Lê Thanh Kỳ
MIỀN ĐẤT HỨA
Chương I
1.
Lầm, lỳ, lầy
Bộ mặt cao su.
Sau khi giải ngũ về nhà được ba tháng, Lành tìm đường lên thành phố kiếm sống. Giống như tất cả các trai làng không chịu cảnh chân lấm tay bùn. Hoặc vác cưa đục theo một nhóm thợ nào đó xiêu bạt khắp các tỉnh vùng núi phía Bắc hoặc “Nam tiến - Bắc phạt”, nơi duy nhất có thể dang tay chứa chấp tất cả các loại lao động dư thừa từ nông thôn ra.
Nông thôn sau bao năm hết chinh chiến vẫn lộ rõ bộ mặt đói nghèo, lì lợm thừa nhân lực và thiếu lương thực. Đó là hệ quả tết yếu của việc mất cân đối cung - cầu, mọi nguồn lực đều tập trung cho thành phố. Một vùng nông thôn trải dài, mênh mông bị “bỏ rơi”, phản ánh rõ nét hai màu đậm nhạt của sự chênh lệch vùng miền. Lành nhìn những gương mặt bạc màu vì lo toan, túng thiếu và không khỏi nghĩ đến số phận mình. Những trai làng tiếp tục ra đi. Có vài cách lựa chọn cho những người trẻ tuổi là tiếp tục “hành quân”, thọc sâu vào những vùng nông thôn thuần nông khác, tìm kiếm miếng ăn hơn là tìm kiếm cơ hội hòng đổi đời từ nông nghiệp hoặc tìm đến những miền đất hứa là Sài Gòn và Hà Nội. Đó là những đô thị dễ kiếm việc làm và tràn trề hy vọng.
Lành chọn Hà Nội.
Việc đầu tiên là tìm một người để theo, một Phó cả trong hàng chục Phó cả đang làm việc tại Hà Nội. Lành chọn Phú. Phú vừa là em rể trong họ, có công việc ổn định. Mọi chuyện tính sau, còn lại nhờ vào trời đất cả.
Mấy hôm trước Lành đến hỏi thăm chị Vững, vợ anh Phú. Vững gọi Lành bằng anh họ nhưng anh cứ gọi Vững bằng chị, đơn giản là Vững hơn Lành cả chục tuổi, xưng anh thẹn chết đi được.
“Theo em, bác nên tìm các lò mộc khác, chỗ nhà em làm không ra cái gì đâu”
“Không ra cái gì là ra cái gì? Lò nào thì vẫn là làm mộc - Lành sợ Vững nói tránh, không muốn giới thiệu anh đi làm hoặc có lý do gì đây. Lành nói đầy khí thế - Tôi đã chọn nghề mộc để kiếm cơm rồi. Tôi đã quyết tâm rồi. Không sợ đâu. Mộc nào chả là mộc”.
“Nhưng mộc chỗ nhà em làm là mộc chết! - Vững ầm ừ trong cổ, anh không hiểu Vững nói có ý gì. Chị ngoảnh nhìn đi chỗ khác rồi nói tiếp - Ý là... chỗ nhà em việc làm khó tả lắm. Lò mộc trên Hà Nội, thợ đông như kiến. Mộc ra mộc. Thiếu cha gì!”
Vững nhìn Cái mặt đần thối. Tiếp:
“Là em nói thật lòng chứ không có ý gì khác. Loại thợ mộc như chồng em mới chịu làm chỗ ấy. Bác là lính tráng mới về, thế nào nhà nước chả quan tâm cho vào làm công nhân nhà nước. Làm ngoài thiệt lắm!”
“Chị xem cái làng này đã ai được quan tâm chưa? Chờ nhà nước có mà chết đói à?”
“Thế thì đi lính để làm gì? Chẳng qua nhà nước còn khó khăn. Bác cố gắng đợi, thế nào cũng được gọi đi làm”
“Chị nói thế là sao? Muốn tôi ở nhà ăn bám à? Không đâu!”
“Là em góp ý thế. Bác nghe thì nghe, chẳng nghe thì thôi”.
Cả hai im lặng. Lành không biết nói gì, cứ đứng im không nhúc nhích, mặt như một viên gạch men, bóng lộn, bền màu. Vững biết các ông lính tráng ghê lắm, một khi đã hô quyết tâm thì dù biết chết vẫn xông vào, máu lửa, khí phách. Chị Vững thấy tình hình khó lòng ngăn cản, cũng không biết khuyên gì hơn. Lành đứng thi gan với chị. Không thể cứ đứng không như thế mãi, Vững kiễng chân với cái liềm chừng muốn đi cắt rau. Lành lững thững đi theo.
Vững thấy người anh họ quá nhầy đành đứng lại bảo:
“Thôi được. Tùy bác. Để em nhắn cho nhà em, hẹn ngày rồi bác lên. Sau này có chuyện gì đừng trách em không nói trước”.
Lành nghe thấy chị lẩm bẩm: “Chưa thấy ai lỳ như thế! Trông cái mặt y như một viên đá mài”.
2.
Xưởng New Homs.
Những người thợ bạn.
Đoàn kết là sức mạnh.
Anh Phú đón Lành rồi dẫn đến trước mặt ông chủ.
Ông chủ người thô, cao, da sần như mặt ván chưa bào, tóc cua sát da đầu. Đôi mày dày, hình dao bầu, sát sạt mi mắt như cặp cận vệ hộ tống đôi mắt hình viên bi trông rất táo bạo.
Lành không dám nhìn thẳng vào hòn bi, miệng lí nhí: “Chào chú”. Ông Xuyền gật nhưng mắt vẫn không rời anh. Phú chỉ vào Lành, giới thiệu:
“Báo cáo anh, đây là Trần Nguyễn Tân Lành. Người nhà gọi là Tân, dân làng gọi là Lành”
“Tân với Lành. Nhưng tao thấy tên Lành hợp với nó hơn”
“Chả là, - Phú phân trần: - Lúc đẻ anh ấy ra, bác gái thích đặt tên Lành, bác trai thích tên Tân hơn”
“Lành là phải rồi. Tân là khổ, ai lại đi chọn tên múc cháo đổ nồi. Theo tao, chồng bao giờ cũng ngu hơn vợ cho nên đứa nào cũng nghe vợ cả. Cứ gọi nó như người làng mày ấy. Tên Lành hợp với nước mặt của nó - Ông Xuyền quay ra hỏi thêm - Quan hệ hai người thế nào?”
“Nó là thằng anh họ, bên nhà vợ”.
Ông chủ cất tiếng cười. Đôi lông mày nhún nhẩy theo cơ mặt cứ phầm phập như múa dao.
“Anh mà gọi thằng, là sao?” - Không cười nữa, ông Xuyền hất hàm hỏi.
“Ở làng chúng em vẫn gọi nhau như vậy. - Phú phân trần: - Thằng anh này lành thối đất thối cát!
Thật ý! Lành đến phát cáu”.
Ông chủ nói như đã biết:
“Vậy là nó ở làng Dưỡng Hòe rồi. Mấy năm chiến tranh tao về an dưỡng ở đấy. Vợ mày khi đó vẫn còn đeo khăn đỏ. Tao được dự đám giỗ Trần Khánh Dư ở Đền Thượng vào ngày 24 tháng giêng. Dân năm thôn làm lễ rước nước to lắm. Rước kiệu dài hàng cây số.
Đúng không?”.
Ông Xuyền hất hàm hỏi Lành, anh chưa kịp trả lời thì Phú nhanh nhẩu đáp:
“Dạ đúng! Anh Xuyền cũng thuộc sử gớm nhỉ?”
“Mày ở rể làng ấy. Biết gì mà nói. Nó họ Trần. Tao hỏi nó xem còn nhớ tổ tiên mình không? Tao nói cho chúng mày biết Trần Khánh Dư tuy văn võ song toàn nhưng tư duy kinh tế mới là hạng con buôn số một. Tất cả các võ quan chỉ biết dựa vào bổng lộc của triều đình, thả ra là chết đói ngay lập tức. Đời tao chỉ thần tượng Trần Khánh Dư thôi. Ông ấy mới thật sự là tướng tài, không như các tướng khác hễ bị thất sủng là quay ra làm giặc - Ông Xuyền nói đến đây liền bỏ nhìn Phú, quay sang Lành hỏi - Thế nào, Đền Thượng thờ Trần Khánh Dư bây giờ sao rồi? Có tôn tạo mới mẻ gì không?”
“Họ Trần nhà cháu nhận vơ thôi ạ. Còn chiếc Đền thờ ấy giờ là chỗ làm việc của Ủy ban nhân dân xã rồi ạ. Những năm 70, dân quê cháu ủng hộ phong trào bài phong, diệt kiến. Đền thì đập, sắc phong thì bị đốt. Đền Thượng phựt rồi ạ”
“Trời ơi. Tiếc nhỉ - Chủ Xuyền chẹp miệng - Mẹ kiếp! Ê, không sợ phải tội sao? Thật tức tưởi! Ông ấy có công lớn với triều đình nhưng với dân lính thì hơi thô một tí. Tí ti thôi. Ai lại gọi dân lính là gà vịt bao giờ. Rõ ràng quá! Thô quá! Thiếu gì cách gọi êm tai mà lại huỵch toẹt ra như thế! Mày là thổ dân làng ấy, nhìn thấy ngay - Ông Xuyền nhìn Lành chăm chăm, vẻ cảm tình - Ngó hai nước mặt, một nước lành rất dễ sử dụng, một nước thì ba trợn ba trạo khiến người ta lo ngại. - Ông Xuyền đá xoáy anh Phú rồi hỏi chuyện tiếp. - Thế hai cái đình làng bây giờ còn không? Hai cây đa già khú khụ trước cửa đình còn không?”.
“Dạ, không. Đình do chế độ phong kiến xây, đa do phong kiến trồng. Tất cả công trình, màu sắc, mùi vị phong kiến thối nát phải loại bỏ hết. Văn hóa phong kiến hủ bại, thối hoắc, phải đánh đổ chúng.”
“Ai bảo mày thế?”
“Cháu nghe những người lớn tuổi làng cháu dạy thế.”
“Tao có hỏi mày ý đó đâu. Tao chỉ hỏi nó còn không thôi. Phá đi để làm gì?”
“Đình giữa phá để làm sân kho Hợp tác xã. Đình sau thì san phẳng làm Trại nuôi lợn. Các tượng gỗ bị chẻ làm đôi tìm vàng. Hai cây đa già gù cả lưng cũng chặt để làm củi đốt gạch”
“Mẹ kiếp! Đứa nào chặt không sợ bị nguyền rủa à?”
“Lấy ai ra nguyền rủa đây? Ông cha xây, con cháu đập. Tự rủa mình à? Ngày phá đền thờ Trần Khánh Dư, xã ghi công điểm cao gấp rưỡi đi cấy, lại thưởng thêm một thúng khoai lang. Thế là dân tranh nhau đi làm!”.
Ông Xuyền chửi:
“- Thì ra dân ở đâu cũng lấy ăn làm gốc. Mày có phá không?”
“Lúc ấy cháu còn đang đi học nên chỉ đi xem thôi. Vui lắm! Nhà cháu cũng được thưởng mười hai thúng khoai lang”.
Anh Phú nhe răng cười. Ông Xuyền cũng nhe răng. Hai hòn bi của ông nhẩy múa trong hốc mắt. Ông nhìn Lành một lượt từ trên xuống dưới, không nói năng gì, đầu cứ gật gật. Lành nghĩ may mà anh Phú không giới thiệu Cái mặt đần thối cho ông chủ biết. Ông Xuyền hỏi:
“Đi lính về rồi hả?”
Nhìn thấy Lành ăn vận quần áo bộ đội, tay xách ba lô lộn, ông hất hàm hỏi thêm:
“Xuất ngũ hay đào ngũ? Có giấy tờ gì không?”
“Cháu xuất ngũ chú ạ! - Lành cười ngượng nghịu rồi móc túi cóc ba lô lấy ra tờ giấy đưa cho ông - Cháu chưa kịp làm chứng minh thư nhưng có giấy tạm vắng của xã đây ạ”.
Ông chủ cầm tờ giấy đọc xong rồi gấp làm tư đút vào túi quần, không muốn tốn thêm thời gian vàng ngọc của mình, nói nhanh:
“Ở đây ăn ngủ tại xưởng, làm gì thì cứ theo anh Phú phân công. Cơm nuôi hai bữa, tháng ba trăm, buổi sáng tự túc thích ăn gì thì ăn”.
Xưởng gỗ của ông chủ Xuyền nằm ngay mặt đường chính, chõ mặt vào sông Kim Ngưu. Xưởng tương đối rộng, ván gỗ bừa bịt, mùn cưa tơi bời. Trần nhà, tường nhà bám đầy mùn cưa. Gian ngoài kê hai bộ cầu thẳm, dụng cụ chất đầy mặt một chiếc cầu bào. Hai bên tường dựng đầy ván, mùi gỗ thối um ủm.
Gian trong, quan tài xếp gần đến nóc, chia làm ba dãy, lối đi rất hẹp.
Lúc anh Phú đón Lành đến, hai người đèo nhau bằng chiếc xe đạp. Bước xuống vỉa hè, Lành nhìn thấy biển đề chữ New Homs, thấy rất lạ. Bên dưới có chiếc quan tài bày mẫu trước cửa khiến Lành lạnh cả sống lưng. Lành nhìn cỗ quan tài véc ni bóng lộn tự dưng sởn tóc gáy. Lành liền nhớ lại thái độ lúng túng của chị Vững, hóa ra anh ấy làm ở đây sao? Thảo nào chị gọi nó là mộc chết. Ở làng chỉ biết anh làm thợ mộc trên Hà Nội, làm cho chủ mười mấy năm nay, không như cánh thợ khác nay làm cho chủ này, mai đi tìm chủ mới. Ai tốt rủ thì đi. Lành nhìn chiếc quan tài lần nữa lập tức thấy người choáng váng, rùng rình như đoàn tàu chuyển bánh. Lành nhìn chiếc quan tài lượn một vòng quanh người, nắp mở ra lại đóng vào rồi lại mở ra như thân tình mời mọc. Thân hình anh chuyển động lắc lư theo. Anh Phú giữ chặt hai vai Lành hỏi: “Sao thế?”. Lành bảo: “Không sao” rồi định thần lại. Đã lên đến đây rồi, thôi đành nhắm mắt đưa chân. Lành tự động viên mình, thợ đóng quan tài hay thợ làm cung điện thì vẫn là thợ mộc. Tự quy hoạch lại những suy nghĩ vừa lảng vảng đến nhưng anh vẫn thấy buồn, một nỗi buồn thê thảm khó mà giấu đi được. Lành có ý lừng khừng thì anh Phú giục:
“Đã lên đất Hà Nội, làm cái chó gì mà chả được, miễn là có cơm ăn”
“Tôi nhìn thấy cái biển đề bằng tiếng Anh. Viết thế ai người ta hiểu mình làm cái gì?”
“Ông quỷnh bỏ mẹ. Ông Xuyền giải thích người Việt sính đồ ngoại. Hàng gì cũng có mấy câu nước ngoài cho dễ bán. Đặt tên cơ sở sản xuất cũng hết sức chú ý đến tâm lý người mua. Độc, lạ càng dễ nhớ lại có yếu tố nước ngoài. Nếu đặt tên là Xưởng Quan Tài, có phải quỷnh không nào?”
“Xưởng này chỉ đóng mỗi quan tài thôi à?”
“Phải! - Anh Phú xác nhận rồi nói thêm. - Ông Xuyền thành lập Doanh nghiệp tư nhân. Ông ấy còn bốn cái xưởng to hơn cái New Homs này, quận nào cũng có cơ sở sản xuất quan tài và hệ thống các cửa hàng bán sỉ, bán lẻ nữa. Trong kinh doanh thì ông ấy như một con ma vậy. Ông ta chia nhỏ doanh nghiệp của mình thành các cơ sở nhỏ lẻ để tránh sự nhòm ngó của cơ quan thuế, chi phí thấp nhất và vây bắt khách hàng ở khắp mọi nơi. Tất cả các cơ sở ông ấy đều thuê người đứng tên. Xưởng New Homs là đầu mối quan trọng nhất nên ông ấy thường xuyên có mặt. Thôi, mình biết đến thế là đủ, tò mò làm gì vào công việc của ông ấy có ngày rước họa vào thân. Mà ông chủ cũng không thích điều đó”.
Xưởng có hai người thợ nữa. Lúc Lành vào tiếp kiến ông chủ, anh nhìn thấy một anh đang cong mông đẩy cây bào thẳm. Anh thứ hai ngồi dưới đất đục mộng tấm ván hậu. Lúc ông chủ nhận Lành xong, quay ra đạp nổ chiếc xe máy Honda đời 78, sừng vểnh. Anh Phú ôm chiếc cặp đi theo, ngồi phía sau. Hai người đàn ông cao lớn đè lên chiếc xe máy lùn trông như hai chiếc quan tài dựng đứng.
Chờ cho chiếc xe máy hòa vào dòng người đông đúc trên đường, hai người thợ dừng hết cả lại. Anh ngồi dưới đất tên Thắm, quê ở Lục Bình. Anh đang đứng bào tên Hồng, quê Kim Bảo. Anh Hồng trông to con, mặt mũi bình thường không hiền, không dữ. Anh Thắm nhỏ con, má hóp, trán hơi dô, trông dạng khó gần. Anh Thắm hất hàm hỏi:
“Người nhà anh Phú à?”
“Vâng”
“Sao không ở quê mà làm, lên đây làm cứt gì!”
Lành không biết trả lời ra sao cứ đứng im như tấm ván. Hồng hỏi:
“Đi lính năm nào?”
“74”
“Có đánh đấm trận nào không?”
“Em toàn đi sau đít. Đi đến đâu giải phóng nhẵn cả rồi; nhưng cũng đánh nhau vài trận”
“Đánh như thế nào, có ác liệt không?”
“Bọn em chủ yếu đuổi nhau. Lúc thì chúng em chạy, lúc thì những anh em bên kia chiến tuyến chạy, vừa chạy vừa kê súng lên vai bắn ngược lại phía sau. Vừa sợ, vừa buồn cười. Bây giờ nhớ lại, chẳng biết kể thế nào”.
Hai người ngoác mồm ra cười. Răng to như răng lợn. Nói chuyện với nhau sơ sơ một lúc, hai người quay lại công việc, anh Hồng vỗ vào lưng cây bào thẳm, lấy lưỡi ra mài. Lành không biết làm gì, sán lại gần chỗ anh Thắm nhìn anh làm. Thắm hỏi:
“Biết làm mộc chưa? Giỏi không?”
“Sơ sơ tý. Em mới biết dọc cưa và bào tay thôi. Cũng không giỏi lắm. Mong các anh ở đây chỉ dạy thêm”
“Học làm cứt gì cái nghề đóng quan tài này.
Nghề mạt hạng mà thợ cũng mạt hạng. Nghe anh Phú nói người làng cậu trên này đông lắm, toàn đóng đồ thôi. Sao không tìm đến những chỗ ấy mà học nghề. Quan tài chỉ đóng đinh tre, mỗi bộ tổng cộng có sáu cái mộng, tay nghề nâng lên làm sao được?”
“Em cứ tưởng các xưởng mộc Hà Nội chuyên
đóng cửa, giường, tủ, sập bằng gỗ lim, lát...”
“Thế thì người chết liệm vào tủ búp-phê à? Mẹ kiếp! Chèo lái cuộc đời suốt mấy chục năm nay, toàn gặp những thằng cứ tưởng - Anh Thắm ngó vào mặt Lành một cái, lại lắc đầu một cái. Lúc ấy chắc chắn cái mặt Lành trông đần thối ra. Nhìn chán, Thắm tủm tỉm cười rồi nói tiếp - Đúng là cậu trông lành thật! Lành thật đấy! Đã lành lại còn cứ tưởng. Mà tên cậu là gì, giới thiệu để gọi nhau cho tiện”
“Em tên Lành”.
Cả hai người thợ bạn dừng phắt cả lại. Anh Hồng xoạc cái mồm rộng nhưng chỉ thấy có hơi trong ấy phát ra, còn anh Thắm thì cười khé cổ, hai vai rung lên bần bật:
“Người thế nào của chiêm bao thế ấy! Trông cái mặt là biết nhau ngay. Lành... Lành... đúng là Lành! Thoáng qua cái mặt cũng biết lành như cục cứt sấy khô! Đừng giận nhé. Thợ mộc với thợ bào là một”
“Gọi cho sướng mồm, vui lỗ tai, nghe bẩn bẩn nhưng bụng dạ sạch sẽ lắm”. Anh Hồng nói thêm vào.
Tai đỏ tía ria. Ai nhìn mặt Lành cũng chê. Bao lâu nay anh tự thắc mắc không biết mặt mình sai ở chỗ nào? Gần trưa, anh Hồng đi ra rửa chân tay, vào trong góc phòng bê một chiếc nồi gang, một xoong nhôm, một cái rổ có mớ rau muống, chai nước mắm, lọ muối bỏ luôn trong đấy, đặt tất cả xuống vòi nước sát với tường nhà. Anh vo gạo trong chiếc nồi gang xong, nhấc siêu nước đang sôi bật cả nắp trên chiếc bếp đun mùn cưa xuống, rót vào xoong gạo rồi đặt chiếc nồi lên bếp, đoạn sai:
“Chú chạy vào chỗ nằm xách cho tôi cái phích ra đây”.
Lành đi giữa hai hàng quan tài vào trong. Lành lạnh. Rờn rợn. Anh cảm giác trong các cỗ quan tài đều có người chết đặt nằm ngửa trong ấy và đang nghiêng đầu dõi theo. Lành thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn, sợ người chết thò tay ra túm lấy vạt áo. Anh nín thở đi qua. Bên trong chừa lại một khoảng lấy chỗ ngủ. Giường ngủ là những tấm ván đóng quan xẻ sẵn, kê sát vào nhau, rải chiếu cói lên trên. Thẳng lối đi, giáp tường nhà thấy có một chiếc bàn uống nước hình vuông, có bốn chân bằng gỗ cây. Lành nhìn thấy cái phích nước in bông hoa hồng liền đi vào lấy ra, ngó chiếc bàn ngồ ngộ liền cúi xuống đọc thấy chữ THỌ đục chìm nằm dưới tấm kính lem nhem nước chè. Mùi nước điếu khai nồng nặc. Dưới mặt đất đầy xỉ thuốc lào. Ngó thấp xuống tí nữa lại nhìn thấy bốn chân bàn đục tay con rồng bị hỏng trông như bốn chân con chó. Lành cười lên đành đạch vừa lúc anh Hồng trở vào, mắng:
“Mày bị động kinh à? Ở trong này mà cười một mình? Lấy có cái phích mà mãi không ra được. Nguội mẹ nó mất siêu nước. Nhát nữa ăn cơm xong lấy gì mà pha chè”.
Lành trở ra cùng anh Hồng, vẫn không nhịn được cười. Cơm cạn, anh Hồng đặt nồi cơm xuống đất, lấy kiềng cho lên miệng bếp, lại lấy tấm tôn mỏng đặt lên rồi đặt nồi cơm trở lại. Hỏi:
“Đã đun bếp mùn cưa bao giờ chưa?”
“Chưa”
“Nhìn anh làm một lần, lần sau cứ thế mà làm. Mày rỗi thì nhặt cho anh mớ rau muống để anh ra chợ mua thức ăn mặn. Lúc nãy cười cái gì mà như thằng động kinh vậy?”
“Ai đục chân bàn mà hay thế?”
“Thằng Thắm đấy! Sản phẩm đầu tay nhưng được cái ý tưởng. Mà thôi. Nhát nữa lấy tấm tôn ra nhớ lót tay kẻo bỏng”
Dặn xong, vớ lấy chiếc xe đạp. Thấy anh Hồng nói đi chợ, anh liền móc túi quần lấy tờ giấy bạc một trăm đồng đưa ra. Hồng nhìn Lành ngạc nhiên:
“Cất đi! Tiền ăn đã có chủ nó lo - Anh chuyển giọng nói xẵng - Chủ nó trả mày ba trăm đồng một tháng. Một bữa mày ăn hết một trăm, còn năm mươi chín bữa ăn cơm với mùn cưa à? Anh Phú nói... mày đúng... mày đúng là... đúng là đồ l*n!”. Không nói nữa. Im bặt. Hồng lẳng lặng đạp xe đi. Lành đứng đơ ra, tai nghe tiếng đạp xe cót két, mắt nhìn anh Hồng hòa vào phố đông.
3.
Bữa cơm đầu tiên.
Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Mặt trời - Mặt trăng - Trái đất.
Ngày đầu tiên trôi qua như thế. Bữa trưa cả chủ thợ ăn chung một mâm. Buổi tối ông Xuyền về nhà trên phố Huế. Mọi việc ở New Homs giao cho anh Phú trông nom. Bữa trưa Lành dọn cơm ra, đợi một lúc thì hai anh về. Anh Phú nhẩy xuống xe, tay xách can nhỏ đựng bia hơi. Anh Thắm chửi:
“Mẹ nó! Năm cái vòi rồng hút chung cái can chắc được một lít! Đồ kẹt xỉn!”
“Không. Can kia cũng được một lít hai lăm” - Anh Hồng đoán.
Mọi người ngồi xuống mâm cơm. Một đĩa rau muống luộc, một bát đậu kho nước tương, một đĩa lạc nhân rang muối, một bát tóp mỡ dằm xì dầu, mấy quả ớt chỉ thiên. Ông Xuyền nhìn mâm cơm, hỏi Hồng:
“Nhà có khách sộp mà ăn vậy thôi à?”
Anh Hồng liếc mắt nhìn anh Phú, không trả lời. Tiền ăn anh Phú khống chế, ngày nào đưa ngày ấy. Nếu bữa trưa quá tay, bữa tối chỉ ăn nước mắm suông. Anh Phú rót bia, bọt phùi ra khỏi miệng cốc. Anh gục đầu húp bọt bia xoèn xoẹt, lại thè lưỡi liếm vòng quanh cốc trông vừa ngon vừa ô uế. Anh ngồi thẳng người lên, liếm mép, khà một cái rồi hù hà nói:
“Ăn thế này cũng tươm chán! - Nói rồi lại vội đâm sấp mặt xuống hớp bọt - Thơm quá!/ hà... hà/ Ngon thụt lưỡi! Cả tỉnh Hà Nội chỉ có tí bia hơi là đáng giá nhất!/ hà... hà. Ới giời ơi ngon quá! Tiên sư bố nó! Ngon quá!”
Ông Xuyền nhìn xuống mâm cơm rồi bảo lại anh Hồng lần thứ hai:
“Chú đạp xe ra đầu đường Tam Trinh, có quán gà nướng ngon lắm! Mua trọn bộ mặt, mũi, chân, tay mang về đây”.
“Đưa tiền đây” - Anh Thắm nói trống không chẳng nhằm vào ai.
Anh Hồng liếc anh Phú lần nữa, vê vê hai ngón tay như kiểu đếm tiền. Anh Phú vờ như không thấy nhưng thực trong đầu anh đang tính nhoang nhoáng.
Anh Thắm bảo:
“Lúc nãy hai người đi qua đấy mà không mua luôn thể”
“Khổ! Vội quá đấy mà! Quên khuấy đi mất. Bây giờ mới ngửi thấy mùi thơm của nó. Mai chúng mày ra đốt cái quán ấy đi cho tao” - Ông Xuyền nói thế.
“Đêm nay anh đến đây mà đốt. Dám không!”.
Anh Thắm hất hàm nói với ông Xuyền. Ông Xuyền bảo đùa tí cho vui.
Anh Phú nhìn ông Xuyền, ria mép của anh còn dính bọt bia, anh lia cái lưỡi lau sạch rồi mới nói:
“Thôi khỏi! Uống bia suông mới ngon! Những tay sành bia đều uống suông cả. Những tay sành cà phê đều uống đen, không có đường. Đúng không cả nhà?”.
Lành nhìn mọi người một lượt rồi từ từ đứng dậy, thấy tự xấu hổ. Một lễ ra mắt cho mình. Mình chi tiền là đúng nhất. Anh Thắm túm gấu áo giật xuống:
“Định đi đâu? - Rồi anh ra lệnh - Ngồi xuống! Mọi người biết rồi đấy; riêng tôi với thằng Hồng, rượu đứa nào cũng choảng hết chai rưỡi. Bia đủ tắm một con ca-ve, từng này bia chả bõ súc miệng!”.
Mọi người nâng cốc, lúc ấy ông Xuyền mới moi từ túi quần ra năm gói lạc rang, to bằng ngón tay, dài nửa gang tay phát cho mỗi người một gói. Mọi người đưa gói lạc lên miệng dùng răng cắn đứt vỏ ni lông. Tiếng nhai lạc gau gáu, mùi húng lìu trộn với mùi bia cực kỳ hấp dẫn. Anh Thắm cầm cả gói lạc, không xé, đâm vào bát nước đậu rồi đưa lên mồm mút. Anh Phú hỏi:
“Nhắm kiểu gì vậy?”
“Kiểu cá gỗ” - Vừa trả lời vừa nhìn ông Xuyền. Ông Xuyền không nói năng gì, mặt tỉnh bơ, nâng cốc bia lên cạch với Lành, anh Hồng, anh Phú. Anh Thắm không chịu nâng cốc, giơ gói lạc gói trong túi ni-lông, lấy móng tay cái làm cữ rồi đếm. Anh Hồng huých khuỷu tay vào sườn anh Thắm hỏi:
“Được bao nhiêu nhân?”
“Mười ba... mười bốn. À, thằng này có một nửa, tổng cộng là mười ba nhân rưỡi”.
Ông Xuyền vẫn không nói gì, uống một hơi hết sạch vại bia, uống xong đưa bát cho Lành xới cơm. Anh Phú hỏi hãy còn bia, không uống nữa à? - Thôi, uống nhiều say chết! Trong lúc chờ Lành xới cơm ông Xuyền dặn:
“Bốn giờ chiều nay, xe đến, mọi người bốc lên tám cái áo, chở đến bệnh viện Xanh Pôn. Thằng Lành ở nhà trông xưởng. Hai ông theo xe bốc xuống. Tôi đón sẵn trong bệnh viện để bàn giao”.
Anh Phú khoe:
“Đêm qua có vụ tai nạn lao động. Tám mạng. Chết rồi, vẫn khiêng vào viện. Sáng nay chúng tôi đi cũng vì vụ ấy, ký bán được tám chiếc áo quan. Ngon thế!”.
Anh Thắm nhìn ông Xuyền lè nhè:
“Hên nhỉ? Chắc ông chủ Xuyền ngày nào cũng mong có người chết. Hà Nội đông thế, chết đến bao giờ cho hết!”
Ông Xuyền dằn bát xuống mâm, quát:
“Mày khóa cái mõm lại. Tao chưa thấy đứa nào khốn nạn như mày!”
Bữa cơm tưởng mất vui nhưng vẫn hết sạch, chỉ còn thừa nửa đĩa rau muống. Lúc Lành đi rửa bát, anh Hồng đi ra rửa tay liền ghé vào tai Lành nói nhỏ: “Ông chủ rất ghét thằng Thắm. Nhận mày, tháng tới chắc ông ấy dãn nó”. Lành thấy anh Hồng không đến nỗi, có thể gần được nhưng anh cứ hay vào hùa với anh Thắm. Anh Phú bảo thằng Thắm rủ thằng Hồng lên đây làm. Thằng Hồng cũng là thằng biết điều. Chỉ tội nó chịu ơn nên phải hùa theo chứ bản chất không khốn nạn như thằng Thắm.
4.
Vững bước nào!
Trái tim Hà Nội.
Tiên tri ông thầy bói.
Anh Phú không nói với mọi người về Cái mặt đần thối của Lành mà chỉ nói với ông Xuyền. Phú khoe khoang với hai anh là thằng Lành ở trong quân đội từng giữ chức vụ Chính trị viên Trung đội: “Thằng Lành trông thế thôi nhưng nó làm B. chính ủy cho đến lúc xuất ngũ”. Hai anh không đi bộ đội nên cứ tưởng thật. Lành rất buồn cười vì điều này. Ý của anh ấy muốn mọi người phải nể trọng Lành thêm, đừng thấy nó hiền mà bắt nạt. B chính ủy thấy cũng hay hay. Lành cũng lấy đó làm mừng, trong lòng âm ấm. Dù gì Phú cũng là em rể. Vừa là em rể, vừa tình đồng hương. Có hai thứ đó thì còn gì bằng. Yên tâm.
Lành nhớ hôm nói chuyện với mẹ:
“Tháng tới, con sẽ đi làm”
“Làm gì? Ở đâu? - Bà mẹ ái ngại nhìn Lành nhiều hơn là hỏi. Bà nói thêm - Cứ ở nhà một thời gian đã, đừng đi làm vội”
“Sao cơ?”
“Mẹ thấy con tính nết hiền lành, có lớn nhưng chưa có khôn. Cơm thiên hạ không dễ nuốt đâu con.
Người hiền lành như con chỉ ăn cơm vét”.
Mẹ Lành đem chuyện này hỏi ý kiến chị gái cậu, lấy chồng cách nhà ba ngõ. Hy vọng hai người đàn bà hợp sức khiến Lành hồi tâm chuyển ý. Không ngờ chị gái Lành khác mẹ. Dù sao chị cũng là người trẻ, lớp người tiên tiến ở nông thôn hiện nay. Chị liền tức tốc đến gặp, hỏi:
“Cậu định đi làm phương nào?”
“Em lên Hà Nội”
“Được. Tưởng cậu vào Sài Gòn thì chị không nghe. Mẹ không đồng ý cho cậu đi làm nhưng chị đồng ý. Người như cậu nên tìm đến thành phố mà sống. Học hỏi người ta mà ăn, mà làm. Tôi nói cho cậu biết: làm Chủ tịch quê không bằng bưng bê thành phố!”
Mẹ Lành không ngờ chị cậu nói thế liền tiếp lời nhưng vẫn nói vòng veo:
“Mày nhìn em mày mà không biết sao. Tuy lớn nhưng trông vẫn còn bấy lắm!”
“Bấy, bấy cái gì! Người ta đã đi lính về còn nói bấy. Mẹ nói dễ nghe tí đi. Tính cậu Tân nhà mình nó hiền. - Hiền chân thành. Nó không phải thằng đần. Hòn đất vứt lên Hà Nội cũng thành ma quỷ”
“Nhưng mẹ cứ lo lo. Người như em con lên đất Hà Nội biết làm ăn ra sao? Người Hà Nội khác với người nhà quê chúng mình. Đàn ông không nói to, hào hoa, phong nhã. Đàn bà thông minh, làm cái gì cũng có nhịp, không vội vàng hấp tấp, ý tứ, nhỏ nhẹ, duyên dáng. Đâu ăn nói ngược ngáo như nhà chị!”
“Ui zào! Nội với chả ngoại! Mẹ khỏi lo đi! Người Hà Nội gốc đã bị người nhà quê đồng hóa hết rồi, san phẳng rồi! Mẹ ơi/Chẹp. Nói cho bà ngoại biết, chưa đến năm 2000, chẳng tìm đâu ra người Hà Nội nguyên bản nữa đâu. Tuyệt chủng rồi! Thật đấy! Các cô gái Hà Nội ngày nay đều là con của mẹ Suốt, gan lỳ, bất khuất, ăn sóng, nói gió, hô hô, ha ha! Tính cách Hà Nội biến mất không còn dấu vết. Hà Nội giờ sống thực dụng lắm. Không nhẹ nhàng văn hoa gì cả. Không cần quy tắc quy tiếc gì hết. Tối để cả giày đi ngủ. Ui zào! Thời buổi nào rồi! Chỉ thấy người quê kéo nhau đến Hà Nội. Ai cũng tìm cách để tuồn vào Hà Nội. Có bao giờ thấy người thành phố bỏ về nhà quê đâu. Không đi không biết cứt người thối thơm! Mẹ đừng lo nữa. - Chị nhìn im lặng một tí rồi nói thêm. - Mẹ cứ để cậu ấy đi đi. Không nhanh chân kẻo hết chỗ... Tân ạ - Chị quay ra ngó mặt Lành, tay đập vào vai - Không sống được thì lại quay về nhà chứ đi đâu mà mất. Nhỉ?”.
Lành cười:
“Em không biết! - Rồi nói thêm - Biết đâu có ngày Hà Nội tản cư về quê mình sống như những năm 50 thì sao?”
“Cậu mong như thế à?”
“Em không biết. Ngày còn sống thấy bố nói thế.
