Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

NGÔI MỘ BÍ ẨN

Nguyễn Tiến Lợi.
 
NGÔI MỘ BÍ ẨN
         
 
   Do hoàn cảnh chiến tranh, rất nhiều quân nhân tham gia chiến đấu đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, đến nay vẫn chưa xác định được danh tính, trong đó có người anh thân thiết của tôi, liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu, quê quán: Xóm Đá Bạc, xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Giấy báo tử ghi đơn vị: “Đại đội 7, Đoàn 20 - KB”, nơi hy sinh: “Tại mặt trận phía Nam”. Trong quá trình tìm kiếm, có những điều bí ẩn về tâm linh tôi không giải thích được.
          Sau nhiều năm tìm kiếm, không có thông tin về liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu, tình cờ tôi đọc trên báo Văn nghệ Hòa Bình có bài “Theo dấu chân người lính” của tác giả Nguyễn Xuân Chiến viết về Trung đoàn Cửu Long, tôi chú ý đến cụm từ “E20 Quân khu 9”, tôi ngờ ngợ có thể đây là Đoàn 20. Tôi tìm gặp, ông Chiến khẳng định E20 Quân khu 9 chính là “Đoàn 20” mà tôi đang cần tìm. Ông Chiến còn cung cấp cho tôi một số cựu chiến binh của E20 quê tỉnh Hoà Bình hiện còn sống, trong đó có ông Ngần Văn Khơi, ở xã Xăm Khòe, huyện Mai Châu. Gặp được ông Khơi mới biết một số thông tin về liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu, Trung đội trưởng thuộc Đại đội 17 (DKZ) Trung đoàn 20 (không phải Đại đội 7 như giấy báo tử). Anh Sửu hy sinh ở Ấp Sáu Đình, xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang) cùng 2 liệt sĩ nữa là Nguyễn Văn Chất cùng quê và Nguyễn Quang Bầu, quê tỉnh Yên Bái.
motrongnghiatrang
Chỉ vài ngày sau tôi có mặt ở xã Nam Thái (tách ra từ xã Đông Thái), huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Hội Cựu chiến binh và Ban Chỉ huy quân sự xã Nam Thái đã nhiệt tình giúp đỡ, mời một số ông, bà cao tuổi trong xã đến hội ý, xác định các trận đánh, các lần hy sinh của bộ đội giải phóng năm 1971 tại địa phương. Sau hơn hai giờ đồng hồ thảo luận, mọi người nêu ra một số trận đánh, nhưng không có trận nào hy sinh 3 liệt sĩ. Thất vọng, tôi trở về thị trấn Thứ Ba nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau tôi đến gặp ông Lê Văn Tạo, quản trang Nghĩa trang liệt sĩ huyện An Biên, lật đi lật lại danh sách hơn một nghìn liệt sĩ nằm trong nghĩa trang, không có tên của liệt sĩ Sửu và sáu liệt sĩ Đại đội 17 hy sinh cuối năm 1971 (như danh sách ông Ngần Văn Khơi cung cấp), ông Tạo đã chỉ cho tôi khu vực chôn cất các liệt sĩ chuyển từ xã Nam Thái đến, hơn một trăm ngôi mộ, tôi tìm kỹ không có một chút thông tin gì. Cuối cùng tôi đành trở ra thị trấn mua chút hoa quả, tiền vàng mã, cùng bánh thuốc lào mang từ nhà, đem vào đặt lễ ở Đài “Tổ quốc ghi công”, thắp bó nhang thơm kêu tên các anh lên nhận xuống chia cho đồng đội. Trong khói hương nghi ngút, chợt có chuông điện thoại của cháu Nguyễn Thị Diện, con gái của liệt sĩ Nguyễn Văn Luyện (anh cả), cháu đang ở nhà tại thị trấn Lương Sơn, Hòa Bình, cháu Diện hỏi:
- Chú đang ở trong nghĩa trang chú Sửu à?
- Sao cháu biết? - Tôi hỏi lại. Cháu Diện trả lời: - Tự nhiên cháu thấy nóng ruột, cháu vội lên ban thờ đặt cốc nước, thắp nén nhang, cháu thấy chú đang đi lại trong nghĩa trang, chỗ có chú Sửu nằm ở đó.
Tim tôi đập mạnh: - Sao cháu biết nghĩa trang này có chú Sửu?
- Chú đi theo hướng dẫn của cháu sẽ đến mộ chú Sửu.
          Nửa tin nửa ngờ, giữ máy điện thoại tôi đi theo sự chỉ dẫn của đứa cháu ở cách xa tôi mấy ngàn cây số. Qua bốn dãy mộ hàng dọc, rẽ vuông góc sang hàng ngang, đến khu vực mà ông Tạo đã chỉ cho tôi hồi sáng, đi tiếp đến ngôi mộ cuối cùng, cháu bảo tôi dừng lại và nói chú Sửu nằm ở ngôi mộ này, tôi đọc bia mộ khắc dòng chữ: “Tên anh chị gắn liền chiến công lịch sử”. Ôi trời! Tưởng có tên, hoá ra ngôi mộ vô danh. Vốn dĩ không tin vào chuyện tâm linh, nhưng lại liên quan đến công việc tôi đang tìm kiếm, tôi dùng máy điện thoại chụp ảnh bia mộ này phòng khi sau này cần đến (mộ số 1, hàng số 13). Tiện tay tôi bẻ một cành lan nhỏ cạnh đó làm dấu. Cháu Diện còn nhắc tôi quay trở lại nơi anh Sửu hy sinh sẽ tìm được người biết việc.
Theo lời chỉ dẫn của cháu, đầu giờ chiều tôi có mặt tại Uỷ ban nhân dân xã Nam Thái, tôi được anh Huỳnh Văn Tài, xã đội phó dùng xe honda đưa tôi đi tìm những người được cho là có thể biết việc, trên con đường nhỏ thảm bê tông, qua rất nhiều cây cầu vòng cung, len lỏi vào các ấp, gặp và hỏi chuyện cả thảy sáu người già, hầu như không ai còn nhớ được gì, cũng có người nhớ mang máng, nhưng lẫn lộn trận này, trận kia. Trời gần tối theo lời chỉ dẫn của ông Hai Chiến, nguyên là Huyện đội phó những năm trước giải phóng đã nghỉ hưu (người tôi vừa gặp), chúng tôi đến gặp ông Trần Tuấn Minh, ở Ấp Sáu Đình. Thật bất ngờ, ông Minh nhớ rất rõ cả 3 trận hy sinh của 7 liệt sĩ mà trong tay tôi có giấy báo tử (Trước đó theo danh sách của ông Khơi, tôi đã liên hệ các gia đình và nhận được đủ các giấy báo tử). Năm 1971, ấp Sáu Đình là vùng an toàn của ta, bộ đội đóng quân trong ấp cả năm trời, ngủ trong nhà dân, ông Minh khi đó một thanh niên mới lớn, thường ngủ chung với bộ đội và biết rất rõ từng người trong đơn vị. Ông Minh kể rành rọt từng trận: “Hy sinh trước Tết Nguyên đán là anh Minh, quê Bắc Cạn và anh Tuân, quê Hà Nam Ninh. Gần một tháng sau, anh Bầu, quê Yên Bái, anh Sửu và anh Chất quê Hòa Bình đi trinh sát trên Kênh Thứ Sáu, khi trở về trời tối hẳn, kênh rạch chằng chịt, các anh đi lạc sang khu vực Ấp Đồng Giữa, gặp một chiếc xuồng của bọn dân vệ đi ngược chiều, một tên quát hỏi: “Địa phương, hay chủ lực?”. Nếu là dân quân, du kích như tụi tôi thì chúng bỏ qua, vì là người cùng quê, nếu là bộ đội chủ lực thì chúng tiêu diệt ngay, mấy ảnh trả lời là: “Địa phương!” nhưng nói giọng miền Bắc, nên chúng phát hiện ra là quân chủ lực. Chúng để xuồng đi qua chừng ba, bốn mét, bất ngờ tên chỉ huy ném một quả đạn làm cả ba chiến sĩ hy sinh tại chỗ. Khi bọn chúng trở về ấp ăn nhậu với mấy tên dân vệ, tên Ba Be (đã từng làm xã đội phó, chiêu hồi được phong hàm Đại uý) khoe: Giết được ba tên Việt cộng, đấy là tôi nghe mấy người trong ấp truyền tai nhau”. Ông Minh còn kể thêm: “Hôm sau dân phát hiện tại Lum Bà Đe có ba bộ đội hy sinh, đã vớt lên bờ kênh, buổi tối đơn vị cử 3 chiến sĩ gồm: Anh Páy, quê Hòa Bình, anh Dớn, quê Hải Dương và anh Chương, quê Hà Nội bơi xuồng ra đó, xác định đúng quân ta, các anh chuyển ba cái xác xuống xuồng kéo dọc bờ kênh chừng năm trăm mét đến vuông nhà ông Giỏi mới tìm được chỗ rộng, đào hố chôn cất tử tế. Còn anh Cương quê Hà Nam và anh Thành, quê Hòa Bình hy sinh sau Tết nguyên đán ở trong ấp. Hôm đó địch càn vào, đơn vị rút ra ngoài vàm giáp biển, hai ngày sau mới lấy được xác”.
  Tôi đưa ra sáu tờ giấy báo tử chia thành từng cặp, đều khớp với ngày hy sinh như lời ông Minh kể. Vậy là không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả thông tin tôi cần tìm đều nằm ở trong đầu người cựu chiến binh có cái trán hói này. Lượng thông tin dù ít ỏi, nhưng đó là kết quả của cả một năm trời tôi lặn lội trên mạng internet và hàng trăm cuộc điện thoại với rất nhiều người trên khắp cả nước. Ông Minh cho biết cả ba khu mộ thuộc Ấp Sáu Đình này sau giải phóng đều được móc (cất bốc) về nghĩa trang liệt sĩ Thứ Sáu cách đó gần mười cây số. Đội bốc cất mộ liệt sĩ của xã Đông Thái hồi sau giải phóng có năm người, chỉ một người còn sống, đó là bà Huỳnh Thị Rạng, năm nay đã hơn tám mươi tuổi. Anh Huỳnh Văn Tài đưa tôi đến gặp, trí nhớ bà Rạng không còn minh mẫn nữa, nên tôi không thu nhận được thông tin gì thêm.
  Bẵng đi mấy năm, tôi có dịp trở lại miền Tây Nam Bộ, tiếp tục công việc tìm kiếm thông tin giúp các gia đình liệt sĩ, chuyến đi này có vợ và hai con của liệt sĩ Nguyễn Văn Luyện, (liệt sĩ Luyện hy sinh ở Bảy Núi, An Giang, cũng chưa tìm thấy mộ), gia đình muốn vào thăm nơi các anh ngã xuống. Vào đến Nghĩa trang liệt sĩ Thứ Sáu, huyện An Biên, chúng tôi bày mâm cúng ở “Đài Tổ quốc ghi công”, chờ tôi châm bó nhang cắm lên lư, mọi người đứng cạnh tôi cùng chắp tay vái. Trong đoàn có cháu Nguyễn Thị Chiến (em ruột của cháu Nguyễn Thị Diện, người cách đây mấy năm đã điện thoại cho tôi khi đang tìm kiếm ở nghĩa trang này, hôm nay cháu Diện do bận công việc không đi cùng chúng tôi được). Khi tôi vừa kết thúc bài khấnvong hồn liệt sĩ, bỗng cháu Chiến rú lên một tiếng ghê rợn (cháu Chiến là người nhẹ vía, đã nhiều lần bị hồn ma nhập vào khi gặp khói hương), cháu Chiến tóm chặt tay tôi nói bằng tiếng Mường:
- Gia ti theo ho! (Mày đi theo tao!).
Tôi sởn da gà bước theo đứa cháu gái xuống khu mộ phía bên trái tượng đài, đi thành đường chéo góc không theo hàng lối, tay cháu Chiến vẫn nắm chặt cổ tay tôi, đến một ngôi mộ ngoài cùng giáp tường rào, cháu Chiến dừng lại ngồi thụp xuống nói:
- Ho ở ni! (Tao ở đây!).
Đó là một ngôi mộ có dòng chữ khắc trên bia “Tên anh chị gắn liền chiến công lịch sử”, mộ số 1, hàng 13, tôi sững cả người, đúng ngôi mộ mà trước đây cháu Diện đã chỉ cho tôi bằng điện thoại, cành lan tôi bẻ làm dấu còn đó. Ôi trời đất! Anh Sửu nằm đây thật sao? Cháu Chiến bị “nhập hồn” anh Sửu khóc vật vã, kể lể những tâm tư của mình như: “Con xin lỗi bố mẹ, con chưa làm được gì giúp gia đình đã phải đi xa; Chị ơi! Em nằm đây mặc mỗi chiếc quần đùi lạnh lắm, chị mua quần áo hoá xuống cho em đi; Em nhớ nhà lắm, lâu quá rồi sao không đưa em về?...”.Tôi vốn không tin chuyện nhập hồn, ngoại cảm, nhưng nếu là thật thì có thể khai thác những điều mình cần tìm hiểu, tôi đặt ra mấy câu hỏi như để kiểm chứng:
- Em là Lợi đây! Anh nằm đây có ai cùng quê không?
- Có mỗi thằng Chất thôi. - Cháu Chiến trả lời.
- Anh Chất nằm cạnh anh, hay cách mấy người? - Cháu Chiến im lặng và lắc đầu. Tôi hỏi tiếp:
- Trận đánh đó các anh hy sinh mấy người?
- Ba người. - Cháu Chiến trả lời.
- Khi chôn cất các anh nằm riêng từng người, hay cả ba nằm chung một hố?
Cháu Chiến tiếp tục im lặng và lắc đầu. Thêm mấy câu hỏi nữa cũng chỉ nhận được những câu trả lời chung chung, hoặc không biết. Những câu trả lời đúng trên đây có thể cháu Chiến đã biết trước đó, hoặc do hồn anh Sửu nhập vào mà nói ra?. Tôi không thể xác định được. Nhưng tại sao cả hai lần chỉ dẫn của hai chị em (một bằng điện thoại, một trực tiếp) đều đúng vào một ngôi mộ?, Tôi loại trừ khả năng hai chị em chủ động sắp đặt việc này, bởi khoảng cách về địa lý không cho phép. Khi bộ quân phục, cả giày mũ bằng giấy được mời nhận trong khói hương và đốt cháy hết bên cạnh mộ. Cháu Chiến vẫn còn vật vã ở đó rất lâu, đến khi tôi đập bàn tay vào lưng nói: Về thôi! Cháu mới bừng tỉnh.
Như lời kể của anh Trần Tuấn Minh, do địa hình bờ kênh hẹp, rất có thể ba liệt sĩ được chôn chung một hố, việc này chỉ có những người trong cuộc mới biết?. Một thời gian sau tôi đến xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc tìm gặp ông Hà Văn Páy (một trong 3 người đã chôn cất 3 liệt sĩ nói trên), lãnh đạo địa phương cho biết anh Páy đã chuyển gia đình vào sinh sống ở xã Ya Piơ, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Mấy tháng sau tôi mới sắp xếp công việc vào tỉnh Gia Lai. Từ thành phố Pleyku, tôi vượt chặng đường gần 100 km đến xã Ya Piơ, mang theo chút quà quê và một chai rượu, hy vọng khi hơi men đã ngấm người say thường cởi mở không giấu diếm điều gì và tôi sẽ có được câu trả lời ba liệt sĩ được chôn cùng một hố hay chôn riêng ba hố?. Để tôi quyết định có đề nghị giám định ADN hài cốt (mộ liệt sĩ số 1 hàng 13) ở Nghĩa trang liệt sĩ huyện An Biên hay không? Nhưng điều làm tôi tiếp tục thất vọng là ông Hà Văn Páy đang ốm rất nặng, tôi nhìn qua tấm màn dệt bằng vải xô của dân tộc vùng cao thấy ông nằm co quắp trong tấm chăn thổ cẩm đã cũ, vợ ông vén màn lên sực mùi hôi hám, thân hình teo tóp, ông Páy nhắm mắt, hơi thở rất yếu, tôi lay ông dậy, ông mở mắt nhìn tôi đờ đẫn rồi nhắm lại, tôi nói:
- Em là Lợi, em của anh Sửu, quê huyện Lương Sơn, trước cùng đơn vị với anh, em biết anh được chôn cất anh Sửu và hai người nữa. Từ Hoà Bình vào đây, em muốn hỏi anh lúc đó các anh đào mấy hố?
Ông Páy chỉ trả lời được một từ bằng tiếng Mường: - Pa! - Rồi lịm đi. Tôi biết là ông Páy sẽ nói “ba” chứ không phải “một”. Vì quy định của quân đội và đạo lý không cho phép chôn đồng đội chung một hố, trừ những hoàn cảnh hết sức đặc biệt, nếu phải làm như vậy, thì “sống để bụng, chết mang theo”. Nếu tôi đến sớm hơn, khi ông Páy còn khỏe chắc sự tình sẽ khác. Tạm biệt gia đình ông Páy tôi trở về, trong lòng càng nặng trĩu câu hỏi: Biết đến bao giờ mới trả lại tên cho anh, liệt sĩ Nguyễn Văn Sửu?. Và ngôi mộ bí ẩn đó cứ gieo vào lòng tôi một sự ngờ vực mãi sau này.
                                                                                                  N.T.L.
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 16
Trong ngày: 341
Trong tuần: 2642
Lượt truy cập: 1183115
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông