Trần Thị Trâm
Khát vọng và Bến quê của Nguyễn Thiện là những vần thơ được cất lên từ trái tim người lính. Đậm đà chất lính lại thấm đẫm chất trữ tình, thơ ông đã góp phần hoàn thiện bức chân dung tâm hồn anh bộ đội Cụ Hồ - hình tượng trung tâm của nền văn học nước nhà nhiều thế kỷ qua.
Có thể nói, xuyên suốt trong thơ Nguyễn Thiện là hình tượng người chiến sĩ với tinh thần yêu nước nồng nàn, trung thành với lý tưởng, với Tổ quốc, nhân dân; dũng cảm dám vượt qua mọi khó khăn gian khổ, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua nhưng đồng thời cũng là những con người có trái tim nhân hậu, ấm áp, có tấm lòng thủy chung son sắt: “ Nếu ngày mai biển kia có cạn/ Thì tình anh vẫn mãi đong đầy” (Tình người lính biển).
Là người trở về sau năm tháng chiến tranh, thơ của đại tá - chính trị viên Nguyễn Thiện dĩ nhiên là tiếng nói của những người trong cuộc: “Thế hệ chúng tôi trùng trùng đội ngũ/Lớp lớp lên đường không quản hy sinh”(Ngày ấy chúng tôi đi). Đó là những con người đã được thử thách, tôi rèn trong muôn vàn gian khó nên dám bình tĩnh đối diện với phong ba bão táp cuộc đời: “Có khi khóc khi cười/ Có khi vinh khi nhục/Nhưng quyết không lùi bước/Trước vạn điều khó khăn” (Nói cùng em). Là gương mặt đại diện cho vẻ đẹp, cốt cách, bản lĩnh của dân tộc, người lính luôn kiên định với lý tưởng cách mạng: ”Có những thứ trên đời /Nhiều tiền là mua được/Riêng tình yêu đất nước/ Không thể nào bán mua” (Tình người trong cơn bão) “Người lính Cụ Hồ trái tim rực lửa/ Luôn trung thành giữ tấm lòng son/Vì Đảng, vì dân… Sẵn sàng phục vụ” (Trọn một niềm tin); “Bốn lăm năm một chặng đường/Dãi dầu mưa gió tóc pha sương/ Một lòng một dạ đi theo Đảng/ Bom đạn xông pha mấy chiến trường (Bốn lăm năm một chặng đường)…
Lý tưởng ấy đã giúp các anh vượt qua những nghĩ suy bé nhỏ, luôn sáng suốt để chọn cho mình một lối sống đẹp - tích cực và lạc quan: ”Quá nửa đời lính tráng/ Quen khói lửa thao trường/ Có lúc cũng vấn vương/Một đôi lời hơn thiệt/ Khi chúng ta nhận biết / Chân lý sống ở đời/ Bình minh tỏa muôn nơi/ trái đất tròn …/ nhân hậu” (Nhân hậu). Do giàu trải nghiệm, họ luôn có khả năng nhận ra những chân giá trị: “Tiền tài có nghĩa gì đâu/Nghĩa nhân kia mới bền lâu với đời” (Nhớ lắm người ơi); đồng thời trong trái tim lại ăm ắp tình yêu sự sống, tình yêu con người, yêu cha mẹ, quê hương xứ sở và luôn biết trân trọng, nâng niu từng phút giây hạnh phúc: Tôi yêu những con đường/Yêu máu xương bao người đã ngã/Yêu những gì hôm nay ta có” (Yêu sao những con đường): “Thương hạt lúa củ khoai/ Mẹ chắt chiu từng bữa/ Thương lắm những đốm lửa/ Sưởi cả nhà đêm đông/ Thương cha trên cánh đồng/ Nghiêng trời che mưa nắng” (Mơ một ngày); Tôi yêu quê hương tôi/Yêu tuổi thơ nắng gió/Suốt đời tôi mắc nợ / Với quê rồi…quê ơi (Nợ quê); “Hạnh phúc hôm nay thủy chung người vợ/ Gánh vác cùng anh…suốt cuộc đời này (Cảm ơn vợ).
Và nếu thơ là tiếng nói tình cảm thì với tác giả, sâu nặng nhất, thiêng liêng nhất, thủy chung nhất là tình đồng đội: “Sống có trước có sau/ Quên tiền tài địa vị/ Tình đồng đội đồng chí/ Như anh em một nhà” (Đồng đội). Mãi sống chết có nhau, dù không còn lành lặn “Có người thiếu tay có người chống nạng/Thân thể còn găm vết thương mảnh đạn/ Trái gió trở giời vật vã cơn đau (Sau những nụ cười), các cựu chiến binh năm xưa vẫn gắng sức đến thăm những người bạn nằm lại chiến trường”: Xin đừng giận tao mày nhé/Lâu rồi tao mới về thăm/ Chiến hào đạn bom ngày ấy/Nén nhang thắp chỗ mày nằm (Một nén nhang lòng); vẫn cùng anh em tìm mọi cách để đưa hài cốt đồng đội về với quê mẹ”: Mấy thằng tao đến đón mày về/Bước thấp bước cao xin mày đừng giận/ Như cái đêm chúng mình xung trận/ Đá tai mèo, bước thấp bước cao (Về với Mẹ). Hơn ai hết, các anh còn thấu cảm tận cùng nỗi đau, sự hy sinh thầm lặng của những người vợ, người mẹ đằng đẵng chờ chồng, chờ con trong vô vọng: Mẹ giờ như vầng trăng khuy/Chong đèn bao đêm không ngủ/Mẹ ngồi nhắc tên từng đứa/Bát cơm gạo mới mẹ phần…Trái tim một đời vắt kiệt/ Chờ anh… Thân mẹ…Héo mòn (Trái tim của mẹ).
Giờ đây, khi chiến tranh đã lùi xa, với niềm tự hào và tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân: “Tự hào người cựu chiến binh/ Đã đi qua cuộc trường chinh cứu nước/Lấp lánh tấm huy chương trên ngực/ Ngôi sao Tổ quốc sáng ngời (Tự hào là cựu chiến binh Việt Nam), mang trong trái tim hoài bão lớn lao: “Ta như dòng sông/ Chở đầy khát vọng/ Ta như con sóng/Đêm đêm vỗ bờ/ Ta như câu thơ /Chở theo nốt nhạc/Vượt bao ghềnh thác/ Điểm tô cho đời” (Hạt mưa rơi), những chiến sĩ quả cảm năm xưa lại cùng nhau quyết tâm xây dựng đất nước đẹp giàu, vì hạnh phúc của nhân dân, hộ lại tiếp tục đứng ở mũi nhọn của cuộc sống, tiếp tục hát những khúc quân hành:
“Những người lính Cụ Hồ/ Đi về nơi mắt bão…Trái tim luôn khát khao/ Vì Nhân dân phục vụ“ (Đi về nơi mắt bão); Vinh dự tự hào từ dân mà ra/ Không quản hy sinh, một lòng phục vụ/Trước cuồng phong, mưa nguồn thác lũ/ Xin được xả thân… cho Tổ quốc… đồng bào (Lính thời bình); ”Ta ước là ngọn lửa/Rực cháy giữa trời quê/ Ta ước là con đê/ Mùa lũ về chắn sóng (Trái tim khát vọng).
Qua những vần thơ có lửa, đậm chất lính, mộc mạc, giản dị và thấm đượm tinh thần công dân rất cao, Nguyễn Thiện đã tái hiện một cách chân thật và sinh động vẻ đẹp hiện thực mà lãng mạn của người chiến sĩ Việt Nam giữa thời bình.
Thơ của người lính - nghệ sĩ Nguyễn Thiện không chỉ đậm đà chất lính mà còn thấm đẫm chất thơ. Đâu phải vô cớ mà trong thơ ông hình ảnh trái tim nhiều lần xuất hiện: Trái tim không ngủ yên Con tim khóc, Trái tim thơ, Ru trái tim mình, Trái tim khát vọng, Trái tim của mẹ…
Trước hết, chất thơ kết tinh ở những câu thơ đẹp. Là tiếng hát trái tim người nghệ sĩ giàu cảm xúc, thơ Nguyễn Thiện thấm đẫm chất thơ và được kết tinh ở nhiều câu thơ đẹp: “Đời mong manh chiếc lá/ Gầy như tiếng vạc rơi/ Giữa mênh mông biển trời/ Ta hạt sương vô định” (Vô định); “Tiếng hạc gầy vỗ cánh trong đêm/ Vầng trăng khuya hao gầy cửa sổ/ Thu có biết lòng ta nức nở/ Mong một người… biền biệt…nơi xa” (Thu rơi).” Anh đơn côi chiếc lá/ Rơi giữa trời bâng khuâng” (Bâng khuâng); “Ngày mai cánh hạc về trời/ Trắng tay…để lại cho đời… trang thơ” (Gửi lại ); “Mây bồng bềnh dải lụa / Vắt ngang nền trời xanh” (Mùa thu tôi yêu)…
Chất thơ trong thơ Nguyễn Thiện được thể hiện ở quan niệm về thơ, về nhà thơ, nghề thơ và quá trình sáng tạo thi ca. Tiếp cận cuộc sống từ điểm nhìn nghệ thuật, dù biết rằng, nghề thơ vinh ít, khổ nhiều: Khổ mãi chả thấy vinh/ Nghèo lâu dài bền vững (Trái tim thơ) nhưng niềm đam mê cái đẹp đã giúp ông thấy được sứ mệnh cao quý của thi ca: “Thơ là giọt nước mắt/…Gieo mầm xanh hạnh phúc (Hạnh phúc); “Thơ chính là cuộc sống/ Thơ chắp cánh cho ta/ Đến bến bờ hạnh phúc” (Lên sóng) và trách nhiệm xã hội của thi nhân để có được những vần thơ sống mãi với thời gian: “Chắt chiu dòng mật ngọt/ Cho cuộc đời sinh sôi” (Thời gian); “Và nếu một ngày kia/ Khi trở về với đất/Thân xác ta tan hết/ Những câu thơ …mãi còn (Điều không thể mất).
Với tác giả, sáng tạo thơ ca là hành trình kiếm tìm cái đẹp, hành trình đi tìm lại chính mình:“Tôi về tìm lại chính mình/Tìm lại dại khờ ngày đó/ (Tìm lại vầng trăng); “Con lội ngược dòng thời gian/Tìm lại con ngày đó” (Cho con gửi mẹ lời ru); “Ta trở về tìm lại bến sông/Tìm lại dại khờ tuổi thơ ngày ấy”(Bến sông xưa).
Chất thơ thể hiện ở kiểu nhân vật trữ tình. Đâu phải vô tình mà nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Thiện mang đậm cốt cách thi nhân: Yêu thơ ca, nghệ thuật và cái đẹp (Vô tâm), mộng mơ, lãng tử, tài hoa: khi nhàn rỗi biết tận hưởng thú vui ngắm hoa thưởng nguyệt, chén rượu cuộc cờ, ôm cây đàn ngồi hát say mê: “Ta tự thưởng cho ta/ Ngồi ngắm hoa thưởng nguyệt” (Tự tại); “Chiều nay trong quán vắng/ Uống đời đời uống ta (Màu thời gian ); “Hoàng hôn chiều chơi vơi/Ôm cây đàn ngồi hát” (Ngày ấy bên nhau). Không chỉ yêu hơn người mà cách cảm, cách nghĩ và ý thích của người thơ mới thật khác người: “Ta thích đi lang thang/ Bình rượu túi thơ như chàng thi sĩ (Vô thường); Đêm ta về gom các vì sao/ Dệt tặng em một đôi chiếu mới (Nhớ biển)… Sẵn trong dòng máu những phẩm chất thi nhân: “Một chút dại khờ, một chút yêu/Một chút mộng mơ, một chút liều (Một chút riêng ta), nhân vật trữ tình của Nguyễn Thiện có được những giây phút thăng hoa – những khoảnh khắc thơ huyền diệu: “Ta muốn níu chút hương bồ Kếp/Vương tóc em gió thoáng bên thềm…Ta muốn gói hanh hao vạt nắng/ Cuối thu vàng ủ ấm trang thơ (Ước vọng) Ước gì ta có cánh/Bay lang thang cùng mây (Tiếng thu).
Chỉ cần mùi hương thoáng nhẹ dịu dàng của loài hoa nguyệt quế đã đủ làm người thơ xao xuyến: Để cho ta vừa đủ/ Đêm nhớ ngày trọn thương/Để lòng mãi vấn vương/Tinh khôi…chùm nguyệt quế (Tinh khôi). Nhân vật trữ tình của ông cũng là một kẻ rất nặng tình: “trước khi nhắm mắt/ Vẫn muốn tìm trong ánh sáng hàng hôn/Hình ảnh gia đình, anh em đồng đội (Sao cứ nặng lòng), luôn sống với những hoài niệm, nên trong thơ nỗi nhớ thương giăng mắc khắp nơi. Ngoài: “Nhớ về thời súng khoác trên vai/Chiếc ba lô bạc màu sương gió/Tuổi hai mươi vượt ngàn gian khó/ Đạn bom rơi máu đỏ chiến hào (Viết dưới bóng quân kỳ) là muôn vàn nỗi nhớ: nhớ nhiều nhớ lắm quê ơi/ Nhớ con ngõ chiều in bóng mẹ/ Nhớ cánh đồng một thời thơ bé/ Nhớ ngày xưa/ Theo chân cha trên những luống cày (Khắc khoải). Nhớ: “Bến sông ân tình duyên nợ/Với người con gái năm xưa” (Nghiêng hết về anh). Nhớ thời áo trắng: “Rộn rã tiếng trống trường/ Bâng khuâng chùm phượng đỏ” (Áo trắng sân trường). Nhớ: Lúng liếng mắt ai say/ Làn dân ca Quan Họ (Nhớ một chặng đường)… Và nỗi nhớ thương cũng đã góp phần dệt nên những câu thơ thấm đẫm chất thơ !
Chất thơ biểu hiện ở giọng điệu và nhạc tính của thơ. Như đã phân tích ở trên, thơ Nguyễn Thiện rất đa giọng điệu: khi là tiếng nói công dân nghiêm trang, khi là tiếng nói của con tim cá thể cô đơn đa tình; khi hướng nội, khi hướng ngoại, khi hào sảng lúc lắng sâu, khi vui tươi, khi hài hước, khi trẻ trung, khi dạn dày từng trải, khi triết lý một cách giản dị: “Ai thức đủ năm canh/ Mới hiểu đêm dài ngắn” (Đơn côi). Ngay chỉ là lời tự hát nhưng được soi chiếu dưới ánh sáng của ý thức công dân nên cái riêng trong thơ Nguyễn Thiện hòa vào cái chung một cách thật tự nhiên:: “Ta về ru trái tim ta/Ngủ đi một chút tim à tim ơi” (Ru trái tim mình). Chính điều đó đã tạo nên những câu thơ sâu lắng, ngọt ngào mang hồn dân tộc lại có ý có tứ, có tư tưởng rõ ràng vì thế thơ ông được được giới thiệu thường xuyên trên báo đài và cũng được phổ nhạc rất nhiều. Số bài được phổ nhạc đã lên tới 120 thi phẩm mà hầu như lời thơ được giữ nguyên trong các ca từ. Sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc đã giúp cho thơ Nguyễn Thiện càng có cơ hội đến với đông đảo công chúng.
Có thể nói, thơ Nguyễn Thiện là thơ của lính: đậm đà chất lính và thấm đẫm chất thơ. Chất lính làm cho thơ ông gần gũi, giản dị, gắn bó với cuộc đời và mang ý nghĩa xã hội lớn, góp phần thể hiện chiều sâu và vẻ đẹp tâm hồn của hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ giữa thời bình. Chất thơ làm cho thơ của Nguyễn Thiện tinh tế, mềm mại. Khi hòa vào nhau, tạo nên những câu thơ hay, vừa làm rung động trái tim độc giả vừa hàm ngậm triết lý nhân sinh sâu sắc. Nhờ thế, thi sĩ Nguyễn Thiện có được một bút lực lớn, một tốc độ sáng tạo ít người theo được (Chỉ hai năm 2024, 2025 anh có hai tập thơ gồm 600 bài). Nhưng khác với công nghệ hiện đại, trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, bên cạnh tốc độ, có lẽ thi ca còn cần những khoảng lặng để lắng đọng hơn.
Phó Giáo sư – Tiến sĩ Trần Thị Trâm
Người gửi / điện thoại