Em ước người Hà Nội mang giống về quê mình mà gieo”
“Hai đứa nói chuyện linh tinh gì thế? Mẹ thì lo. Chúng mày cứ nhơn nhơn cái mặt - Mẹ cậu nói tiếp - Nói thật là mẹ cũng định ướm cho con một đám trong làng nên đi xem bói một chuyến xem sao”
“Thế mẹ đã đi xem chưa?”
“Rồi. Mẹ đi xem tháng vừa rồi”
“Đỏ không mẹ”
“Im nào. Mẹ muốn một đằng mà thầy nói một nẻo khiến mẹ lo quá”
“Rồi. Im thì im. Mẹ kể đi”
“Đầu tiên mẹ muốn hỏi đường tình duyên của con ra sao. Thầy bốc thấy con Nhị vạn rồi bảo số cậu này có cặp song đào. Bốc thêm con nữa thì gặp
Thương Thương”
“Thì sao?”
“Thầy bảo ai có số này đều tốn phụ nữ! Xem ra cậu này tuy là đào nhưng chỉ là đào phai. Mẹ lo lắm!”
Chị gái cậu cười cợt, rõ là không tin:
“Lạ gì mấy ông thầy bói. Để xem bói bài 120 cây thế nào? Có đáng tin không? Nói chung chung thế biết đâu mà lần? Đào Điện Biên, Nam Điền, Sơn La. Đào Nhật Tảo, Nhật Tân, Nhật Tựu... vườn nhà mình cũng có đến mấy cây đào. Đào nào cũng là đào. Đào nào cũng đẹp cả, miễn không phải đào mả là được, phải không? Con gái đứa nào chả thích con trai hiền lành, chịu khó. Con gái bây giờ khôn lắm. Lấy đàn ông chăm chỉ thì nó mới nuôi được mình chứ! - Nói xong quay sang sờ lên người Lành - Ông ấy bảo cậu có Nhị đào phải không? Năm nay bước sang “hăm” rồi mà chưa thấy có đào nào vác vai? Bói kiểu gì vậy?”
“Không đùa nữa. Thật đấy!”.
Lành cứ ngồi cười. Không tin nhưng mà sợ. Một nỗi sợ hãi mơ hồ bởi những điều không nhìn thấy nhưng có nhiều sự việc trùng hợp với những điều báo trước thông qua những người có tài đoán được tương lai, vận hạn của con người. Lành nghe mẹ nói thế tuy không tin nhưng vẫn hỏi:
“Mẹ có hỏi tiền vận, hậu vận của con ra sao không?” Mẹ cậu không trả lời ngay mà quay ra xin cậu:
“Con cứ ở nhà với mẹ. Ở nhà một thời gian nghe ngóng xem thế nào đã. Ông thầy này bói đúng lắm. Mẹ hỏi công việc. Ông ấy bốc trúng con Cửu vạn liền phán cậu này đúng là số con trâu. Mẹ sợ ông ấy nói không đúng. Ai chả phải lao động chứ! Có làm là có ăn. Mẹ không sợ phải lao động. Nhưng làm ăn cũng có dăm bảy đường”
“Mẹ có hỏi tiếp xem con trâu ấy có vinh dự gì không?”. Chị gái Lành hỏi chen vào vẻ chế giễu.
“Vinh dự gì cái kiếp kéo cày! Thầy bảo người ta chỉ nhớ đến con trâu lúc nó đi cày thôi. Con nào đem thắp hương thì nó mới được người ta vinh danh, nhắc đến. Con nào đem lên giường thờ cũng được nuôi ăn, nuôi chơi cho rõ béo, chả phải làm gì”
“Ông thầy bói này rõ hay - Chị gái Lành tiếp tục mỉa mai - Thầy bói nói gì cũng chung chung. Nếu là con, con sẽ vặn vẹo ông ấy cho nó cụ thể. Người ta hỏi cốt để biết công việc thế nào, lao động nặng hay nhẹ, dễ hay khó, lương thiện hay khốn nạn...”.
“Có chứ! Mẹ cũng hỏi thêm. Ông ấy bốc tiếp được con Nhất vạn”
“Thì sao? - Chị gái Lành chỉ thích bóc vở mấy ông thầy bói - Ông ấy nói sao?”
“Ông ấy nói tiền vận, hậu vận cậu này thuộc hàng Vạn. Cả mấy lần bốc đều trúng hàng Vạn. Số cậu này chắc chắn là số thằng lao động. Con Nhất vạn múa võ dương oai nói lên điều phải tranh giành, đánh đấm mới kiếm được miếng ăn”.
“Mẹ kiếp! Không liên quan đến chân tay sao gọi là làm việc? Lao động chân tay mà gọi là múa võ! Thật quá đáng! Còn các hàng khác thì sao? Xem ông ta luận giải thế nào?”
“Ông ấy bảo ai nằm ở hàng Văn thì được làm quan. Những người ngồi ghế bành. Lớp này là hạng tinh hoa, ăn không ngồi rồi, có kẻ hầu người hạ. Hàng Văn là bề trên. Dân tình gọi họ là Go hay Mít - Go. Ít nhưng không thiếu. Hạng người cao quý này nếu muốn cái áo của ai đang mặc, người ấy dứt khoát phải cởi ra, không í ới gì sất!
Hàng Sách gồm những người làm việc bằng đầu, gọi là Côn, những tay buôn có hạng, chủ sản xuất lớn, sở hữu hàng chuỗi cửa hàng, nhà máy to, điền chủ lớn... Rất có quyền lực. Hàng Sách có nhiều tên gọi theo thứ hạng. Người lao động gọi dân cổ cồn là Côn, là Kinh, là Chăn - Anh Chăn, chị Chăn... Người làm thuê gọi chủ thuê là Ông chủ, bà chủ... Lớp tinh hoa gộp tất cả lại gọi chung là Con buôn. Hạng người này có sự khác biệt nhờ vào trí tuệ thông minh, táo bạo, nhìn thấy lợi nhuận là xúc tiến ngay, tạo nhiều việc cho người khác làm. Không nhiều nhưng có thiên khiếu. Ai ở hàng này thì phú quý, vinh hoa.
Hàng Vạn là hạng cần lao, là số đông. Rất đông. Nhiều ơi là nhiều. Nhiều nhưng không thừa. Lớp người này có muôn vàn tên gọi theo nghề, tên gọi chung là Cửu - Dân Cửu, anh Cửu. Dân lao động cùng cảnh gọi nhau là Rang. Ai ở lớp này nếu chăm chỉ, khỏe mạnh, cũng được no cơm, ấm áo.”
“Sao người ta cứ thích gọi láy ra như thế nhỉ?
Người lao động gọi nhau là rẻ rách là sao?”
“Gọi nhau như thế tỏ vẻ cùng cảnh với nhau, dễ đồng cảm, đúng với thân phận, cũng như chúng em tuy có tên chung là Lính nhưng đều có thứ hạng. Lính thì có lính cậu, lính quèn. Lính ở hậu phương thì gọi lính nhà. Lính đánh nhau thì gọi là lính trận. Ai ở binh chủng nào gọi theo binh chủng ấy. Ví dụ như lính dù, lính tên lửa, lính lái xe, lính không quân, lính đặc công, lính hậu cần, lính bộ binh... Lính như em thì là Lính trơn. Cán bộ thủ trưởng gọi là Cốp” - Lành giải thích.
Chuyện bàn bạc làm ăn quay ra chuyện bói toán, rồi lại xiên sang chuyện của dân gian là nhiều. Cuối cùng Lành quay về chuyện của mình:
“Con quyết định rồi? Một trăm tuổi con mới lấy vợ. Bây giờ phải đi kiếm tiền trước đã”
“Kiếm tiền gì mà lâu thế? Cậu vớ vẩn thật”. Chị gái Lành cười cợt. Chị biết Lành vừa nghiêm túc vừa biết đùa.
“Đừng đùa nữa. Ông ấy giải thích cái số con nó thế. Mẹ lo lắm! - Bà quay sang chị gái Lành, vẫn muốn quay lại chuyện bói toán - Mẹ hỏi ông ấy đào phai là cái đào gì? Là như nào, ý gì? Ông ấy bảo khi bốc được con Thang là coi như tôi đã nhìn thấy trước rồi. Tính cách của con Thang này vừa thực lại vừa ảo giống như gặp người đàn bà từ kiếp trước nhưng quả thật cũng không đến nỗi nào! Cậu này được số gái bao. Mẹ không hiểu thế nào cả. Hỏi gì ông ấy cũng không nói nữa nên mẹ lo lắm. Thật sự mẹ rất lo”
“Vớ vẩn. - Chị gái cậu cau mặt lại, gạt phắt. - Vớ vẩn thật. Bói với chả toán! Không biết thì nói là không biết. Vờ vịt. - Quay sang đối mặt với Lành. - Người hiền lành như cậu, đảm bảo gái tơ Hà Nội đứng xếp hàng như xếp hàng mua thực phẩm!”.
Lành muốn chuyển hướng câu chuyện. Không biết nói thật hay đùa:
“Nếu con người có số phận thì em sẽ làm thay
đổi nó!”
“Ừ, cái gì con người chả làm được. Chỉ xem có quyết chiến hay không thôi”
“Cả cái làng này cũng cần thay đổi”
“Ừ, chị cũng thích lắm! Chỉ có thành phố là thay đổi. Từ ngày chị lớn lên chả thấy cái làng này thay đổi gì cả”.
Lành có thấy sự thay đổi nhưng cậu không biết nói thế nào. Trước đây ruộng là của cá thể. Ai có tiền thì mua nhiều ruộng. Ai không có ruộng thì làm nông thuê. Cách mạng là cuộc thay đổi lớn. Lấy của người giàu chia cho người nghèo, ai cũng có ruộng. Sau này cách mạng thấy làm ăn nhỏ, manh mún, sát nhập vào, làm cuộc cách mạng nhớn hơn. Bỏ cá thể tiến lên tập thể, mỗi làng là một Hợp tác xã. Nhưng cuộc sống chẳng thay đổi được gì. Trước đây nông dân canh tác thế nào, bây giờ vẫn thế. Trước nay nông dân nghĩ gì, bây giờ vẫn nghĩ cái ấy. Trước nay các cụ vác dùi đục đi làm thuê, bây giờ lũ trẻ vẫn nối gót đi làm thuê. Lành không biết cắt nghĩa thế nào cho chị hiểu. Mọi việc hết sức mông lung. Chuyện ở quê Lành cũng hiểu như chị nhưng chuyện tương lai, chuyện đi kiếm tiền nơi miền đất hứa cũng như bao nhiêu thanh niên khác chẳng thay đổi được gì cho nên Lành thấy nó mông lung. Không có cái gì rõ ràng cả. Trong lòng sợ hãi thì thấy nó đen thui thủi. Lòng sáng hơn lại nghĩ điều mình không làm được; nó trở thành lãng mạn, viển vông.
Hai chị em Lành nói chuyện huyên thuyên. Trong sự huyên thuyên có sự lo lắng. Mẹ Lành tỏ vẻ giận thấy không giữ được anh. Lành chỉ biết ngồi cười. Anh muốn cảm ơn chị nhưng không biết nói thế nào. Ở làng cũng có nhiều người hiểu cổ điển như chị, số còn lại hiểu theo kiểu thời đại: hiền thành đần. Mẹ anh chỉ vì những lời vu vơ của thầy bói mà đâm lo nghĩ. Vất vả cho chị gái Lành, ngày nào cũng phải sang nhà cho bà thêm khuây khỏa. Trong ánh mắt của mẹ không thấy bừng lên tia hy vọng làm cho nó long lanh hơn, hoạt bát hơn mà nó đượm màu ảm đạm, chậm chạp, một màu. Màu của nỗi thương yêu, trìu mến nhưng chịu đựng, bất lực. Dù sao Lành cũng cần phải đi. Sự ra đi nào cũng đầy phấn khích của kẻ bước đi nhưng để lại đằng sau nỗi lo lắng, thương nhớ, xót xa cho người ở lại.
5.
Phó nhỏ.
Những bất đồng.
Muôn kiếp là thế
Phó mộc là tên gọi chung người làm nghề thợ mộc. Học việc gọi là phó nhỏ. Đời một phó nhỏ giống như một học trò được cắp sách đến trường trong vai trò của một thằng ở. Có những người học việc gần hết đời người nhưng vẫn là phó nhỏ. Lành biết điều này. Làng anh, đàn ông sống bằng nghề mộc, đàn bà làm ruộng quanh năm đầu tắt mặt tối. Trai làng lớn lên nếu nhà nước không đăng lính thì chỉ có một nguyện vọng duy nhất là làm thợ mộc. Thường thì nhà nào con cái không học hành được nữa thì xem trong làng có tốp thợ nào làm ăn khấm khá thì đem con cái đến để gửi gắm. Đứng đầu tốp thợ thường là một ông thợ có tay nghề vững, có đầu mối công việc làm chủ cánh, gọi là phó cả. Công việc của một phó nhỏ đi theo cánh thợ để nấu cơm, sai vặt cho cả toán thợ và làm cần vụ cho phó cả. Dụng cụ lao động của ai người ấy mang, còn lại phó nhỏ phải mang vác bằng hết. Phó cả chỉ đi người không. Lành gần như thuộc bài làu làu, biết thân biết phận. Những thứ bậc ấy chẳng có quy định nhưng tự mà hiểu lấy. Nếu biết nghe lời thì sẽ được dạy nghề. Chủ không quan tâm, có ý lợi dụng cả đời đi theo phó cả cũng không biết rửa lưỡi cưa, mài cái đục.
Tất tần tật các xưởng thợ từ quốc doanh cho đến xưởng tư nhân đều có quy tắc ấy. Xưởng New Homs chuyên đóng quan tài cũng thế. Anh Phú làm phó cả. Bây giờ người ta thay bằng từ quản lý cho hợp thời thế. Hai anh Hồng, Thắm tay nghề tương đương anh Phú, cũng có thể gọi là phó cả. Trước lúc Lành lên đây, xưởng có thêm bốn người thợ người Bắc Ninh. Bốn người họ là một tập thể gắn bó keo sơn. Những việc làm đúng mà bị hiểu sai họ cùng nhau tranh đấu đến cùng. Có những việc một người làm sai, bốn người họ chung lưng bênh vực bằng được. Việc của phó nhỏ giao cho một người, bốn người họ cùng làm. Ông Xuyền thấy không đúng ý, cũng không bẻ gẫy được cả bó đũa đành chấm dứt hợp đồng cho họ về quê chăn vịt. Khi họ ra khỏi xưởng thợ, ông Xuyền liền chắp tay vái: “Kính lạy tứ tử vùng Kinh Bắc”!
Công việc phó nhỏ bây giờ giao cho Lành gánh vác. Anh Phú cùng quê, lại là em rể trong họ nên ít bị anh Phú sai phái, Lành chủ yếu làm chân sai bảo của hai anh Hồng, Thắm. Lành không biết quan hệ giữa họ với nhau thế nào nhưng thấy rất phức tạp. Mâu thuẫn nhằng nhịt như mạng nhện. Nhưng nó là cái gì thì Lành không biết. Những mâu thuẫn thẳng giữa cá nhân với cá nhân thường không ảnh hưởng lắm đến các hoạt động kinh doanh của xưởng. Có lần Lành ngồi vẽ biểu đồ mâu thuẫn bằng những ký hiệu toán học, những mâu thuẫn chéo, cắt nhau với mâu thuẫn thẳng. Lành phóng to giao điểm rồi khoanh tròn chữ L vào giữa. Mỗi giao điểm đều có một khoanh tròn, trông rất giống cái bùng binh. Giao điểm ông Xuyền - Thắm, ông Xuyền - Hồng + Thắm. Hồng + Thắm - Phú. Phú - Thắm. Phú - Xuyền... tất cả các giao điểm đều có Lành đứng tên. Anh buộc phải liên quan đến các mâu thuẫn ấy dù chẳng muốn dây vào. Các mâu thuẫn thường không giải quyết được với nhau thì họ đem trút vào Lành. Anh là cái cột chùi mũi. Anh là thùng đựng bã chè, là xô nhựa để điếu cày, là hòn đá mài dao, là thùng đựng rác. Lành là cái bô cho cả xưởng nhổ vào. Lành không có quyền giải quyết các mâu thuẫn ấy mà chỉ chứng kiến, rồi lại là cậu phải hứng chịu tất cả. Nó cũng giống như các phe nhóm đối đầu với nhau, dân lành chịu hậu quả. Bài này Lành cũng thuộc lòng nên im lặng chịu đựng là thượng sách, không đứng về phe nào. Anh Phú nhiều phen bị ông Xuyền mắng mỏ thậm tệ, lại bị hai anh Hồng, Thắm té nước theo mưa nhưng Lành cũng không dám đứng ra bênh, cứ giương cặp mắt đứng nhìn khiến anh Phú vô cùng bực bội, anh nhiếc móc bảo Lành là đứa vô ơn, lại không biết tình người làng, tình anh em họ mạc. Lành vẫn im lặng thế, không biết phân bua, không biết an ủi, đó là những thủ đoạn tối thiểu trong ứng xử. Anh Phú mắng chán, ngó mặt anh lập tức không nhịn nổi, cười giẫy giụa: “Cái mặt đần thối, nhìn cái mặt đần thối kìa!”. Lành vẽ thêm một đoạn ngắn độc lập không có giao cắt rồi khoanh hai chữ P - L ở hai đầu đoạn thẳng.
Anh Hồng ngó vào biểu đồ liền hỏi:
“Cái này là cái gì? - Hồng nhìn các chữ cái: P, T, X, H, L - Mày viết báo cáo bằng mật mã rồi gửi cho ông Xuyền phải không?”
Anh Thắm thấy thế cũng châu đầu vào rồi dọa:
“Tao biết mày làm B chính ủy, mày là con rắn giả lươn. Mày về phe với lão Phú chúng tao cũng không sợ. Rồi sẽ có ngày... cứ liệu cái thần hồn!”. Anh bỏ lửng câu nói.
Lành vội vàng phân trần:
“Em vẽ cái biểu đồ nghịch chơi giết thời gian thôi. Chúng mình là thợ, anh Phú cũng là thợ. Việc của các anh, em không quan tâm. Em chỉ quan tâm đến học nghề thôi”.
Anh Thắm bảo:
“Mày nói thế. Biết thế. Vào địa vị như mày đứa nào mà chẳng nói thế. Ai mà biết mày đâm sau lưng các anh lúc nào. Tao nói luôn, nếu chúng tao đi, mày cũng phải đi”.
Một bữa, anh Phú đi theo ông chủ Xuyền mua gỗ, vắng nhà ba ngày. Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Anh Thắm, anh Hồng vừa làm vừa chơi chỉ có Lành không dám nghỉ trừ lúc hai anh sai:
“Lành, nước chín quá rồi, làm thêm ấm chè nữa.”
“Lành, chạy ra ngõ số 0 mua gói thuốc lào mang về đây. Thuốc lào có ảnh bác Phạm Tuân cưỡi trên lưng con chim én ấy.”
“Lành, mười giờ hơn rồi đấy, nấu cơm đi là vừa”...
Trong lúc ăn cơm:
“Lành, vào rót thêm ít nước mắm nữa, cứ choang đầy bát vào cho tao. Ai cắt rốn cho mày mà cứ són ra tí một thế.”
“Lành, vào phòng ông Xuyền xem còn cái gì thì mang tất ra đây. Sáng nay tao nhìn thấy ông ấy xách một túi nặng, ngửi theo chiều gió cũng biết mùi chuối chín. Ông chủ Xuyền chả có tài cán gì, chỉ có tài ăn vụng thợ."
“Lành, sang nhà chị Hân lấy bát dưa cải muối, bảo chị ấy cho nhiều nước vào. Này, xúc một bao mùn cưa mang sang. Nhớ xúc đầy vào đấy”...
Lúc đi ngủ:
“Lành, dậy tắt điện. Nhớ bật bóng bảo vệ ngoài cửa lên.”
“Lành, chín giờ tối nay, dậy ra mở cửa, thấy có người thì vào lấy ba bao đầu gỗ để dười gầm cầu bào mang ra cho người ta. Cấm không được hỏi.”
“Lành, nghe nói quân đội có bài võ tẩm quất hay phết. Mày múa cho hai anh mỗi đứa một bài”...
Lành cứ lặng lẽ làm tất cả những gì hai anh ấy bảo. Phó nhỏ nào bướng bỉnh, không chịu nghe lời sẽ chịu hậu quả rất tai hại do các phó mộc gây ra, và không bao giờ được dạy bất kỳ một miếng nghề nào cả. Trong ba ngày hôm ấy, tất cả các bữa không có thịt thì có cá rán. Hai anh uống rượu ùng ục. Anh Thắm rót cho Lành một chén bắt uống, Lành không uống. Anh dằn chén rượu xuống mâm:
“Chê hả?”
“Em không biết uống.”
“Không biết uống hay khinh hai thằng này. Mà anh nói cho mày biết nhé, ông Phú đem mày lên đây để thay tao, nhưng hai thằng anh em chó chết chúng mày đừng hòng muốn làm bá chủ cái xưởng đóng quan tài này”.
Anh Thắm khoa chân, múa tay cà khịa với Lành. Lành thực tình không biết gì cả, cứ đần mặt ra nghe. Anh Thắm vẫn chưa buông tha:
“Đời này chả tin đứa chó nào sất. Đứa nào cũng vì lợi ích của mình cả. Ông Xuyền không thích hai thằng chúng tao, nhưng không có chúng tao thì ông ấy cũng gắp cứt!”
Anh Hồng can: “Ông quỷnh bỏ mẹ, nói với người biết chứ nói với người không biết thì có ích gì. Thà nói chuyện với cái dùi đục còn hơn.”
“Ai bảo nó không biết. Không biết mà làm B chính ủy. Nhưng soi kỹ cái mặt nó không biết làm sao ấy. Lúc thấy nó hiền, hiền theo kiểu thồn thộn. Lại có lúc thấy cái mặt nó lạnh lùng. Nhưng ở đời, xét cho cùng tất cả những thằng hiền đều thâm nho cả.
Nghe hai anh nói xấu rất thô, Lành không nhịn được liền đáp:
“Em chỉ là lính trơn, lính nghĩa vụ thôi. - Cậu nói cắt ngang lời anh. - Với lại em không biết chuyện gì cả. Các anh nếu biết gì thì cứ bảo cho em biết” “Được. Mày không biết thật chứ!” - Anh Thắm hỏi.
“Nó không biết thật” - Anh Hồng xác thực.
“Biết hay không thì vẫn phải nói cho mà biết. Ông Phú, cái thằng em rể nhà mày cũng là thằng chó chết, tưởng chúng tao không biết à? Ông ấy cũng như một con chó ghẻ luôn bén gót theo ông chủ, nhưng mà ông chủ... Mẹ kiếp ông chủ! Chủ đứa nào cũng thế cả, lúc no ăn thì chúng nó cần con chó giữ nhà, đói thối mồm thì chúng thịt cả chó, ăn cả lông. Mà mày cũng nên cẩn thận với thằng em rể mày đấy. Có lợi cho nó, nó cắn luôn cả mày”.
Anh Thắm đã biêng, anh Hồng khuyên: “Uống thế thôi. Mai uống!”
“Uống hết đi. Mai tính chuyện mai. À, mà mai... mai ông Xuyền biết có rượu thế nào cũng nghi ngờ chúng mình. Tiền ăn bữa nào cũng tính đủ một mớ rau với bốn thanh đậu. Tiền đâu mà mua rượu. - Anh
Thắm ngó sát vào mặt Lành. Mỗi câu anh nói, mùi rượu phọt ra như bơm hơi rượu vào đầy mặt - Đừng có bép xép đấy! Bép xép là chúng tao cho mày lên cầu bào dọc đôi người mày ra. Nghe chửa!”
“Anh không phải dặn. Ai biết việc của người ấy thôi. Mà em cũng đang ăn chung mâm với các anh là gì?”.
Cả hai anh cùng cười hô hô, ha ha. Anh Thắm bá lấy vai Lành rồi nói:
“Đúng! Thằng em nói đúng. Mình cùng một cánh. Đi chung một thuyền. Bơi chung mái chèo. Nhưng nói là một chuyện. Mày đúng là Lành nhưng mà hễ nhìn vào cái mặt là người ta muốn băm. Hiểu không? Mày có biết khuôn mặt mày khó tin đến mức nào không? Nhìn lướt qua cũng biết khuôn mặt lừa dối. Mày phải cải tiến khuôn mặt, hiểu không? Cái mặt người phải biết giấu nó đi như mặt bàn chân ấy, hiểu không? Phải sấp cái mặt xuống để cho người ta không băm được, hiểu không?”
Lành không hiểu. Thực sự Lành không hiểu. Lành ghét cái kiểu lúc nói chuyện anh đều hỏi hiểu không. Anh Thắm lại tiếp tục câu chuyện bỏ dở:
“Anh muốn nói để cho mày biết. Một mình tao biết chả để làm gì, mà tao nói cho mày biết cũng chả để làm gì. Cái bọn chủ ấy à, các anh Chăn ấy. Cái bọn ấy bao giờ cũng đi con đường khác hẳn con đường của anh em mình. Anh em mình có muốn đi sang đấy nhưng chẳng biết lối mà sang. Mày không có tài, một thằng vất vưởng. Mày chỉ biết đi kiếm việc làm, nó đi tìm cơ hội. Khác nhau lớn lắm, hiểu không? Mày đi kiếm miếng cơm, nó đi tìm lợi nhuận. Cho dù mày có lạc đường sang đấy cũng phải lộn về, hiểu không? Làm ông chủ đứa nào cũng có tố chất. Đó là chất con buôn, hiểu không? Muôn đời là con buôn. Gọi thế nào thì vẫn là con buôn. Ông chủ Xuyền là một loại con buôn độc ác mà luật pháp biết vẫn phải làm ngơ. Mày biết vì sao không? - Lắc - Ừ, nó phức tạp lắm, mày không hiểu được vì luật pháp cũng cần tiền tiêu mà. Mà cách luật pháp tiêu tiền cũng hồi hộp, gay cấn lắm! Tiêu tiền là một thú vui, thú ham mê nhất của con người. Nhiều lúc tao nghĩ tâm lý của kẻ kiếm nhiều tiền giống như tâm lý tội phạm. Say mê kiếm tiền và say mê phạm tội có cái gì đó rất giống nhau nhưng tao không thể lý giải nổi. Một loại tội phạm không thể bị bắt - Anh ngừng nói, sờ vào mặt Lành, hỏi - Mày biết gót chân A sin là cái chó gì không? - Gật - Có biết chỗ yếu nhất của luật pháp là chỗ nào không? - Lắc - Là bộ hạ, hiểu không? Sao cái mặt mày ngưỡn ra thế? Bộ hạ là huyệt đạo thực thi pháp luật. Đứa nào biết bóp dái là những đứa biết luật, hiểu không?”.
Lành ngồi nghe anh nói thấy rất lạ tai và cả ngược tai nữa. Thắm trườn qua người Lành vê thuốc lào hút, xỉ bã cả lên chiếu. Tiếng nói của anh bị khói thuốc chẹn lại, ngắc nghẹn:
“Chỗ yếu nhất của con người là chỗ nào? Đố mày biết đấy! - Lành giương mắt ra nhìn, không gật cũng không lắc - Là gia đình... gia đình! đồ đần thối/ hèm/ Bọn làm thuê chúng mình. Không biết ai đặt cái tên Rang cho chúng ta, lại còn tỏ ra nguy hiểm nữa chứ! Mẹ nó!/ hèm/ luôn luôn bị động, hiểu không? Bởi vì chủ cầm cái chuôi, làm thuê nắm cái lưỡi. Mẻ lưỡi chứ không mẻ chuôi - Anh Thắm say lử ra rồi nhưng cái mồm của anh vẫn đòi chém - Nhiều lúc tao muốn chém cho lão Xuyền một phát nhưng nghĩ lại, lão chết rồi thì mình cũng chết đói theo. Lão Xuyền cũng muốn chém cho tao một nhát nhưng lão chắc cũng nghĩ tao chết rồi, không ai đóng quan tài cho lão. Mày lên đây, lão mừng lắm. Lão đang chuẩn bị rút phay ra chém tao một nhát nhưng may quá lão chợt nhận ra mày là một thằng thợ vụng. Vụng nhưng mà hiền. Mẹ kiếp! Chó má! Sao cái mặt tao không hiền hiền một tý nhỉ? Nhưng mà hiền lại phải vụng, ông giời cân bằng tạo hóa đến là khó chịu!”.
Hai người thi nhau dạy dỗ Lành đủ kiểu. Lành ăn xong trước, pha nước chè rồi ngồi hầu chuyện. Anh chỉ biết ngồi nghe không phản ứng gì, thấy thế hai anh càng tức ra mặt. Anh Thắm bảo:
“Sao mày không nói gì? Không nói tức là rình dập sơ hở của người khác chứ gì! Tao đếch cần. Mặt ngụy trang như thằng đần, bụng đầy thủ đoạn. Kiểu ngồi nghe người ta nói, tay gõ gõ mặt bàn. Tao biết hết! Mày không phải là thằng Lành, mày là thằng Lành chính ủy, đúng không?”
“Anh đừng gọi em như thế. Em không phải thằng đần độn, cũng không phải chính ủy. Trong quân đội từ cấp tiểu đoàn trở xuống chỉ có chính trị viên. Anh Phú gọi đùa tí cho vui. Em chỉ là thằng Lành thôi!”
“Tao không tin. Mày có mấy cái mặt nạ tao cũng biết. Xin đồng chí chính ủy hãy cởi ra cho nó nhẹ mặt.
Cái mặt mộc dễ thương lắm!”.
Anh Hồng cười hức hức, môi xòe rộng ra để lộ một cái hang động tăm tối, tím tái như thịt trâu chết. Tiếng anh cũng bắt đầu méo mó, sẹo xọ. Hồng xoạc đôi đũa như chuẩn bị gắp cái mặt của Lành:
“Cái bọn chính ủy đều biết mình sai, sai nhiều quá thì sửa nhưng không bao giờ nhận sai... không bao giờ nhận sai! Hiểu không? Đời tao suýt nữa cũng đi tong vì cái thằng cán bộ huyện. Nó làm sai. Biết sai nhưng lại chuồn đi chỗ khác ở. Mày là thằng đần, không thằng đần nào nhận mình là đần. Hiểu không? Thằng đần!”
Lành không hiểu anh Hồng ám chỉ cái gì. Chắc có việc gì đấy liên quan đến anh trước đây hoặc gặp phải điều gì ghê gớm nhưng không nói ra.
6.
Người hàng xóm.
Nghệ thuật sắp đặt.
Nhà của Họa ở cách New Homs ba nhà. Họa ít hơn Lành một tuổi nhưng vẫn mày - tao với anh. Mới lên đây, ngày nào Lành cũng thấy Họa sang chơi ngồi hút thuốc lào với hai anh. Mọi người đứng dậy đi làm, Họa vẫn ngồi uống nước chè một mình, gần trưa thì về. Chiều lại đến.
Lành hỏi anh Hồng:
“Họa là thằng nào.”
“Họa là thằng Họa.”
“Ý em là: sao không thấy nó làm gì cả. Ngày nào cũng vác xác sang đây uống nước chè, hút thuốc lào chùa?”
“Mày tự hỏi nó đi. Nghe nói lúc bố nó chết, hai mẹ con bán ngôi nhà phố Thuốc Bắc, chia đôi tiền. Mẹ nó không biết đi đâu, còn nó đem tiền về mua căn nhà hai tầng ở cái rịa sông này. Tầng dưới cho thuê, tầng trên một mình nó ở”.
Hàng ngày Lành pha gỗ bằng cưa dọc theo kích thước các anh lấy dấu. Anh Hồng đứng một bên cầu bào dùng cây bào thẳm, bào nhẵn một mặt rồi xếp chồng cả đống. Lành ngừng dọc cưa hỏi:
“Em cứ thắc mắc, nó không đi làm thì biết lấy gì mà sống?”.
Anh Hồng vẫn chăm chú đẩy cây bào. Tiếng bóc gỗ xoèn xoẹt. Phoi bào cuộn tròn rồi văng xuống đất. Anh trả lời:
“Mày nhà quê thì biết cái gì. Trên này lắm cửa sống lắm, không như nhà quê chỉ có mỗi một cửa đi làm thuê mà thôi”.
Anh Hồng không trả lời câu hỏi của Lành khiến cậu cứ băn khoăn tự hỏi, không dám hỏi thêm anh Hồng câu nào nữa. Một lần chờ các anh lấy dấu, Lành ra ngồi uống nước với Họa. Lành hỏi:
“Mày không phải đi làm. Sướng thật!”
“Sướng chó gì. Cận lòi mắt thì làm được trò gì”.
Họa bị cận thị nặng, mắt kính dầy như đít chai.
Lành hỏi:
“Sao người thành phố chúng mày lắm cận thị thế?” - Nó bảo vì người thành phố tiến hóa hơn người nhà quê. Người nhà quê có hai mắt. Người thành phố có bốn mắt. Lành cười phành phạch, lại hỏi:
“Trước đây mày làm gì?”
“Tao học xong đại học, xin mãi không được việc làm. Mẹ tao xí xớn với ông Chủ tịch, xin cho vào làm việc ở Quận. Tao làm ở đấy được một quý, lương chưa bằng lương học việc của mày. Thế là tao phắn!”
“Chả bù cho tao - Lành xuýt nước bọt tiếc rẻ - Lương thấp thế chứ thấp nữa tao vẫn ở”.
Họa ngó mặt Lành một cái, chẳng nể nang gì, nói thẳng:
“Trông mặt mày đầy nốt Gò. Cái mặt còn tốt hơn cả mặt đường nhựa. Mày chịu đựng được. Tao tin. Lương thấp có thể ăn dè được nhưng nhịn nhục thì không nhịn được. Ở phòng tao làm việc toàn con ông cháu cha, toàn một lũ ngu dốt vừa hống hách. Tao nhổ vào mặt chúng rồi đi. Mẹ tao chửi rủa một hồi, bảo phí công của bà ấy. Cãi lộn một hồi, bà ấy bảo từ nay không lo cho tao nữa, không mẹ con gì nữa. Thế là tao đòi bán nhà. Cái nhà vốn của bố tao để lại. Mẹ tao cũng người nhà quê như lũ chúng mày, ra thành phố buôn bán rồi thành lưu manh. Đàn bà lưu manh mặt dầy cả tấc”.
Nghe Họa nói chuyện Lành thật ngượng. Nói chuyện mẹ nó, nó không tiếc từ nào xấu nhất, tệ nhất mà không đem ra gán cho bà ấy. Nó nói rất tự nhiên, không hề động lòng. Lành ngồi nghe, mặt cúi gằm. Nó túm lấy tóc nâng mặt Lành lên, nói đủ cho cậu nghe:
“Ở cái xưởng quan tài này cũng toàn một lũ lưu manh. Tao thấy mày thật thà. Có nhân nhưng có nghĩa hay không thì chưa biết. Lão Xuyền lưu manh nhưng nó là chủ. Lão Phú lưu manh nhưng là con chó ghẻ. Con chó này quanh quẩn miếng ăn bên chủ, hở ra là ăn vụng. Còn hai cái thằng lưu manh kia chẳng là cái gì cả. - Họa hất hàm chỉ anh Hồng, anh Thắm đang lấy dấu ván thiên gần đấy. - Mày phải cẩn thận với hai thằng ấy. Ông Xuyền muốn tống cổ hai đứa chúng nó đã lâu nhưng chưa có thời cơ”.
“Thời cơ cái gì? Ông ấy là chủ thích đuổi ai thì đuổi việc gì phải đợi.”
“Mày kỉnh lắm! Kỉnh một cách lành lặn. Tao nói thật đấy! Nhưng kiểu kỉnh như mày giống một cục đất thịt ngon nghẻ. Lão Xuyền muốn xử lý chúng nó nhưng phải có cớ, chẳng hạn trộm cắp gì đấy của xưởng là lão ấy đuổi ngay. Đuổi chúng, lão Xuyền ăn không tiền lương của chúng nó”.
Lành rùng mình. Mọi việc diễn ra xung quanh Lành cứ nghĩ thật đơn giản. Không ai nghĩ con người lại quá phức tạp và độc ác đến vậy. Họa bảo con người là loài động vật cao cấp nhất song không đáng tin cậy. Hàng ngày Lành cứ cắm cúi làm việc còn tất cả bọn họ cũng đều làm việc như Lành nhưng tay làm, mắt thì theo dõi người khác, tai nghe lỏm chuyện của người khác, mũi đánh hơi xem có mùi gì lạ từ những thứ xung quanh. Lành sợ hãi nghĩ, hàng đêm cậu mở cửa xưởng đem những bao đầu gỗ chất lên xe cho một người nào đấy mà Lành không được phép biết tên, tiền không được cầm. Lành càng sợ hơn. Có lần ngồi sau xe đạp giữ tấm ván đã bào nhẵn hai mặt cùng anh Thắm đi vào ngõ hẻm giao cho ai đó Lành cũng không được biết. Lành nghĩ đi đêm lắm có ngày gặp ma. Chỉ cần ông Xuyền bắt được thì hai anh phải ôm hận về quê. Lành cũng bị vạ lây. Lành thực lo cho mình. Nếu không nghe hai anh, hai anh sẽ chơi xỏ anh ngay lập tức. Tối, anh Phú nằm ngủ ở phòng ông Xuyền. Phòng bên này làm gì anh Phú cũng không biết. Căn phòng hẹp, quan tài xếp đầy xung quanh làm tường. Từ hôm Lành lên chưa xuất buôn được chuyến quan tài nào, thỉnh thoảng bán lẻ được một cái. Tiền lương mấy tháng ông chủ chưa trả. Tiền lương của hai anh đã hai năm chưa lần nào quyết toán. Ông Xuyền chỉ cho ứng thôi. Anh Thắm bàn:
“Mày nghĩ cách rủ ông Phú về quê vài ngày. Đảm bảo lên đây mày sẽ có tiền”.
Dạo này Lành thấy hai anh thậm thụt tính toán số gỗ de, dổi. Xưởng hiện đóng hai loại quan tài. Loại rẻ tiền nhất là phổ biến, thường làm bằng gỗ tạp. Đó là những ngôi nhà dành cho bình dân, tiền chê nhà khó. Loại dưới bình dân gồm những tấm ván ghép hai, ghép ba lại với nhau, bào một mặt chuyên dành cho loại tứ cố vô thân hoặc chết đường vô thừa nhận. Loại tốt đóng bằng gỗ de, dổi, ván dầy, mộng thắt, bào nhẵn hai mặt, chân bệ giật cấp, chỉ nẻo, đục lèo, sơn son thếp vàng. Ngôi nhà của bề trên trông thật tráng lệ. Số gỗ này ông Xuyền tính toán rất sát.
Nhưng sát mấy thì sát vẫn thua thằng ăn bớt. Loại thợ ăn bớt cực kỳ tinh xảo. Tay và mắt chúng lựa theo chiều gỗ, xoay dọc đặt ngang thông minh như một chiếc máy tính, kiểu gì gỗ cũng dôi ra. Số gỗ này âm thầm chế biến thành các đồ gia dụng sinh hoạt. Lành thấy hai anh ăn bớt được hai cái mặt bàn, đem giấu ở chỗ ngủ. Mặt ghế, chân ghế pha sẵn giấu trong những cỗ quan, đậy nắp lên trên. Tối nào hai anh cũng nói làm thêm giờ nhưng thực tế đều làm việc riêng. Anh Phú nằm phòng bên không bao giờ sang xem. Làm xong xuôi, chỉ còn việc chở đi giao cho khách hàng, đến nơi mới lắp ghép. Anh Thắm bảo Lành rủ anh Phú về quê để dễ việc đem ra khỏi xưởng. Việc nghỉ của anh Phú do ông Xuyền quyết định. Anh Phú vắng, ông Xuyền phải trực tiếp trông nom. Hai anh qua được mặt ông Xuyền nhưng không qua được mắt anh Phú. Anh Phú là con ma gỗ, liếc mắt là thấy, hai anh rất gờm.
Lành không biết nói sao. Anh Hồng nhìn chằm chằm. Anh Thắm hỏi:
“Ở nhà bà Vững thường làm gì?”
“Chỉ làm ruộng thôi. Nhưng dạo này bà ấy không đi làm đồng. Bụng chửa to tướng!”.
Anh Thắm bày cách:
“Mày báo với ông Xuyền bảo chị Vững ngã bị sảy thai. Ông Xuyền sẽ nói với ông Phú, ông Phú sẽ hỏi mày, mày bảo nghe hai anh nói.”
“Sao phải lòng vòng thế? Tại sao không báo luôn với anh Phú, phải báo qua ông Xuyền?”
“Phải quanh co thế, sau này mới dễ chối tội. Mày chả nhẽ không biết câu nghe người ta nói à?”
“Anh Phú về nhà, sự việc không có, lên đây hỏi tội hai anh. Hai anh nói sao?”
“Nói sao à? Gặp người làng mày ngoài chợ, nghe người ta nói, hiểu không?”.
Lành ngây người khi nghe anh nói. Nói xong, Thắm cười ken két qua kẽ răng thưa, đen cáu màu nước điếu. Anh Thắm nhìn chằm chằm vào Lành, mày chau lại hỏi: “Thế nào?”. Lành không dám nhận lời ngay. Thật sự Lành rất sợ. Nghe hai anh bàn, Lành thấy nếu làm theo cách này, lỡ bị phát hiện ra, mắc tội đồng lõa, biết mà không nói. Chắc chắn sẽ bị phạt. Chuyện đã đến nước này nếu không bao che cho hai anh thì Lành còn bị hai anh làm hại. Thà chịu phạt còn hơn bị hại. Anh Thắm dặn:
“Nghĩ cho kỹ đi, tí nữa trả lời anh”.
Vừa lúc Họa sang uống nước chè miễn phí. Anh Hồng nói nhỏ vào tai Lành: “Mày có cách gì đuổi nó đi không. Ngày nào cũng sang. Người ta nói người Hà Nội tự nhiên như ruồi, quả không sai. Nó là con ruồi trâu to bự”. Lành biết hai anh rất ghét Họa nhưng không dám ho he. Hai anh rất sợ nếu làm mếch lòng, nó thuê đầu gấu đến vừa bị no đòn, lại bị phạt tiền. Lành thấy hai anh quá phòng xa chứ Họa cũng là đứa vô hại. Nó không có việc gì làm, sang bên này ngồi chả mất vốn mất lãi gì, có chăng tốn thêm của ông Xuyền ít nước chè. Ông Xuyền không có ý kiến gì thì cũng chẳng nên nói gì. Nó cũng là đứa hay ho, chuyện gì cũng biết, đỡ buồn. Lành bảo với anh Hồng:
“Thằng này cận thị nặng. Các cụ nói giầu hai con mắt thì tính toán cái gì. Kệ xác nó đi!”.
Anh Hồng kéo áo Lành lại, trợn hai mắt lên:
“Các cụ. Các ông ấy biết gì thời nay mà nói. Thằng nhà chân quê này, chán thật! Mày biết nó là đứa nào không? Hàng ngày nó không đi làm nhưng vẫn thừa tiền ăn. Tiền bán nhà chia đôi với mẹ nó. Mua nhà về đây không đáng bao nhiêu, tiền còn lại đem cho vay nặng lãi. Hàng tháng lại có tiền cho thuê mặt bằng. Một mình nó ăn sao hết? Mày còn bảo nó không biết tính nữa hay thôi?”.
Lành há hoác mồm ngạc nhiên. À, ra thế! Nó không kể với anh nhưng mọi người biết hết. Nhưng Lành vẫn thấy nó hiền, chẳng làm hại ai. Gặp người thì chuyện nổ đôm đốp. Không còn ai thì trông nó cô đơn, ngồi xây lưng lại, giương hai cái đít chai nhìn con sông Kim Ngưu đầy rác thối.
Anh Hồng quay ra đi làm. Lành ngồi xuống bên Họa. Lành nghĩ nên đem chuyện này ra nói với nó. Nó là hàng xóm. Chẳng liên quan gì. Lành mong nó chia sẻ và tìm cách trả lời sao cho hai anh hài lòng nhất. Vừa nghe Lành nói, Họa tỏ vẻ mừng như bắt được vàng:
“Tốt! Phen này hai thằng sẽ chết! Chết theo kiểu dựng đứng mà chết!”
Lành hoảng hốt bảo:
“Chuyện này không thể đùa được đâu. Tao tin mày, mày đừng nói với ai. Nếu để lộ ra, hai ông ấy sẽ giết tao mất”.
Họa hỏi: “Gỗ các ông ấy giấu chỗ nào?”. Lành thật thà khai ra. Họa ôm lấy vai Lành nói:
“Mày yên tâm đi tao sẽ không nói đâu. Hỏi cho biết, thế thôi! Với lại tao chỉ là thằng hàng xóm sang hút ké điếu thuốc. Có phải chuyện của nhà tao đâu. Cứ để cho mọi chuyện trôi qua như cuộc đời này cứ trôi, giống như những chiếc thuyền nan trên sông, cái ngược cái xuôi, tốt xấu lẫn lộn. Mày là đứa tốt, hỏi đời này còn mấy đứa? Ông Phú bảo mày đần thối. Người lưu manh như ông Phú chu di cái hiền. Mày là đứa hiền. Hiền - Đạo. Đạo còn bị đả kích, chế giễu; vậy hiền chỉ là thứ lót đường mà thôi. Cái nền nếp lưu manh này từ đâu mà có? Mày không phải thằng đần. Hiền chứ không đần. Cứ hiên ngang mà sống”.
Lành nghe Họa nói thế thấy lòng sung sướng vô cùng. Lâu lắm Lành mới lại nhận được một lời khen như thế. Lành vừa sung sướng vừa đau khổ. Những trận đau khổ triền miên, ám ảnh, trơ trụi, bạc màu, rắn câng. Nay gặp một trận mưa mát mẻ, dịu dàng, êm ái đến vô cùng. Lành quyết định không theo lời hai anh. Lành cũng không tố cáo hai anh, cứ coi hai anh như hai chiếc thuyền nan vật vờ trôi sông như Họa nói.
7.
Chị Quế.
Người hàng xóm.
Kiểm tra hàng hóa.
Lành không nói nhưng sau đó anh Phú bỗng nhiên về quê. Anh đi tàu đêm, hẹn vài ba ngày tới mới lên. Buổi sáng hôm sau, Lành vừa mở cửa xưởng thì thấy một người con gái đứng quay lưng lại, mặt hướng ra sông Kim Ngưu. Thấy động, chị quay lại. Lành nhìn chị. Không nhúc nhích. Trời ơi! Ở đâu ra một người con gái đẹp đến vậy. Chị mỉm cười với Lành, Lành mỉm cười đáp lại. Mới sáng sớm mai đã có người con gái đẹp đến hỏi mua quan tài. Thật bất hạnh!
“Chào em! Em là Lành phải không? Thấy anh Xuyền nói mới nhận em vào làm việc. Anh ấy khen em ngoan và chăm lắm!”.
Lành ngượng nghịu. Anh Hồng thò mặt ra cửa, reo lên:
“Chị Quế. Chị đến sớm thế? Sao không gõ cửa”
“Không sao. Tôi đứng đây chờ một lát cũng tốt mà”.
Anh Hồng quay qua Lành giới thiệu:
“Đây là chị Quế Chi nhưng mọi người quen gọi là chị Quế, vợ anh Xuyền. Chào chị đi! Thằng nhõi ranh này!”.
Lành chào chị mà vẫn không tin vào mắt mình. Chị Quế cười đáp lại Lành rồi đi thẳng vào trong xưởng. Lành hỏi anh Hồng:
“Chị Quế bao tuổi mà trông trẻ thế?”
“Ngang tuổi mẹ mày đấy! Con gái Hà Nội chính phẩm. Không như lão Xuyền là con lai, dòng F. Đúng là một đóa hoa tươi cắm trên nóc chiếc quan tài! Phí của giời”.
Ông Xuyền khệnh khạng từ phòng mình đi ra, dắt chiếc xe đạp mi-pha màu xanh ngọc dựng ngoài vỉa hè cất vào phòng, quay ra, đi thẳng vào trong xưởng, đưa mắt đảo một vòng. Chị Quế cũng từ trong đi ra. Lúc ấy anh Thắm mới dậy, khăn mặt vắt trên vai, bàn chải răng cầm tay, vừa đi vừa ngáp kêu giời.
Ông Xuyền hỏi:
“Ngủ bây giờ mới dậy?”
“Đêm qua mơ gặp ác quỷ. Nó cưa tôi ra làm nhiều đoạn rồi lấy rìu bổ”.
Chị Quế Chi túm chặt vai ông Xuyền, kêu lên:
“Khiếp! Mơ gì mà khiếp thế!”.
Ông Xuyền quay qua chị, nói:
“Ông này sợ gì ác quỷ. Quỷ cũng phải nể mặt nó”.
Anh Thắm không nói năng gì chỉ nhìn chị Quế chằm chằm rồi lững thững đi ra. Ông Xuyền kêu anh Hồng lại bảo:
“Sáng nay các ông soạn hết ván de, dổi ra cho tôi tính.”
“Bọn em pha đủ mười bộ thành khí, không thừa, không thiếu. Soạn làm gì cho mất công. Mấy hôm nữa là xong số lượng mười cái áo. Bộ hôm nay kiểm kê tài sản chắc? Không tin bọn này sao?”
“Tin hay không là chuyện của tôi. Cứ soạn ra đi.
Tấm nào chưa bào, hôm nay bào hết đi cho tôi”.
Hai anh đi soạn ván gỗ. Tấm nào chưa pha, ông Xuyền lấy phấn màu đánh dấu lại. Lành vẫn làm việc của mình, tấm ván nào các anh đã lấy dấu, Lành vật lên cầu bào, ghim chặt hai đầu rồi mới dọc. Gần trưa, chị Quế Chi đến bên rủ: “Đi chợ với chị”. Chị lấy xe Honda sừng vểnh của anh Xuyền chở Lành đi. Mùi thơm từ chị tỏa ra khiến cho Lành ngây ngất. Hai chị em vui vẻ nấu cơm bên nhau. Chị Quế hỏi chuyện Lành rất nhiều. Chị hỏi Lành cả những chuyện tập tục nhà quê anh còn không biết khiến cho anh trở nên bé nhỏ trước chị. Lành trả lời giọng ngập ngừng, lúng túng khiến cho chị cười phá lên. Thực trong lòng anh lúc ấy xốn xang khó tả. Từ nhỏ lớn lên Lành chưa gặp một ai như chị, cũng chưa bao giờ nói chuyện thân mật như này với người con gái nào. Sự tự nhiên cộng với âm giọng điệu đà của con gái Hà Nội như cái kén bọc kín anh lại.
Cơm chín, chị Quế bảo mọi người rửa tay ăn cơm. Ông Xuyền đi sang nhà thằng Họa. Lành dọn cơm ra. Mọi người ngồi xuống chầu chực. Ông Xuyền từ bên ấy đi về. Anh Hồng với anh Thắm nhìn nhau vẻ lo lắng. Lành lăng xăng một cách vô tư. Chị Quế cũng tỏ ra vui vẻ một cách vô tư. Anh Thắm nói ý gì Lành không hiểu:
“Ông Xuyền sang nhà ông bạn chì của mày đấy!”.
Lành cãi: “Nó bạn bè gì với em. Nó chẳng nặng tình, nặng nghĩa gì, chỉ nặng nợ thôi”. Anh Thắm cười mỉa: “Văn hoa gớm nhỉ”.
Ông Xuyền ngồi xuống mâm, giơ tay ngó đồng hồ, bảo: “Đợi thằng Phú mấy phút”.
Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, ngạc nhiên. Anh Hồng nói ông Phú hẹn vài, ba ngày mới lên cơ mà. Ông Xuyền gõ ngón tay xuống mặt bàn bảo: “Có việc.
Phải lên sớm!”.
Chị Quế lấy từ trong làn ra chai rượu, hồ hởi nói với mọi người:
“Rượu này tôi rót từ nhà mang ra. Chẳng mấy khi tôi đến xưởng. Những xưởng khác tôi chưa từng đến bao giờ. Mọi việc ở đây đều trông vào anh em cả.
Bữa cơm này tôi đãi, xin mọi người cứ tự nhiên nhé”.
Vừa hay anh Phú về tới nơi, thấy mâm cơm liền vứt cái túi xuống, sà ngay vào. Anh Hồng, Thắm quay nhìn anh Phú cứng đơ người ra. Ông Xuyền ra lệnh cho Lành rót rượu rồi thò tay nhón một miếng thịt quay trong đĩa đút vào mồm. Chị Quế lấy đũa vụt vào tay, bảo: “Hỗn”. Mọi người chào hỏi nhau ồn ào. Chỉ riêng hai anh Hồng, Thắm trông mặt khó đăm đăm. Ông Xuyền nâng chén. Mọi người nâng chén. Lành hỏi anh Phú sao lên sớm thế? Ông Xuyền bảo:
“Về nhà chắc giở trò khốn nạn bị vợ nó đuổi đi.”
“Anh có qua nhà mẹ tôi không?”
“Không. Vừa về đến nhà, thấy tin nhắn của anh Xuyền liền vội vã lên ngay. Tưởng có chuyện gì hóa ra có chị Quế đến thăm xưởng”.
Mọi người cười đùa vui vẻ. Chị Quế xới lưng bát cơm, ăn nhỏ nhẹ, cứ ngồi gắp cho mọi người. Với Lành chị gắp rất nhiều, mỗi lần gắp chị lại nói một câu, cười rất nhẹ. Lành cảm tưởng trong nụ cười của chị có muôn ngàn những tia nắng cuối thu đùa giỡn, màu thủy tinh lấp lánh làm cho Lành run sướng không sao ăn nổi. Mỗi lần như thế, ánh mắt anh Thắm tỏ vẻ ghen tỵ, không giấu giếm. Anh cứ chìa bát ra bảo:
“Chị làm như thế là thiên vị đấy.”
“Anh thôi đi. Tôi thích những người còn tân như cậu Lành.”
“Ai mà biết nó còn lành hay đã nát! Bọn tôi ở một tháng, anh Xuyền cho phép về một đêm với vợ. Thế có khác gì trai tân”.
Mọi người cười đùa rất vui. Không khí bữa cơm giản dị mà vui vô cùng, cũng một phần nhờ có chị Quế. Một bữa cơm thợ có bóng người phụ nữ, chả khác gì bữa cơm Tết của gia đình. Nhưng không ai biết chỉ sau đó một lúc, cuộc vui này đã bị mọi người làm cho nát bét.
Ăn xong, chị Quế vào phòng lấy ra một đĩa ổi găng. Chờ cho mọi người ăn xong, hai chị em Lành thu dọn bát đĩa gọn gàng. Mọi người ngồi uống nước chè, chị Quế xin phép ra về. Ông Xuyền ban cho anh một ân huệ, dắt chiếc xe đạp mi-pha ra cho chị. Chị đón lấy, trước lúc lên xe chị nhìn Lành rồi dặn:
“Lành cố lên em nhé!”.
Ánh mắt của chị có cái nhìn lạ lắm. Nó đằm sâu, quyến rũ, man mác một nỗi niềm thăm thẳm, lại như bao dung che chở. Lành run trong ánh mắt ấy, không nói nên lời. Chị đưa hai ngón tay dài, trắng muốt bẻ lại cho Lành chiếc cổ áo. Cảm giác như có luồng điện chạy dọc toàn thân. Tay chị không chạm vào da nhưng Lành cảm thấu sự âu yếm. Nó là thứ ngôn ngữ không có hình, một thứ âm thanh không tiếng động mà chỉ cảm bằng thứ giác quan cực kỳ nhạy cảm của một loài thú hoang khiến Lành run rẩy.
“Chị về đây!”.
Lành lí nhí nói cảm ơn rồi cứ đứng nhìn theo chị duyên dáng, thong thả đạp xe trong một buổi chiều cuối thu Hà Nội, dưới những tán cây xanh ngắt, màu nắng như màu chuối chín cây nhuộm lên đường phố. Hình lá in trên lưng chị lốm đốm trứng quốc. Đẹp tê tái!
Có tiếng gọi nhưng Lành không nghe. Lành còn đang bịn rịn với không gì cả, không thể định hình xem nó là cái gì. Lành nhớ có lần, vào một buổi tối không rõ là tối nào. Tối nào thì ba thằng đực rựa nằm ngủ trong căn phòng ngột ngạt đầy mùi nước điếu, toàn kể chuyện đàn bà. Hai anh đã có vợ con. Thôi thì đủ trò tình dục khốn nạn, mọi chuyện sinh hoạt vợ chồng ra sao hai anh đều mang ra khoe khoang. Thỉnh thoảng anh Hồng lại quay sang Lành cười răng rắc:
“Thằng nhõi con này ngủ đi, đừng nghe lỏm chuyện người lớn đấy nhé!”.
Anh Thắm nằm ngoài cùng nói với sang:
“Thằng Lành đã được nhìn thấy bà chủ xưởng lần nào chưa?”
“Chưa.”
“Nhìn thấy bà ấy rồi, thế nào mày cũng muốn giết lão Xuyền. - Anh Thắm lúc ấy ngồi nhỏm ngay dậy. - Tao nói chuyện này hai thằng có tin hay không?
Tao mơ thấy mình đè bà Quế ra cầu bào mà quất”.
Anh Hồng như có điện giật liền quay người lại, nhìn anh Thắm, giọng sốt sắng:
“Thấy thế nào? Bên trong có đẹp bằng bên ngoài không? Sao tao không mơ được như mày nhỉ?”
“Đẹp rùng mình, rã thịt, muốn tan thành trăm mảnh! Da bà ấy trắng, mịn màng như sữa Ông Thọ, bóng nhẫy như nõn chuối. Hai vú chắc như hai nắm cơm gạo mùa. Người bà ấy có mùi hương kỳ lạ tao không thể tả được, chỉ biết nó có tên là hương. Thơm lắm! Cái lỗ thiên tạo mới khít khao làm sao. Tao quất như điên. Bà ấy vừa rên, hai tay cứ nắm chặt hai nắm vỏ bào”.
Lành cũng rùng mình. Rợn người. Nhớ đến đây người Lành trào lên một cơn sóng sói, muốn xé xác lão Thắm. Nghe tiếng gọi, Lành quay đầu lại. Anh Phú mắng: “Ông mới bị điếc à?”. Lành ngồi xuống bàn, không biết lúc trước ông Xuyền nói gì, mọi người nói gì. Nghe ông Xuyền nói tiếp:
“Được. Tôi rất muốn anh em mình tự giác nhận, tôi sẽ xem xét. Đ* mẹ! Mang kiếp thằng người, chó má nhất là thằng ăn cắp! Tôi đã tính số gỗ dổi rất kỹ, ít nhất cũng thừa ra hai bộ bàn trà. Lúc sáng nay kiểm lại số gỗ không thừa, không thiếu, cũng không thấy mảnh ván vứt đi nào. Đ* mẹ! Đứa nào ăn, lập tức nôn ra. Không nôn ra, tao sẽ báo công an”.
8.
Nghệ thuật nói dối.
Người hàng xóm biến mất.
Chiến tranh chẳng hề tuyên bố.
Nhìn ông Xuyền ra hiệu đến gần ông ấy, Lành lập tức kinh sợ, người run lên. Hai tấm mặt bàn bào nhẵn, bom - bê hai đầu để dưới sàn nhà, đặt hai tấm ván nắp quan tài đè lên rồi mới rải chiếu. Chiếu ấy Lành nằm. Lành nằm đè lên tang vật ăn cắp. Mấy cái mặt ghế, chân ghế đục đẽo cầu kỳ bỏ trong quan tài không là tang vật của ai. Lành mặc dù đang sợ hãi nhưng vẫn buộc phải nghĩ, xem ai là người nói ra số gỗ ăn cắp. Đã hai ngày hôm nay không thấy thằng Họa sang uống nước chè, hút thuốc lào miễn phí. Lành bắt đầu toát mồ hôi. Mấy hôm trước, lúc Lành đi tắm về thấy hai anh lật tấm ván anh kê nằm rồi đút hai mặt bàn xuống dưới. Lành hỏi:
“Sao lại để sang chỗ em thế?”.
Anh Thắm giải thích:
“Tao không lo ông Xuyền, chỉ sợ ông Phú thôi, nhỡ ông ấy phát hiện ra thì mất ăn. Để chỗ mày nằm là an toàn nhất. Ông ấy có hỏi thì dứt khoát bảo không biết. Nhớ phải cãi đến tận cùng. Nghe chửa? Ông ấy sẽ không bắt mày đâu”.
Lành không biết nói năng ra sao đành cứ mặc cho các anh muốn làm gì thì làm. Lành không lấy, không sợ.
Lành ngước mắt nhìn hai anh, thấy ánh mắt họ đầy lửa muốn thiêu rụi anh. Anh Phú nhìn ông Xuyền. Ông Xuyền nhìn Lành. Anh Phú nói:
“Thằng Lành loại ra. Nó là thợ học việc, không biết nghề, không tính”.
Ông Xuyền lạnh lùng nói:
“Nghề kiếm cơm cần phải học nhưng nghề ăn cắp không phải học. Không loại ai cả. - Nói rồi đứng dậy. - Bây giờ không ai nhận, phải không? Vậy tao sẽ đi khám từng đứa một”.
Tất cả đứng dậy một loạt. Ông Xuyền đi thẳng đến chỗ Lành nằm, cuộn chiếc chiếu ném ra ngoài. Lành đứng nấp sau lưng mọi người không dám nhìn. Ông Xuyền lật tiếp tấm ván. Tim Lành muốn rơi ra. Đột nhiên tiếng ông Xuyền kêu lên: “Đâu mất rồi. Hai chiếc mặt bàn đâu?”. Ông Xuyền không hỏi ai, không ai trả lời. Lành mở to mắt hồi hộp nhìn thì không thấy hai tấm mặt bàn đâu nữa. Ông chủ Xuyền lập tức kiểm tra nốt hai chỗ nằm còn lại vẫn không thấy gì. Ông lập tức chạy ra ngoài lật nắp mấy chiếc áo quan. Không có gì. Ông Xuyền nói to: “Không thể như thế được”.
Lành ngạc nhiên vô cùng, cả anh Hồng, Thắm cũng ngạc nhiên như thế. Hai chiếc mặt bàn Lành nằm đè lên đã không cánh mà bay. Trong đầu Lành lúc ấy cứ loạn cả lên. Chỉ trước đó vài giây đồng hồ, không những Lành mà cả hai anh đều sợ vỡ mật. Bây giờ quay ra nghi ngờ lẫn nhau. Kế hoạch bắt quả tang để ăn không mấy tháng lương của kẻ trộm cắp đã bị phá sản. Ông Xuyền gọi anh Phú sang phòng bên nói gì đó. Hóa ra hai người bàn bạc trước với nhau. Anh Phú giả vờ về quê để kẻ cắp lộ mặt. Bây giờ tang vật biến mất như có phép mầu. Vừa mất gỗ, vừa không bắt được kẻ gian, vừa không thực hiện được ý đồ lợi dụng tình hình để cướp lương thợ. Hai người kéo nhau sang nhà thằng Họa. Lúc này Lành ân hận quá. Lẽ ra Lành không nên tin tưởng con chó bốn mắt kia, cái kẻ ăn không ngồi rồi, quái nhân, lập dị, bất nhân, bất nghĩa. Chỉ còn ba người ở lại, anh Hồng, Thắm dồn Lành vào góc nhà, tay anh nào cũng cầm thước gỗ lim giơ lên. Anh Thắm quát:
“Mày nói với thằng Họa. Tội mày đáng chết!”.
Lành sực nhớ đến bài học mà các anh đã dạy cho, liền nói dối:
“Em không nói. Thật sự em không có nói. Anh có đánh chết em vẫn thế thôi. Em không nói!”.
Anh Hồng dọa vụt cái thước vào mồm Lành, nói:
“Mày không nói, tại sao ông Xuyền lại biết mà đi thẳng đến giường của mày để tìm, lại còn biết chỗ để hai bộ ghế ngồi”
“Anh xem cái xưởng này có chỗ nào để giấu? - Lành gân cổ lên phân tích, - nhà xưởng trống tuềnh toàng thế này, chỉ có thể nuốt vào bụng? Vấn đề không còn là chuyện em nói hay không với thằng Họa. Xin hỏi hai anh đã đem nó đi đâu rồi?”.
Hai anh liền hạ tay thước xuống. Anh Hồng nói:
“Tao cũng đang định hỏi mày câu ấy đây. Nhà chỉ có ba đứa. Ông Xuyền không liên quan. Ông Phú ban ngày làm cùng mọi người, tối ngủ ở phòng bên cũng không liên quan. Hai thằng chúng tao không lấy... ”
“Em cũng không lấy”
“Vậy thì đi đằng nào?”- Anh Thắm hỏi. Câu hỏi của anh Thắm cũng là câu hỏi của cả ba người.
Đêm hôm ấy cả bọn chụm đầu bàn luận nhưng đều bế tắc. Bã chè đổ ra đầy một đống. Thuốc lào hết gần một gói to tướng. Lúc hai anh đi ngủ Lành ngồi dậy vẽ một cái biểu đồ nghi vấn. Lần này Lành thay đổi ký hiệu bằng các ngôi sao cấp bậc trên ve áo lính. Lành một sao. Anh Hồng hai sao. Anh Thắm ba sao. Anh Phú bốn sao. Ông Xuyền được Lành biểu diễn bằng cành tùng. Hai anh Hồng, Thắm có xem cũng không biết cậu vẽ cái gì. Đầu tiên Lành nghi vấn bốn sao là anh Phú. Anh Phú về quê vội vàng, lại đi tàu đêm? Bốn sao nói với mọi người ở nhà vài ba ngày, sao đột ngột quay lên? Cành tùng với bốn sao đã lên kế hoạch nào đấy vì lúc ăn cơm ông Xuyền nói đợi thằng Phú mấy phút? Cành tùng với thằng Họa thì Lành đã rõ. Tin tức do Lành cung cấp cho Họa, Họa nói cho cành tùng. Nhưng điều mà Lành phải tính đến. Cành tùng có phải dàn cảnh hay không thì Lành không biết, cho nên anh không thể loại trừ vì nghe hai anh nói ông Xuyền là ông chủ tồi nhất Hà Nội. Một năm ông ấy tuyển dụng bao nhiêu là thợ mộc nhưng đều tìm cách quỵt công. Thợ mộc bán kính xung quanh Hà Nội 30 km ai cũng biết, chỉ có Lành không biết.
Cuối cùng Lành đặt nghi vấn cao nhất cho hai sao và ba sao. Hai anh luôn tìm cách chơi lại ông chủ. Lương tháng ông Xuyền thanh toán theo quy tắc thế chấp như ngân hàng nhà nước, nhưng ông ấy áp dụng kiểu thế chấp tiền lương lũy kế như người ta tính lũy kế trên hóa đơn tiền điện. Tháng đầu tiên bao giờ cũng thanh toán đúng hẹn. Tháng thứ hai bắt đầu nợ lương theo quy tắc chậm dần đều. Ai bỏ về đều bị mất lương. Nghỉ tự do cũng bị mất lương. Lợi dụng thời gian đi ra làm ngoài cũng bị mất lương. Nói chung là thợ bị trói rất chặt. Hai anh cũng mắc mớ như vậy nhưng tại sao hai anh vẫn theo ông Xuyền mấy năm nay? Lành cứ tính sơ sơ mỗi tháng hai anh cũng nẫng của ông chủ Xuyền ít nhất bằng nửa số tiền lương. Mùn cưa, vỏ bào chỉ là tiền vặt vãnh. Xưởng của ông Xuyền cung cấp quan tài cho các cơ sở chuyên làm dịch vụ tang lễ và các cửa hàng bán lẻ nên ván gỗ nhập về nhiều. Ông Xuyền và anh Phú chỉ đặc biệt quan tâm quản lý chặt chẽ số gỗ tốt. Nhưng hai anh không biết trong số gỗ tạp nhập về có rất nhiều gỗ tốt lẫn vào chỉ khi bào ra mới biết, và trở thành món quà tặng riêng cho hai anh. Từ đó chúng biến thành nẹp cửa, ván huỳnh, thậm chí trở thành bàn thờ gia tiên chuyên giao hàng vào lúc nửa đêm hay vào những giờ mất điện định kỳ... chẳng hạn, nếu hai bộ bàn ghế đóng trót lọt, rời xưởng quan tài vào một đêm Hà Nội lất phất mưa, đường phố hiu hắt người qua, hai anh sẽ có lương cả một quý. Rõ ràng hai sao và ba sao đã ăn một mình, không chia cho một sao xu nào. Người cuối cùng là Họa. Lành đặt nó vào loại nghi vấn vãng lai. Họa luôn dạy Lành rằng nhân loại trên thế gian này có thể khác nhau màu da, tiếng nói nhưng đều chung một quy tắc lột da người. Họa còn bảo trời cho đất ánh nắng thì lại lấy đi hơi nước. Trời tính toán muốn ăn không, nhưng đất nín lặng. Thế là trời đành cho nắng xuống, đất cũng thở hơi ra. Có đi có lại, cứ thế dựa vào mà xoay vòng hấp dẫn nhau. Họa toàn dùng hình ảnh, khái niệm của loài bốn mắt. Nói xa, nói gần thấy cái mặt đần thối của Lành, nó liền nói toẹt ra. Đời không ai cho không ai cái gì. Tao sang uống nước chè, hút thuốc lào. Ông Xuyền ghi sổ. Tao chả nợ nần đứa chó nào cả. Những thứ được hưởng, tao phải đổ mồ hôi não mới có được.
Lành không tìm được nguyên nhân nào đáng chú ý nhất, có khả năng nhất. Tất cả các khả năng đều có thể xảy ra. Lành suy nghĩ lại một lần nữa và loại thêm anh Phú vì đêm hôm đó bốn sao nhờ anh Hồng lai xe đạp chở anh ra ga Hàng Cỏ. Anh chỉ đi người không, chiếc áo mưa cuộn tròn cầm ở tay. Đầu óc bấn loạn. Lành chợt nhận ra rằng nếu cứ ngồi phân tích người khác. Người khác sẽ phân tích Lành thế nào? Thế là Lành vô cùng hoảng sợ. Rõ ràng, Lành là đối tượng nghi vấn sau hai sao và ba sao. Nhưng tai hại nhất là hai anh không bao giờ tin Lành nữa, anh Thắm sẽ xếp anh vào loại nguy hiểm. Ngoài mặt, hai anh không tỏ ra dấu hiệu gì. Các anh cố giấu sự căm giận Cái mặt đần thối. Các anh không còn tin Lành hiền, chân, thực. Hai tấm ván đặt dưới chiếu anh nằm. Tang vật chỉ có ba người biết. Hai anh không lấy. Vậy là Lành lấy. Lành nghi ngờ hai anh là lẽ hiển nhiên, và ngược lại, hai anh cũng có suy nghĩ như Lành đã nghĩ. Anh phải đối mặt với hai anh sau này thế nào đây? Lành không có ai bênh vực. Lành chỉ là phó nhỏ. Lành là bé nhất. Anh Phú là chỗ dựa mỏng manh. Trong anh và Lành luôn có chung dòng chảy. Đó là quê. Cùng quê. Cùng dòng chảy. Nhưng bây giờ Lành không còn tin Phú nữa. Nếu cần bảo vệ quyền lợi của mình, Phú sẵn sàng đem Lành ra thế chấp. Anh Thắm gọi Phú là con chó ghẻ. Con chó ghẻ là con chó của ông chủ. Nó theo ông chủ để nhận được bát cơm thừa. Chỉ vì miếng cơm thừa nó sẵn sàng cắn không trừ một ai.
Lành thở dài, nằm úp mặt xuống gối. Mất điện. Hà Nội vẫn thường hay mất điện bất thình lình. Hai anh nằm bên vẫn ngáy rầm rầm. Nhìn các anh ngủ ngon, Lành thấy cảm thương số phận của người làm thuê. Mất điện làm cho hàng triệu người trong thành phố mất ngủ vì nóng, các anh vẫn ngủ say như chết. Có bao nhiêu năng lượng các anh đã bơm đầy hai cánh tay người thợ, nào dọc, bào, cắt, soi. Nào khiêng vác, đục đẽo, trà nhám, véc ni... đã tiêu hết năng lượng của mớ rau muống, một miếng đậu phụ hai hào, mấy miếng cá khô mặn mòi muối biển.
Lành chợt nhớ chị Quế Chi. Lành nhớ người con gái Hà Nội đáng tuổi mẹ anh nhưng trông vẫn như con gái. Trẻ, đẹp, duyên dáng, điệu đàng và đầy học thức. Sự việc hôm nay chị không hề hay biết, cũng như chị chưa bao giờ biết việc kinh doanh của chồng. Trông chị trẻ trung một cách hồn nhiên vì chị vốn đã hiểu rõ mọi nguồn cơn có trên đời này. Có lẽ chị cũng đành thản nhiên mà sống xung quanh những điều hiển nhiên như nắng, như mưa, như gió bấc, mưa phùn. Cũng như đêm nay mất điện, chị chắc không ngủ được nhưng các phó mộc vẫn ngủ say như chết. Lành nằm trên hai tấm ván quan tài dần thiếp đi. Trong lúc ngủ Lành chỉ nghĩ tới chị. Ánh mắt chị như ánh mắt của chúa Jesu hiền từ, đau khổ. Người nghẹo cổ nhìn xuống. Người là đấng tối cao, những thợ mộc trong xưởng tận cùng hèn thấp. Bọn họ cứ ngước lên. Chị lơ lửng giữa đời không ai chạm vào được.
9.
Thợ máy năng suất.
Thương trường sinh chiến trường.
Những phát súng không tiếng nổ.
Sang mùa đông. Lành nhận ra mùi mùa đông từ ngày cuối thu. Cái mùi nhẹ, khô khác với cái mùi nằng nặng của mùa hè. Lành tiếp tục công việc của mình không nói năng gì. Ai bảo cái gì cũng gật đầu làm theo. Ban ngày anh mặc thêm chiếc áo mút cho đỡ lạnh. Chiếc áo bông Tàu chị anh mua cho để đầu giường làm gối bị anh Thắm đổ đầy nước điếu. Lành lặng lẽ mang ra máy nước giặt. Có lần tay anh đang cầm phích nước sôi định ngồi xuống thì anh Thắm rút chiếc ghế ra. Lành ngã dằn đít xuống mặt đất, phích nước sôi suýt nữa ộc cả vào người. Anh Hồng chạy lại đỡ Lành dậy, mồm mắng anh Thắm: “Mày làm cái trò gì thế. Định giết người à?”. Anh Phú co chân đá đổ bàn nước. Ấm chén bay, vỡ loảng xoảng. Phú tuyên bố:
“Từ nay không có chè cháo gì cả. Đứa nào thích uống nước chè thì ra quán nước”.
Anh Thắm mặt vẫn lạnh tanh. Lành đứng cạnh cầu bào, nước mắt chảy ra. Lúc ấy Lành rất muốn về nhà. Chị anh bảo không sống được thì về nhà. Lành lại không muốn về nhà nữa. Mẹ bảo Lành tuy lớn nhưng trông còn bấy. Lành phì cười. Chị gái bảo hòn đất quăng lên Hà Nội cũng thành ma quỷ. Lành không biết hình thù ma quỷ trông thế nào nhưng ý của chị ấy nói thì Lành hiểu nhưng Lành không thích hiểu theo cách ấy. Lành chỉ nghĩ người ta sống được thì mình cũng sống được. Mấy năm đi lính cũng rèn luyện cho Lành thêm chút ý chí, bền gan. Anh cố gắng chịu đựng, cốt học thành nghề nhưng xem ra dù anh có đóng được một chiếc quan tài hoàn chỉnh thì cũng không thành phó mộc được. Lành bắt đầu thấy ngấm những điều mọi người góp ý với mình trước đây. Chỉ cần Lành nhận ra là đã chơi lại được các anh, rồi Lành cũng sẽ trở thành ma quỷ như chị gái nói. Rốt cục, Lành chỉ có thể trở thành một con ma non giữa thành phố đông đúc này.
Ông Xuyền đầu tư một cái máy cắt gỗ, chạy bằng mô tơ điện. Năng suất gấp hàng chục lần so với dọc bằng cưa tay. Lúc thợ máy lắp ráp xong, ông Xuyền chạy thử. Mọi người đứng vây xung quanh, chỉ có anh Thắm đứng xa không thèm nhìn. Ông Xuyền cho máy chạy, lấy một thanh gỗ đặt lên bàn, đẩy vào lưỡi cắt. Lành chỉ nghe cheo một tiếng, thanh gỗ cắt rời, vết cắt rất mịn. Ông Xuyền vui vẻ nói:
“Một mình nó làm bằng cả bốn thằng chúng mày cộng lại!”.
Anh Thắm nói:
“Châu Âu đã dùng cách đây trăm năm. Có gì lạ đâu. Bọn mũi lõ vứt cái máy cưa này từ đời tám hoánh nào rồi”.
Anh Hồng bảo:
“Cũ người mới ta. Anh Xuyền đầu tư cái này thay sức trâu của thằng Lành. Máy cưa, máy xẻ ở các xưởng chế biến gỗ nhà nước thiếu cha gì”.
Anh Phú nói:
“Thằng cứt này! Đấy là nhà nước. Quốc doanh muốn làm tất ăn cả nhưng không kham nổi. Bây giờ kinh tế nhiều thành phần nhưng nó sợ nhất thằng tư nhân. Nói cho mà biết. Riêng xin cái giấy phép lắp điện ba pha, ông Xuyền cũng mất đứt nửa năm. Chạy tụt quần khắp thành phố mới xin được cái giấy.”
Anh Hồng:
“Tôi biết! Mỗi khi có việc đến cơ quan công quyền là chỉ muốn đấm nhau”.
Anh Thắm chẹp miệng, ngó vào ông Xuyền rồi nói giọng lạnh tanh:
“Nếu là tôi, tôi xoa mỡ từ Phường lên đến Sở điện lực thành phố. Mỡ trơn là ngã cả loạt. Chỉ ba ngày là xong!”
Ông Xuyền giục:
“Thằng chó này! Ai cũng như mày có mà hỏng à! Thôi. Đi làm - Chửi đổng - Kinh tế thị trường cái con c..c. Thằng mua phải hỏi xin thằng bán. Mẹ kiếp!
Kinh tế thị trường cái con c…c!”.
Anh Thắm “xì” một cái nhưng vẫn hùa vào:
“Anh Xuyền nói đúng. Kinh tế thị trường theo kiểu lộn ngược. Đồ hai củ!”.
Ông Xuyền ra lệnh:
“Không hóng hớt nữa. Đi làm!”
Câu chuyện của các anh Lành không rõ. Anh chưa biết nền kinh tế nhiều thành phần là những thành phần nào. Nó có phải là nền kinh tế thị trường thật không hay là nhái thị trường? Vừa nghe ông Xuyền nói mấy từ kia, Lành lại nhớ ngày còn tại ngũ, ngồi hóng chuyện mấy anh cán bộ, Lành cũng nghe thấy nói đến từ này nhưng câu mà Chính trị viên kêu lên hoảng hốt thì Lành nhớ mãi không quên, bảo kinh tế thị trường là kinh tế tư bản, như thế là treo đầu dê bán thịt chó. Để cho thằng tư nhân nó tham gia vào thì mất nước! Chết! Mất nước! Gay go quá! Nhất nguyên chính trị mà đa nguyên kinh tế là mất nước. Chết thật! Thằng tư nhân mà có tiền là nó sẽ làm loạn ngay. Lúc ấy Lành không hiểu nhất nguyên chính trị là gì liền hỏi. Chính trị viên chăm chú nhìn Lành rồi giải thích: Nhất là một.
Điều Chính trị viên nói có nghĩa là chủ Xuyền được quyền tham gia trong lĩnh vực kinh tế nhưng ông Xuyền đầu tư máy móc, không phải thuê nhiều thợ nữa. Điều này làm cho anh lo lắng. Trước đây anh phải dọc gỗ bằng tay. Bây giờ Thằng đó, cái đống sắt to lù lù kia sẽ thay thế Lành. Lành sẽ là người phải ra đường trước tiên. Lành còn nghĩ ông Xuyền chắc chắn sẽ làm cuộc cách mạng trong xưởng thợ. Việc bị mất gỗ tưởng như cho qua nhưng nó trở thành nguyên nhân, những mối đe dọa bắt đầu từ những nguyên nhân đó. Cuộc chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn.
Chiếc máy cưa chết tiệt đã giết Lành một lần. Nó quá năng suất và hậu quả cũng tỷ lệ thuận theo. Mọi ngày, công việc anh Phú phân công mọi người. Cái nào khó và nhàn thì anh làm. Anh thường lấy dấu sai Lành làm. Hôm nào anh đi vắng thì bảo anh Thắm lấy dấu. Hôm nay anh Thắm lấy dấu. Lành bê cả chồng ván đặt cạnh máy cắt. Cắt xong Lành xếp gọn vào một đống. Hai anh lấy ra bào nhẵn từng tấm một. Ngày hôm sau anh Phú lấy tấm ván tiền để đục mộng và chạm chữ thọ, phát hiện thấy nhỏ khác thường. Anh lấy thước đo lại rồi kêu lên: “Cắt hỏng hết gỗ rồi”. Anh Phú kiểm lại tất cả chồng ván thiên, địa, ván thành đều cắt kích thước bên trong cả. Khi pha gỗ Lành cũng ngờ ngợ nhưng rồi tin vào anh Thắm, anh cũng là thợ cả nên Lành cứ việc cheo cho bằng hết. Anh Phú quăng thước xuống đất kêu: “Chúng mày giết tao rồi”, nói rồi quay sang anh Thắm hỏi:
“Mày lấy dấu thế à? Mày giết cả xưởng này rồi”.
Anh Thắm cãi:
“Tôi dặn nó cắt vạch ngoài. Ai bảo nó cắt vạch trong. Đổ thừa gì cho tôi!”
“Anh lấy dấu em cắt theo. - Lành nhắc lại. - Anh lấy thế nào, em cắt thế ấy!”.
Anh Phú chạy lại chỗ gỗ thừa cắt ra quả nhiên thấy còn vạch chì bằng chiều dầy tấm ván. Anh lục tung đống phoi gỗ, tấm nào cũng đều có dấu như thế. Anh nhìn Lành, ánh mắt vô cùng giận dữ. Lành không quan tâm đến sự giận dữ của Phú. Anh bỗng ngạc nhiên vô cùng khi thấy ai đó đã vạch thêm dấu lên những bìa ván cắt bỏ. Lành tiến đến định hỏi hai anh thì anh Phú ngăn lại, tập trung mọi người, anh bàn:
“Tại thằng ranh này mắt nó bị thong manh. Lỗi là ở tôi. Yêu cầu các ông không được nói cho ông Xuyền biết, để tôi xử lý những ván hỏng này”.
Anh Phú kéo Lành sang phòng Tổng thống. Ở các xưởng khác đều có một phòng như vậy. Từ ngày lên đây, Lành chưa bao giờ bước chân vào phòng này. Anh Hồng, Thắm gọi nó là phòng Tổng thống làm cho Lành cứ tưởng phòng của ông chủ phải sang trọng lắm. Bên ngoài kê bộ bàn nước, tường đối diện treo cái bảng ghi tiến độ, địa chỉ giao hàng, số lượng hàng. Một chiếc tủ đựng dụng cụ. Trong cùng kê chiếc giường cá nhân. Tất cả đồ gỗ trong phòng đều đóng bằng gỗ quan tài, cắt vuông rồi đóng đinh vào. Lành thấy có hai tấm ván thiên dựng ở vách. Hôm nào anh Xuyền ngủ lại thì anh Phú trải ván nằm dưới đất. Đằng sau có khoảng đất trống giáp nhà hàng xóm, có cửa sắt khóa lại. Anh Phú bảo Lành ngồi xuống ghế. Vừa ngồi xuống Lành đã định khóc, anh nói với Phú lúc dọc ván chỉ thấy có một đường dấu. Lành pha ván quen, thấy ván nhỏ hơn định hỏi lại anh Thắm nhưng rồi lại không dám hỏi. Anh Phú chửi:
“Tân ạ. Ông ngu lắm. Hai đứa chúng nó vẫn nghi ông lấy mặt bàn đem giấu đi. Nó chơi ông. Nó chơi cả tôi vì tôi phụ trách. Nó chơi cả ông Xuyền vì ông Xuyền khống chế chúng nó. Ông Xuyền thường bảo nhìn cái mặt hai đứa đã thấy ghét! Hai đứa chúng nó nói lại gọi ông Xuyền là cái mặt đầy thù oán. Cả xưởng này đang tìm cách chơi nhau. Ông có biết không?”
“Tôi không biết”
“Đêm qua, mấy giờ đi ngủ?”
“Chưa đến chín giờ. Hôm qua em đau đầu cực kỳ. - Thỉnh thoảng Lành lại xưng em với anh. - Với lại giường của tôi bị các ông ấy đổ nước điếu vào.”
“Khốn nạn! Rõ rồi. Thằng Thắm có chứng mất ngủ, hàng ngày phải uống thuốc seduxen. Cho ông nửa viên đã ngủ kỹ. Hai thằng dậy lấy dấu vào những miếng gỗ thừa. Chỉ mấy nhát vạch cũng đủ giết chết cả họ nhà ông, mà ông thì lúc nào cũng như một tấm ván quan tài! - Anh hạ giọng xuống, an ủi. - Thôi, đừng lo nghĩ nữa. Tôi sẽ lấy gậy của chúng vụt vào lưng chúng. Bây giờ, quan trọng là không cho ông Xuyền biết. Nếu ông ấy biết sẽ bắt ông đền gỗ”.
Lúc ấy Lành lo cuống lên. Một đống ván gỗ to tướng, biết lấy tiền đâu ra để đền. Anh Phú đọc vị, bảo:
“Ông ấy không đền bằng tiền mà đền bằng công lao động. Tính sơ sơ cũng phải mất một năm rưỡi làm không công mới đủ tiền trả. Ông anh đần thối đất của tôi ạ”.
Cuối cùng thì ông Xuyền vẫn biết. Ông ấy gào lên vừa căm giận, vừa bi thương như tiếng chó bị người ta chuẩn bị cắt tiết. Ông tát cho Lành một cái bảo mày là đồ phá hoại. Ông tiến lại chỗ đống phoi gỗ nhặt lên xem xét thì thấy không có vạch chì nào cả. Ông cầm lại, vứt xuống chân anh Hồng, Thắm:
“Hai thằng chúng mày chủ mưu phá hoại sản xuất, hủy hoại tài sản cá nhân, đổ oan cho người vô tội. Tao mời công an đến đây, cho chúng mày đi nghỉ đông trong Hỏa Lò!”.
Hai anh không tin được vào mắt mình, lục lọi đống phoi đầu gỗ thì thấy hầu hết đã bay sạch dấu. Hai anh ngơ ngác nhìn nhau. Lúc ấy chỉ có mình Lành hiểu. Lành không hiểu bằng cách nào đó anh Phú đã thay phoi gỗ mới vào đấy.
Ngày hôm ấy, không biết ông Xuyền gọi hai anh sang phòng bên nói cái gì, lúc đi ra trông thất thểu như hai thằng đánh bả gà. Hai anh nghỉ làm, đi chơi ở đâu đó. Chỉ có Lành với anh Phú hì hụi làm, không nói chuyện. Buổi trưa Lành đi nấu cơm, không thấy hai anh về, ông Xuyền cũng không thấy về. Tất nhiên ông Xuyền đi vì công việc, còn hai anh, Lành thực tình không biết. Anh Phú bảo:
“Hai đứa chúng nó đi thanh toán những chỗ tiêu thụ của gian. Mặc cha chúng nó. Ông Xuyền xử chúng nó đáng lắm!”.
Lành muốn hỏi anh nhiều chuyện. Lành thực sự không muốn làm ở đây nữa nhưng không dám nói. Lành còn muốn cảm ơn anh vì đã cứu mình việc cắt hỏng gỗ thì anh đã nói trước:
“Tôi phải làm thế không những cứu anh mà cứu cả tôi nữa. Không biết ông Xuyền xử anh thế nào. Sau này anh tìm chỗ khác mà làm”.
Hai người ăn cơm. Lành hỏi:
“Liệu ông Xuyền xử tôi thế nào?”
“Không biết! Nhưng ông ấy không bao giờ bỏ qua. Đó là tính cách của ông ấy. Ngay đến bản thân tôi, lương dồn mấy tháng, thanh toán một cục, ông ấy cứ xuýt xoa kêu sao mà lắm thế! Rồi kiểu gì ông ấy cũng xin bớt”
“Vậy hai bộ phôi gỗ bàn trà, theo anh thì ai lấy?”
“Hai thằng ấy chứ còn ai vào đây nữa. Ông Xuyền vẫn còn ấm ức vụ ấy. Phải nói ông ấy ăn không ngon ngủ không yên. Tất cả các ông chủ đều có tính cay cú. Cay cú nhất là bị qua mặt”
“Thế còn thằng Họa. Nó làm thế để làm gì? Mất cả chỗ uống nước miễn phí”
“Ông chả khác gì con ếch. Cái gì cũng chỉ biết giương mắt ra nhìn. Thằng Hồng với thằng Thắm biết từ lâu nhưng chúng nó không nói”
“Biết cái gì. Anh nói cho tôi biết với”
“Ông Xuyền thuê thằng Họa hàng ngày theo dõi các ông. Ông ấy vay tiền lãi cao của nó. Nó cứa cổ ông Xuyền, ông Xuyền cũng biết lợi dụng nó cho đỡ thiệt. Đôi bên cùng có lợi. Ông thì cái gì cũng cứ tưởng, có ngày bụng chửa ễnh ra”.
Lành thật sự bất ngờ. Bất ngờ nhất trong mọi sự việc diễn ra gần đây. Thật không thể tưởng tượng được. Lành nghe người ta nói thương trường như chiến trường, nhưng chiến trường ở đây luôn im lặng, không biết đối thủ ở đâu, xung quanh chỉ thấy toàn người của mình. Lành không đồng ý với cách nói ấy. Không thể như được. Chiến trường sao bì với thương trường được. Chiến trường luôn bị thương trường xui khiến, là lính đánh thuê cho thương trường, giống như cánh thợ làm thuê cho ông chủ Xuyền, chiến trường là những cỗ quan tài. Lành đã học được bài vần vỡ lòng nhưng vẫn không thuộc bài, thỉnh thoảng anh Phú phải phụ đạo thêm.
*
Đêm hôm ấy cả ba người không ngủ.
Muốn ngủ mà không ngủ được. Chiều tối, hai anh trở về, quét dọn Phòng ngủ sạch sẽ. Từ ngày Lành lên đây, các anh không động đến cái chổi. Hai chữ quét nhà trở thành khái niệm hoặc thành lưu niệm. Nhà sạch thì mát. Lành ngửi thấy mùi thơm của không khí từ khe tường nứt toác phía sau. Hai anh thật sự hồ hởi. Một áng chân thành hiện rõ trên mặt.
