập: 1236584
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông