Thu Hiền – Phan Anh
HOA LƯ – MIỀN TRẦM TÍCH TRẮNG
Rời thành phố Ninh Bình, tôi về thăm Hoa Lư động giữa mùa lúa chín vàng, khi những ngọn núi bắt đầu phơi mình trong ánh bình minh tuyệt đẹp. Nhìn từ xa, những ngọn núi xanh biếc của miền đất cố đô hiện ra uốn lượn trong dáng thiên long án ngữ vô cùng sinh động. Hàng trăm đỉnh núi trập trùng, nhấp nhô như được bày trên những thảm lúa óng ả, đan xen cùng mặt nước lấp lánh nắng sớm buông xuống các dòng sông, lòng hồ, đầm ao mênh mang, khiến cho cảnh vật của một vùng non nước động xưa hiện ra lung linh tựa như cảnh tiên nơi thiên giới rơi xuống trần gian. Càng đến gần Thung Lau, con đường độc đạo càng tĩnh lặng và lối vào ấy bỗng trở nên hun hút giữa bốn bề núi cao vách đứng, làm cho ai nấy không khỏi giật mình tưởng như đi lạc vào một thạch trận hiểm yếu bởi thiên la địa võng núi non giăng mắc, bao bọc bốn bề. Cứ thế, địa hình nơi căn cứ chỉ huy của Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa và bây giờ hiện lên dường như chẳng có sự thay đổi nào, vẫn nằm lọt thỏm giữa ngút ngàn non xanh, khiến tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn nơi vang bóng một thời mà trong lòng không khỏi thán phục con mắt tinh đời của vị thủ lĩnh cờ lau. Hơn một ngàn năm đã đi qua, những vách núi từng làm thành một pháo đài bất bại vẫn còn đó với những bức trường thành đồ sộ, vững chãi, uy nghi. Giờ đây, dải đất nơi khe núi nhỏ hẹp ấy tuy không còn đóng vai trò thủ hiểm của một quân thành “lui có thể thủ, tiến có thể công”, nhưng đã trở thành một miền di sản tâm linh lấp lánh những huyền thoại và lắng đọng những trầm tích lịch sử hào hùng một thời của đất nước.
Bước qua bức tường thành bằng đá tự nhiên ấy để vào trong lòng động, tôi chợt bừng tỉnh và nhận ra linh hồn thực sự của vùng đất này. Ngược dòng lịch sử, cách đây hơn một ngàn năm, thung lũng nhỏ hẹp ở miền cố đô chính là một rừng cỏ lau. Cây lau mọc từ thuở ấy, thậm chí có trước đó hàng ngàn năm, nối đời nhau cho đến tận ngày nay. Bởi thế, đến Hoa Lư, nhất là vào mỗi mùa hoa lau, người ta không khỏi ngỡ ngàng, tưởng như mình đang đi lạc giữa xứ sở cổ tích nào đó. Thực ra, nói chính xác, cây lau có mặt ở khắp mọi nơi, trên những triền đồi vách núi, bên các lề đường quanh co của miền sơn cước hoang vu, nơi bãi sông bờ suối… ngoại trừ trong các hoa viên. Nhưng ở những chỗ ấy, lau chỉ mọc thành từng chòm, từng bụi chứ không rậm rạp thành rừng, miên man như ở nơi này. Đến với Hoa Lư động, hẳn mọi người không khỏi ngạc nhiên, khi thấy ở những nơi khác, hoa lau phải chịu nép vế so với nhiều loài hoa mỹ miều, phải sống chung cảnh tủi phận với các loài hoa cỏ tầm thường; còn tại “vương quốc” cố đô này, cây lau “là riêng”, “là thứ nhất”. Ở đây, nó là loài cây bất tử, phồn sinh trên mặt đất. Thứ lau ấy mọc tràn khắp thung lũng và bám lên vách núi cheo leo. Hoa lau ấy không chỉ thơ mộng khiến cho người đến phải nao lòng, mà còn rất kiêu hãnh, tự tin bởi từng có một thời được chọn làm ngọn “quốc kỳ” của vị thủ lĩnh mục đồng. Mỗi khi cuối thu hay trời chớm sang đông, bạt ngàn lau nở những chòm hoa trắng muốt, khiến cho cả một vùng hiện lên vô cùng sống động. Mênh mang trong gió phất phơ, ngàn hoa tuyết trắng thi nhau khoe sắc, nhìn rất duyên dáng. Cảnh sắc ấy như đưa đất trời cố đô vào một cõi mộng mị, vừa lung linh vừa huyền ảo. Cả miền núi non cứ thế hiện ra trong một màu bàng bạc tựa như đang chìm giữa một biển khói sương hư hư thực thực. Phải nói rằng, giống lau này rất kiên cường. Nó trải qua bao mùa mưa bão, vượt qua bao nắng gió khô cằn, chẳng cần một chút chăm sóc của bàn tay con người, vậy mà vẫn không ngừng sinh sôi, phát triển. Tôi đã từng đi qua không ít miền cỏ lau, từ nơi biên giới Việt - Lào cho đến biên giới Việt - Trung, từ bờ bãi sông Chảy, sông Lô cho đến bờ bãi sông Hồng, sông Đà, sông Mã…; nhưng có lẽ, không ở nơi nào cây lau lại nhiều và đẹp như ở động cố đô Ninh Bình. Ngắm nhìn rừng lau với muôn ngàn bông hoa trắng xốp như bông, đang khe khẽ cúi đầu; xào xạc, đu đưa như thể đang dập dìu, tình tứ với chàng gió mùa thu, tôi chợt hiểu vì sao người ta lại gọi động này là Hoa Lư, là Thung Lau. Để rồi trong trí tưởng tượng lại hiện về những buổi chơi trò trận giả của người anh hùng mục đồng thuở xa xưa cùng những khúc hát dân gian vang vọng đến tận bây giờ: “Trần ai, ai biết, ai đâu/ Hoa Lư có đám trẻ trâu anh hùng/ Cờ lau tập trận vẫy vùng/ Làm cho mầm Lạc, chồi Hồng vẻ vang”.

Trên con đường độc đạo tiến vào Thung Lau, tôi cứ nghĩ mình sẽ lại được chiêm ngưỡng các hang động giống như ở Thung Nham, Tam Cốc hay Tràng An, nhưng hoá ra không phải. Miền đất Hoa Lư này gọi là “động” nhưng thực tế cả thung lũng ấy chẳng có cái hang hay cái động nào cả. Hoá ra khái niệm “động” ở đây chỉ là tên gọi của một đơn vị hành chính cấp cơ sở ở các vùng miền núi thời xưa còn lưu lại. Theo con đường quanh co đi vào thung lũng, từ trên quèn đá cao nhìn xuống, ta sẽ thấy động cỏ lau chỉ là một dải đất hẹp, bằng phẳng, khép kín giống như một hình gần tròn, nằm lọt giữa bốn bề núi đá vôi. Để vào được trong lòng thung lũng cỏ lau ấy, tôi phải vượt qua một quèn đá duy nhất, cao chừng hơn ba mươi mét, với khoảng gần hai trăm bốn mươi bậc đá, được thiết kế uốn lượn chín khúc giống như một thân rồng. Có lẽ con đường ấy cũng như muốn ngụ ý cho việc thể hiện quan niệm về uy quyền tối cao của bậc đế vương. Nghe nói, thung lũng cỏ lau này rộng chừng mười sáu mẫu; phía bên ngoài động được bao bọc bởi một đầm nước tự nhiên (đầm Cút), dài khoảng ba nghìn mét, rộng chừng năm trăm mét. Với sự sắp đặt vô tình của tạo hoá ấy, đầm nước đã trở thành một con hào tự nhiên che chắn, phòng thủ cho quân thành của vị thủ lĩnh cờ lau một thuở. Quân thành ấy chính là nơi cách đây hơn một ngàn năm, Đinh Bộ Lĩnh cùng các bạn mục đồng từng thả trâu và chơi trò “cờ lau trận giả”. Nó chính là căn cứ ban đầu, nơi tụ nghĩa và cũng là bệ phóng chiến lược của nghĩa quân Hoa Lư. Cũng tại nơi này, Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập nhà Hậu Ngô đã kéo đến bao vây, tiến đánh ròng rã hơn một tháng trời mà không thể nào thắng được. Và rồi cũng từ thung lũng phát tích ấy, đến năm 966 - 967, thủ lĩnh cờ lau đã dấy binh đi khắp mọi nơi dẹp tan loạn cát cứ mười hai sứ quân để giang sơn thống nhất quy về một mối vào năm 968, mở ra một thời kỳ hoàng kim và khẳng định vị thế của quốc gia Đại Cồ Việt. Những dấu chân lịch sử đi qua đã để lại cho hậu thế một miền di sản lấp lánh. Ở đó, ngút ngàn lau trắng như lững lờ trôi giữa dòng chảy thời gian bất tận, nhưng không quên nhắc nhở chúng ta về một thuở oai hùng, hiển hách của dân tộc - nơi một vương triều thuần Việt đã tự cường đứng vững trước những thế lực phương Bắc tưởng như bất khả chiến bại.
Vượt qua quèn đá, tôi vào Thung Lau. Thẳng theo con đường chính đạo, hiện ra trước mắt tôi là toà Tam quan lợp ngói vảy nằm trên gò đất giữa thung lũng. Anh bạn đi cùng bảo tôi rằng, phía sau tam quan ấy là ngôi chính điện hình chữ Đinh đặt tượng thờ Đức vua Đinh Tiên Hoàng. Đền xưa chỉ có ba gian, ngôi đền hiện nay được làm năm 2007 trên chính nền nhà của đền xưa - trước đó vốn là dinh lũy của Đinh Bộ Lĩnh. Bước vào Tam quan, tôi bắt gặp một hoành phi gỗ khắc ba chữ “Hoa Lư Động” bằng chữ Hán treo trang trọng ở ngay gian giữa, trên gần mái nhà. Phía dưới bức hoành phi là một đôi câu đối bằng gỗ cũng khắc chữ Hán và mang đậm nét trầm mặc bởi nước thời gian phủ lên đầy cổ kính. Bước qua tam quan, hiện lên trước mắt tôi là bức bình phong bằng đá nguyên khối chạm nổi hình một mãnh hổ hạ sơn. Dáng vẻ thong thả, tự tại của vị chúa sơn lâm như ngầm biểu đạt uy quyền tối cao và sự tôn nghiêm đẳng cấp của đấng quân vương. Phía sau bức bình phong đá là đền chính, nơi thờ vua Đinh. Ngôi đền được xây trần bằng gạch - không trát tường, với năm gian lợp ngói vảy trên mái, ba gian giữa lắp cửa gỗ, hai gian bên xây theo kiểu buồng lồi. Trong đền có tượng Đức vua Đinh Tiên Hoàng đầu đội mũ bình thiên, mặc áo long bào, ngồi uy nghi trên hương án. Nhìn ngôi đền, tôi cảm nhận được một dáng vẻ vừa bề thế, vững chãi, vừa mang nét cổ kính, thâm nghiêm và đồng điệu với bao không gian thờ tự khác trên miền đất di sản cố đô. Thế nhưng điều ấn tượng nhất với tôi trong không gian thờ tự này là những bình hoa thờ ở trước bức tượng Ngài, ngoài sân, trên lối vào đền. Đó không chỉ là những loài hoa thờ quen thuộc mà ta thường gặp ở các nơi tâm linh. Hoa thờ Đinh Tiên Hoàng ở đây nổi bật nhất là những bông lau. Những bông lau trắng muốt phất phơ trong gió ngoài cửa đền kia được nhân dân mang vào dâng Người như thể muốn tưởng nhớ đến một thời “tuổi thơ dữ dội” của Đinh Bộ Lĩnh cùng với biết bao huyền thoại của ông trên những cánh đồng hoa lau, trong những buổi chơi trò trận giả. Tôi ngắm nhìn bức tượng Hoàng đế bên những bình hoa trắng xoá, cúi đầu uốn cong mềm mại trong thoang thoảng trầm hương dìu dịu, nhè nhẹ bay lên; bất giác như cảm thấy vọng về trong miền tâm tưởng hình ảnh của lũ trẻ mục đồng năm xưa. Chúng đang công kênh vị thủ lĩnh áo nâu trên vai và những cánh tay đang vung cao những cành lau trắng giữa muôn ngàn tiếng hò reo chiến thắng vang dội cả núi rừng thung sâu.
Đến với miền đất di sản Ninh Bình, ấn tượng trong tôi không chỉ có ngàn lau trắng mà còn là địa thế hiểm trở nhưng hữu tình của một miền non xanh nước biếc với rất nhiều thung lũng được bao bọc bởi sơn hệ đá vôi hình cánh cung rất độc đáo: Thung Lau, Thung Lá, Thung Nham, Thung Ui, Thung Nắng … Và dường như, các thung lũng này ít nhiều đều gắn với cuộc đời và sự nghiệp oai hùng của Đinh Tiên Hoàng đế. Ngay cạnh Thung Lau là Thung Lá. Người ta bảo rằng, ở trong thung lũng này có đền thờ rất linh thiêng của Vương Bà và Đinh Triều Quốc Mẫu Đàm Thị. Đương thời, Vương Bà là người rất giỏi bói lá. Mỗi lần xuất quân hay làm một việc quan trọng, Đinh Bộ Lĩnh thường thân chinh vào trong thung nhờ Vương Bà xem quẻ rồi mới quyết định tiến hành. Nhiều người cũng hay kể, trong hẻm núi này, vị thủ lĩnh cờ lau từng giấu một đội quân đặc biệt tinh nhuệ để bảo vệ kinh thành và tham gia chiến đấu mỗi khi cần thiết. Và ẩn sâu giữa lòng thung lũng còn có rất nhiều cây thuốc quý. Nghe nói, quân sĩ của nhà vua mỗi khi giao chiến bị thương thường được đưa về đây để chạy chữa. Có lẽ vì thế mà dân gian gọi nơi này là Thung Lá. Song hành cùng các huyền thoại về vua Đinh trên đất Hoa Lư, bên cạnh thung lũng cỏ lau gắn với tuổi thơ và cũng là căn cứ ban đầu của những cuộc dấy binh dẹp loạn, người ta còn hay nhắc tới Thung Ui, với vai trò là một thung lũng tâm linh đặc biệt quan trọng đối với nhà Đinh trong công cuộc bình định thiên hạ. Bởi vậy, từ Thung Lau, tôi lại ghé sang thăm Thung Ui. Hình như, chưa muốn rời khỏi chốn ngàn lau nên chân bước đi rồi mà tâm trí còn muốn níu lại với rừng hoa trắng. Tiếp tục trên quãng đường di chuyển, khoảng hơn hai chục cây số, ngắm nhìn cảnh vật, tôi lại thả hồn ngược dòng thời gian và nhận ra cái thế chiến lược đắc địa của miền đất này, nhất là đối với những nhà nước còn non trẻ của Đinh Bộ Lĩnh, khi vừa thoát khỏi ách đô hộ của người hàng xóm phương Bắc - kẻ chưa bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính nước Nam. Cứ thế, nhìn cảnh núi non, sông nước mênh mang ở miền đất cố đô tôi lại miên man tưởng tượng về cuộc sống của hơn một ngàn năm trước. Có lẽ, ngắm nhìn hình sông dáng núi như vậy mà không ít người nghĩ rằng vùng đất cố đô của Ninh Bình là một nơi hẻo lánh, thâm sơn cùng cốc. Điều ấy hàng ngàn năm trước có thể không sai nhưng hẳn sẽ không phải là tất cả. Ít ra, Kinh thành Hoa Lư cũng từng có một thời kỳ tráng lệ, nhộn nhịp không kém gì kinh đô Tràng An bên Trung Hoa, chẳng thế mà trong đền thờ vua Đinh ở Trường Yên còn trang trọng lưu dấu đôi câu đối của danh sĩ Vũ Phạm Khải: “Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo/ Hoa Lư đô thị Hán Tràng An”. Trong miền tâm tưởng ấy, tôi nhớ lại những ghi chép trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của cụ Phan Huy Chú: gần động Hoa Lư có một con đường cổ để ra Bắc vào Nam. Cách động một quãng ngắn có sông Bôi từ Hoà Bình đổ về, có thể ngược dòng lên mạn Tây Bắc. Ở gần Thung Lau, có sông Hoàng Long. Từ sông này có thể theo sông Đáy xuôi ra biển Đông hoặc vào sông Hồng để lên thành Đại La. Có thể thấy, với địa thế ấy, khi triều đình chưa đủ tự tin cả về thế và lực thì đây sẽ là một mật khu trú ẩn vô cùng an toàn. Miền đất Hoa Lư này có thể vừa thủ vừa tiến để xây dựng lực lượng và bảo vệ quốc gia ở thời kỳ non trẻ. Càng đi tôi càng thấy non nước miền cố đô thật đẹp. Đúng là một miền núi đá kỳ tú. Phải nói rằng, đến vãng cảnh non nước cố đô, tôi có cảm giác mình như đang lạc vào một miền “Hạ Long không sóng”. Những dãy núi đá vôi miền nhiệt đới đi qua thời gian hàng triệu năm, dưới sự bào mòn của nước mà làm nên những kỳ quan khiến người xem không khỏi nao lòng. Núi che chắn cho nước. Nước ôm núi vào lòng. Nước núi quấn quýt vui đùa, song hành bên nhau, nhìn thật hữu tình. Chẳng những thế, đôi khi nước còn tinh nghịch xuyên qua lòng núi làm thành những con sông ngầm và tạo ra các hang động vô cùng kỳ ảo. Đặc biệt nước còn kiên nhẫn bào mòn, gọt đẽo, trang trí vào lòng núi biết bao tác phẩm nhũ đá tuyệt mỹ, khiến cho người đời thoả sức tưởng tượng với những hình ảnh sống động: hạc múa, cá lượn, rùa bơi hay bóng dáng của tiên ông câu cá, hòn vọng phu ngóng chồng, thiếu nữ nằm ngủ, bàn cờ tiên… Nhưng dường như cảnh đẹp cố đô nếu chỉ có vậy thì e vẫn chưa đủ. Một ngày trên đất Hoa Lư, ngắm nhìn cảnh vật từ lúc bình minh ló rạng cho đến khi mặt trời đứng bóng hay bóng chiều tà gác núi, hắt ánh tà dương lên các sườn non, quyện vào những làn sương thu mong manh rải trên những đồng lúa chín, ta sẽ cảm thấy thích thú và mãn nhãn trước cảnh đẹp thần tiên của tạo hoá dành cho nơi này để rồi thêm thấu hiểu câu thơ tuyệt tác của Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”.
Không giống như pháo đài Thung Lau - bệ phóng quân sự hiểm yếu của Đinh Bộ Lĩnh, Thung Ui là nơi lắng đọng linh khí và tâm linh của vùng non nước Hoa Lư. Địa hình của thế đất tụ thuỷ, tụ khí nơi đây cũng nằm khép kín giữa những vách núi đá vôi sừng sững trông giống như Hoa Lư động. Nhưng cảnh sắc mộc mạc của thung lũng nơi Đinh Bộ Lĩnh từng dựng Đàn Kính Thiên tế cáo trời đất, xưng đế và khai sinh ra Nhà nước Đại Cồ Việt trước đây nay đã thay đổi rất nhanh. Nhiều công trình kiến trúc mới mọc lên làm thay đổi sắc diện cả một vùng trời đất cố đô. Từ thung lũng Mộc Hoàn hoang sơ, yên tĩnh giữa núi rừng thuở trước, Thung Ui giờ đây lột xác trở thành một khu du lịch sinh thái tâm linh hoành tráng và uy nghi. Thong thả dạo bước từ ngoài vào trong, tôi chợt nhận ra mình đang đi xuyên qua ba lớp đại môn: Đài Kính Địa, Đài Kính Nhân, Đài Kính Thiên; được thiết kế theo lối dưới là cổng ra vào, trên là điện thờ thần linh. Cấu trúc đại môn này gợi cho ta nhớ đến triết lý Tam Tài của tiền nhân với khát vọng tương thông giữa ba tầng vũ trụ: mặt đất, con người, bầu trời. Ở điện thờ thứ nhất, trên cổng Địa môn, ban thờ tôn vinh các vị sơn thần và những con người tiền sử. Phía trên Điện Kính Địa có bức đại tự với bốn chữ “Vạn Cổ Anh Linh”. Phải chăng công trình này là tiếng nói đầu tiên của chủ nhân công trình muốn tri ân các bậc tổ tiên; bởi chính tại thung lũng này, các nhà khảo cổ đã từng tìm thấy dấu tích cư trú của người cổ đại, cách ngày nay từ 13.000 đến 50.000 năm. Sang điện thờ thứ hai, trên cổng Nhân môn, ta sẽ được chiêm ngưỡng một không gian tâm linh thuần Việt. Trong điện đặt tượng thờ các nhân vật lịch sử của các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần - những vĩ nhân tượng trưng cho bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách và tinh thần Việt Nam. Chiêm bái chân dung các vị anh hùng ấy, người ta sẽ ngộ ra vai trò quyết định lịch sử của yếu tố con người, đồng thời cũng thấy được khí phách và sức mạnh của dân tộc trước những làn sóng xâm lăng. Cuối cùng là cổng Thiên môn, nơi đặt điện thờ Ngọc Hoàng và các vị thiên thần. Không gian thờ tự này cũng đã thể hiện đầy đủ, sâu sắc tín ngưỡng thờ trời của người Việt thời xưa. Đài Kính Thiên này là nơi con người hướng lên trời xanh để thuận theo đạo nghĩa và bày tỏ, gửi gắm những mong muốn, khát vọng. Đi qua ba lớp cổng ấy ta sẽ đến với trái tim của Thung Ui - Đàn Kính Thiên. Tương truyền, nơi này, trước khi xuất quân dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh đã đến đây yết cáo trời đất, cầu cho vận nước hanh thông, thiên hạ quy về một mối. Rồi đến năm 968, sau khi thống nhất giang sơn, Người lại đến đây lập đàn tế cáo, chính thức lên ngôi Hoàng đế, khai sinh ra Nhà nước Đại Cồ Việt, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ dài lâu cho đất nước. Và từ đó về sau, thung lũng Mộc Hoàn đã trở thành nơi các bậc quân vương của các triều Đinh, Lê, Lý thường xuyên lui tới cầu nguyện cho quốc thái dân an. Nhìn từ trên cao, tôi thấy Đàn Kính Thiên hiện lên rất bề thế, kiến trúc theo lối trời tròn đất vuông với bốn lối lên xuống được mở ra theo bốn hướng Đông - Tây - Nam - Bắc; vừa tượng trưng cho cách nhìn về vũ trụ của người Việt xa xưa, vừa lồng ghép tư tưởng Từ - Bi - Hỉ - Xả của nhà Phật. Bên cạnh Đàn tế là Hồ Rồng, rộng chín héc-ta. Lòng hồ và ven hồ được sắp đặt chín mươi chín khối đá, uốn lượn như dáng rồng bay lên từ mặt đất, để thể hiện quyền lực của đấng quân vương cũng như khát vọng sinh sôi, trường tồn của dân tộc. Bởi thế, hồ này được coi là nơi rồng tụ để trấn giữ long mạch. Đứng trên Đàn Kính Thiên nhìn xuống mặt hồ, tôi thấy trong mình như thể đang dấy lên một cảm giác choáng ngợp trước mặt nước trong xanh lăn tăn sóng gợn. Mặt hồ ấy chính là rốn nước, theo quan niệm dân gian là tụ thuỷ, tụ khí, tụ phúc; được xem là thiên mệnh khởi sắc của vùng đất Hoa Lư. Và lồng trong không gian văn hoá tâm linh ấy còn có không gian văn hoá Mường, tộc người bản địa, với những ngôi nhà sàn truyền thống cùng những chiếc trống đồng và các hiện vật về đời sống của tộc Mường xa xưa trên đất cố đô. Đắm mình trong không gian văn hoá ấy, tôi đã nhận ra và hiểu hơn về những chủ nhân của miền đất này. Có lẽ, bằng không gian văn hoá này, người kiến tạo khu du lịch muốn thể hiện một cách tưởng nhớ Vua Đinh, người anh hùng của xứ Mường, người Mường gắn liền với những huyền thoại lung linh trên đất Hoa Lư từ hơn một ngàn năm trước.
Dạo chơi non nước cố đô Hoa Lư, tôi nhận ra rằng, trời đã phú cho đất này không những địa thế hiểm yếu mà còn có cảnh đẹp của sông núi thần tiên. Hoà mình vào trời mây non nước ấy, tôi lại thấy, Hoa Lư vừa song hành cùng dòng chảy của lịch sử dựng nước và giữ nước vừa lưu giữ trong mình biết bao dấu tích hào hùng của cha ông thuở xa xưa. Bởi thế, ẩn sâu trong những danh thắng núi sông kia còn có cả những lớp trầm tích của lịch sử oai hùng lắng đọng. Cho nên mỗi lần đến với Hoa Lư là một lần người ta ngược dòng thời gian, trở về với ngàn năm dâu bể để có thể chạm đến linh hồn của những bông hoa trắng muốt. Bất luận loài hoa ấy có phải chịu “phận hoa bên lề” ở đâu đó nhưng chắc chắn trên mảnh đất lắng đọng hồn sông núi ngàn năm này những bông cỏ lau ấy vẫn mãi vinh quang và bất tử cùng dáng hình xứ sở. Hình như, đến nay chưa có loài hoa nào được tôn vinh thành ngọn “quốc kỳ” như cỏ lau. Chỉ cần vậy thôi, tôi nghĩ rằng, phận cỏ ấy sẽ mãi trường tồn cùng thời gian. Loài hoa ấy sẽ không chỉ hiện hữu trong huyền thoại mà còn bất tử trong tâm thức của mọi người dân đất Việt, để mỗi lần đến với miền đất cố đô, lòng ta không khỏi bâng khuâng trước sắc trắng ngút ngàn của một thuở cờ lau vang bóng, dệt nên linh hồn của miền đất Vua Đinh.
T.H – P.A