“Hôm nay chúng mình không cần phải sấp mặt với nhau nữa. Mai, hai anh xa rồi, chả nhớ nhung gì.
Nhớ mỗi thằng em ngon lành mà chịu đựng giỏi như đất thịt. Ngon nhưng không xơi được, chỉ lợi dụng được. Thời này nó thế! Hiểu không? Thôi nhé, ở với nhau nốt đêm nay. Thời gian qua, hai anh có gì không phải mong em bỏ qua. Bọn anh cúi đầu tạ lỗi. - Lành cầm chiếc ấm pha chè trên tay mà run không mở được nắp. Hai anh chân tình với anh thế, anh còn để bụng làm gì. Lành lý nhí bảo. - Không có gì đâu anh. - Lành tiếp tục tráng ấm pha chè, vẫn là thứ chè cám hàng ngày mọi người uống. Anh Thắm gạt đi, rút trong túi áo bông ra lạng chè búp, rồi nói tiếp. - Chè búp Thái Nguyên chính hãng”.
Hai anh trút bầu tâm sự. Hai anh bị ông Xuyền đuổi việc, giờ này không còn gì để giấu. Lành cũng không giấu hai anh, có chuyện gì đều nói ra cả. Anh Hồng bảo:
“Hai thằng tao hận ông Xuyền đến tận xương tủy. Nói thật là bọn tao muốn phóng hỏa đốt cái xưởng này thành tro. Mấy năm làm thợ chả có kết quả gì. Cay đắng lắm! Nhưng chúng tao còn vợ con, còn có mẹ già. Vào “khách sạn Hin-tơn” nằm điều dưỡng thì ai nuôi con mình? Ai trông vợ mình? Ai bảo vệ gia đình mình? Mẹ tao ở nhà, ốm đau quanh năm, nằm liệt một chỗ, tình hình là sắp đi theo các cụ...”.
Anh Hồng cứ thế nói, giọng nhỏ dần, thỉnh thoảng lại xịt mũi một cái, Lành thấy cay hốc mắt. Anh Thắm sai Lành pha ấm chè mới nhưng bảo ra đổ bã ngoài vỉa hè. Hai anh nháy mắt với nhau. Anh Hồng vùng vằng không nghe, hẳn là có chuyện gì đấy giữa hai anh. Anh Thắm chỉ tay vào mặt anh Hồng. Anh Hồng ngồi im. Lành đi ra, không hiểu hai anh nói chuyện gì, lòng trĩu nặng.
Đêm đông Hà Nội buồn tê tái. Rét như cắt. Ngọn đèn đường hiu hắt bên kia chiếu sang. Mặt đường khô quắt, gió bấc lởn vởn như những bóng ma, chạm chỗ nào rùng mình chỗ ấy. Mùi nước sông như mùi nước đái bò. Rất có thể đêm nay Zeus, chúa tể các vị thần rất mê phụ nữ nhưng tính tạp ăn, hóa thành con bò trắng đem theo người đầy tớ gái rồi về làm tình ở đây. Người Hà Nội trông thấy mới đặt tên là Kim Ngưu.
Chờ cho chè ngấm, anh Thắm chuẩn bị sẵn cho Lành cốc nước trắng. Anh rót thêm nước chè đặc vào, nói:
“Mày uống loảng thôi. Chè búp không như chè cám, uống vào mất ngủ. Mai chú mày còn đi làm. Sớm mai bọn anh cũng hồi quê, nghỉ ngơi ít bữa rồi lại lên đường cứu lấy gia đình, cứu sống vợ con”.
Anh nhấp ngụm nước chè, chép miệng rồi nằm ngửa ra giường ê a đọc một đoạn văn mộc. Bài này do các phó mộc chế ra. Ai cũng thuộc. Nó có tên là: Bùm... thợ mộc!
“Hỡi các Phó!- Anh bắt đầu bằng cách lấy gót chân giã xuống tấm ván lấy nhịp - Bùm, bùm, bùm...!
“Tớ cùng các lão kiếp này dụng mộc; bé ở nhà bố mẹ chăm bẵm, bú mớm, lớn đi khắp chốn cùng nơi. Đời phó mộc lang bạt kỳ hồ, lên rừng xuống bể, không có nơi nào mà không có mặt.
Tớ cùng các lão sinh nơi thôn dã, sớm biết phận số chẳng ra gì. Đống ốc bờ tre, đói cơm rét áo. Mồ hôi vắt kiệt đồng gần, cơm trộn trăng sáng đồng xa...
Bùm!
Trai quê
Khuya, sớm không biết tu dưỡng học hành, lêu lổng chơi bời hết khăng lại đáo, gà chửa lên chuồng đã ngáy pho pho.
Tớ có khác gì các lão; thuở thiếu thời: sáng đi học, chiều mót lúa mót khoai, vừa mới choai choai đã đi vác đất. Đội thủy lợi 202 là kếch củ gì không ai biết. Ông chủ là ai cũng không tường mặt, chỉ biết nó có tên là Hợp tác xã!
Chát!
Tớ cũng giống các lão, ai cũng có một thời trai trẻ; đã từng ước trèo lên Sông Ngân đánh dậm. Xích mặt trời, nhốt mặt trăng, tán tỉnh chị Hằng, lừa dắt trâu của Cuội về cày tơi mảnh ruộng.
Tuổi trẻ cứ mơ, mơ cho vui! Vui vủi vùi vui! Cho vui! Đời chôn vùi sau lũy tre làng liền xé rào Hợp tác, theo chân phó cả, mỏi mòn khắp nẻo đường quê, đời phó mộc vẫn hoàn phó mộc!
Tớ cùng các lão bị chủ rủ rê (à, mà không! Tiền nó rủ - Chát bùm bùm!) dắt díu nhau về kinh đô tụ hội.
Đầu đội mũ lá, vai vác đồ nghề, tay xách túi, chân xỏ tông Lào, lầm lũi vỉa hè, bước thấp bước cao
Ba mươi sáu phố cổ lai hy chẳng phố nào nó đón
Quần thảo phố phường chật hẹp, người chật như nêm nhưng lũ thợ mộc vẫn lách người tác nghiệp.
Mình trần trùng trục, đục đục, cưa cưa phố đông ồn ã...
Những lúc toang hồn, buông bào, vứt đục lén nhìn ông chủ đi lại vênh vang với lũ quan trường mà bầm gan tím ruột.
Chúng thường dối trên, lừa dưới, ăn quỵt tiền công. Đem đô la để chạy dự án, ném bạc tiền mua chuộc lòng tin, những điều này ai người không biết?
Tuy thế tớ nguyện một mực cho rằng, Phó mộc chịu cảnh nghèo hèn cũng quyết không để cho bá chủ hoành hành, uốn lưỡi cú diều sỉ nhục nhân công; đem thân dê chó bắt nạt hiền tài.
Tớ cùng các lão tay phải đánh vào tay trái, đục đẽo lầu son, gác tía, chạm khắc đền đài. Há chẳng để cho chủ hưởng tất lợi lộc sao?
Tớ thường bữa đói bữa no, nửa đêm thức giấc, ruột kêu ong óc, thuốc lào xòng xọc.
Chỉ giận!
Chưa ghè dăm cái dùi đục vào đầu, chưa cưa đứt ruột, chưa xén dạ dầy, chưa toán rãnh tim, chưa bào toàn thân ông chủ.
Dẫu cho thân này phơi như phơi gỗ. Dẫu cho thân này đục lỗ, tán đinh tớ cũng cam lòng.
Bùm bùm! Xuỳnh!”.
Tiếng anh Thắm lúc đầu còn hùng hồn, sang sảng, sau như đuối nước, yếu dần rồi nghẹo đầu sang một bên. Lành uống hết cốc nước, phút chốc thấy mơ màng. Anh Hồng, vỗ vỗ vào má Lành:
“Này nhõi con, buồn ngủ rồi à. Để anh nói nốt chuyện này cho mà nghe. - Lành muốn mở toang mắt nhìn anh mà không mở nó ra được. - Phòng Tổng thống mày vào rồi, phải không? - Gật - Đằng sau có cái cửa sắt phải không? - Gật - Sau cái cửa sắt có một cái rãnh. Sát cái rãnh cũng có một cái cửa sắt y như thế, có biết không? - Lắc - Ờ, mày không biết đâu. Bên trong cánh cửa sắt ấy là phía sau nhà cô Loát. Không thể tin được! Vì nhà cô Loát quay mặt ra tuyến ngõ trong, suốt ngày cửa đóng im ỉm. Lão Phú với cô Loát lén lút yêu nhau ở đấy. Cả phố không ai biết gì hết. Ông Xuyền cũng không biết gì. Hàng ngày, chờ ông Xuyền về phố Huế là lão khóa cửa lại rồi bí mật đi lối cửa sau vào nhà cô Loát”. Thôi ngủ đi. Ngủ ngon A Cay ơi!
Lành tỉnh ngủ hẳn nhưng không tài nào dậy được. Lành ngọ nguậy môi như muốn hỏi anh ấy tại sao biết. Anh Thắm bỗng chồm ngay dậy bảo cái gì chúng tao cũng biết. Chỉ có mày là không biết thôi. Anh Hồng ghé sát mặt xuống. - Anh biết cũng vô tình thôi. Hôm nay anh với anh Thắm tìm chỗ bán quan tài. Bọn anh tìm chỗ đẩy bốn chiếc áo quan mà lão Xuyền tính vào lương. Mai bán. Ông chủ bán lẻ quan tài té ra là chú ruột cô Loát. Ông Phú với cô Loát có với nhau một đứa con gái, đang học lớp một. Mày có cháu họ gọi bằng bác rồi đấy. Hơ... hơ... tơ... hơ.”
Tin này như một tia sét. Lành muốn chồm dậy nhưng có cảm giác bị đè dúi xuống. Trời ơi! Phú ơi, Vững ơi! Anh Thắm ngồi dậy tát mạnh vào má Lành một cái, lại nhổ vào mặt một bãi, chửi:
“Đồ con chó! Mày dám cướp miếng ăn của các ông. Rắn đóng giả lươn. Đồ chính ủy!”.
Anh Thắm đứng dậy, vén quần định đái. Anh Hồng đẩy ra, bảo:
“Thế thôi! Đủ rồi”.
Lành không phản ứng được gì nhưng vẫn nhận ra hai anh đang khiêng Lành đi đâu anh cũng không biết.
10.
Ra đi.
Lương quan tài.
Trở thành hàng mẫu.
Sáng sớm. Một chiếc xe tải đỗ trước cửa hàng, khói phụt qua ống xả bị không khí lạnh giữ lại, lơ lửng dưới gầm xe. Bốn người thợ ông Xuyền mới tuyển dụng cũng đến sớm, đứng cụm lại một chỗ.
Chiếc quan tài mẫu bày ra trước cửa. Anh Thắm châm một nén hương cài vào kẽ ván. Ông Xuyền, Phú đi ra. Anh Phú hỏi:
“Đứa nào thắp hương? Bố mày chết hay sao mà thắp hương?”
Anh Thắm đút tay vào túi áo xít xoa: “Rét mướt thế này, thắp nén hương cho ấm cửa ấm nhà”. Ông Xuyền bảo: “Tắt đi!”.
Ông Xuyền ra gõ cửa ca bin:
“Ông tài ơi, tắt máy đi”
“Xe của em hỏng ắc quy không tắt máy được”.
Ông Xuyền lẩm bẩm chửi tài xế. Anh Hồng, anh Thắm đứng trực sẵn, cửa hậu ô tô đã hạ xuống. Anh Hồng kéo anh Thắm ra phía đầu xe, chỗ này khuất không có ai nhìn thấy. Anh Hồng nài nỉ:
“Hay là nói nhỏ với ông Phú cứu thằng Lành ra. Tôi sợ nó chết ngạt mất"
“Ông bị điên à? Tôi đã khoan cho nó một cái lỗ thông hơi. Chết làm sao được. Mà nó là thằng đáng chết, dám phỗng tay trên công sức của các ông à”
“Nhưng mà tôi vẫn thấy thế nào ấy. Chơi trò này ác quá!”
“Chỉ cần mình ra khỏi đây là nó tỉnh thôi. Không nhanh tay lên, nó tỉnh lại thì ông Xuyền sẽ cho hai thằng mình vào trong ấy”
“Nhưng... ”.
Tiếng của ông Xuyền gọi:
“Hai ông đi đâu rồi?”
Anh Thắm lườm anh Hồng một cái rồi dặn:
“Đã đến nước này thì chơi đến cùng. Ông dở hơi bỏ mẹ. Ông Xuyền mà biết thì hai thằng mình đừng hòng mà thoát”.
Hai người đi lại phía đuôi xe. Ông Xuyền hất hàm hỏi:
“Hành lý các ông đâu rồi, không mang đi à?”
“Cảm ơn ông chủ. Tài sản to lớn của chúng tôi đã gửi về quê từ hôm qua rồi”.
Anh Hồng trả lời. Ông Xuyền bảo: “Bắt đầu đi”, rồi vẫy mấy thợ mộc mới tuyển dụng, ra lệnh:
“Các ông xếp toàn bộ số ván ở gian giữa này xuống sàn xe rồi bốc bốn cỗ quan mộc xếp lên trên”
“Anh tha cho hai thằng chúng em. Những ván hỏng này không được việc gì cả”. - Anh Thắm nài nỉ, mặt nhăn nhó rất khổ sở.
“Tao để số ván này nằm chờ chúng mày suốt mấy tháng nay. Nếu mày không lấy thì tao sẽ đem hết lên chùa làm từ thiện để may áo cho trẻ em”.
Anh Phú từ trong xưởng đi ra hỏi anh Thắm:
“Lành đâu?”
“Chắc đi ăn sáng. Nó đi ăn vằn thắn tít trên Hàng Chiếu cơ. Lúc thằng này ngủ dậy đã thấy nó đi rồi”.
Anh Phú không tin lại quay vào tìm, gọi: “Tân ơi! Ông Tân ơi”. Lại thấy tiếng anh Phú: Mẹ nó! Sáng tinh sương, rét đứt cả lông đã mò đi ăn. Ở đây thiếu cha gì vằn thắn mà phải mò lên tận đấy. Đi nửa ngày mới tới chỗ ăn/chẹp/ Đồ đần thối đất!”.
Ngoài kia, bốn người thợ mới đã bốc xong ván, một anh cứ tưởng anh Hồng là khách hàng liền chỉ vào chiếc áo quan để mộc, hỏi:
“Anh mua buôn à? Giá bao nhiêu?”
“Giá hai năm lao động của chúng tao ở cái xưởng này đấy!”
Anh ta liền trợn mắt, há hoác mồm, lắp bắp nói:
“Thế mà em cứ tưởng... ”
Nói rồi co chân chạy vào chỗ mấy anh kia bốc tiếp mấy cỗ quan hai anh đã chọn riêng. Ông Xuyền bảo:
“Bốc tự do, dân chủ. Không được chọn”.
Anh Thắm không hài lòng, làu nhàu: “Cạn tàu ráo máng thế!”. Ông Xuyền đáp: “Đống quan tài này một tay chúng bay làm ra cả. Ăn bớt, ăn xén thì tự cắn đốt tay mình”. Anh Hồng đến bên nài nỉ:
“Anh rộng lượng để cho em một cái đã véc-ni rồi.
Nhỡ hôm nay mẹ em chết thì có cái dùng ngay”.
Ông Xuyền gật đầu: “Mày cũng là thằng có hiếu đấy! Được, chọn đi, trừ cái bày mẫu. Chọn cái bầu bĩnh vào”.
Anh Hồng vào trong xưởng chọn áo quan. Ngoài kia mấy người thợ mới đã đưa xong ba cái áo mộc lên xe, thấy chiếc bày mẫu đã đánh véc ni liền bốc lên.
Anh Hồng đang chọn trong nhà nhìn thấy, vội vàng chạy ra, mặt tái mét, nói:
“Bỏ xuống! Bỏ xuống! Hàng mẫu không được lấy! Mấy ông vào khiêng cho tôi chiếc trong nhà rồi hẵng quay ra đưa nó về chỗ cũ. Nhanh lên!”.
Mấy người đặt cỗ quan mẫu xuống đất, lại quay vào trong nhà bốc cái anh Hồng vừa mới chọn. Mấy ông thợ bảo nhau:
“Chiếc này nhẹ. Chiếc kia nặng khủng khiếp”
“Chuyện. Hàng bày mẫu mà lỵ. Gỗ tốt nên nặng. Nặng ngang với gỗ lim đấy!”.
Hai anh Hồng, Thắm lấy giẻ lau tay rồi chào mọi người, anh Hồng trèo lên thùng xe, dạng chân ngồi trên một chiếc quan tài. Xe nổ máy. Khói khét lẹt. Ông Xuyền và anh Phú đứng nhìn theo. Mấy người thợ bắt tay nâng chiếc quan tài mẫu đặt trả về chỗ cũ, ì ạch khiêng, một anh vô tình tuột tay, các tay kia tuột theo. Chiếc áo quan rơi bịch xuống đất. Mọi người xúm lại. Chiếc ô tô đột nhiên chết máy khựng lại. Hai anh nhẩy ngay xuống đất. Lái xe cũng nhẩy khỏi ca bin, bật nắp ca-pô, lấy ngón tay mồi vào bộ phận chế hòa khí. Anh Thắm cũng xúm lại giúp tài xế một tay. Hai tay anh đè chặt chiếc lò xo, mắt không rời khỏi chiếc quan tài bày mẫu.
11.
Người mẫu quan tài.
Lành mơ màng. Lành không biết mình ngủ kiểu gì mà ý thức việc mình đang ngủ. Không thể hiểu được. Giấc ngủ đằm sâu, ấm áp vô cùng. Lành chưa bao giờ có được giấc ngủ ngon đến như vậy. Lành không còn biết đất trời là gì. Đất trời lúc ấy nhẹ tênh, chả thấy gì cả, như không có trọng lượng vậy. Trời một bên, đất một bên, giống như hai thằng ông mãnh. Mặt trời tròn, quả đất cũng tròn. Một nóng và một lạnh. Một sáng và một tối. Lành cặp hai vật tròn tròn vào nách thì người quay tít thò lò. Trong con người Lành như được giải phóng. Một nguồn năng lượng rất lớn bổ sung vào trong Lành và anh vụt bay đi.
Lành bay giữa trời bao la. Da nắng mùa đông bóng mịn như lụa mỡ gà trải rộng mênh mông, gió thổi hơi lạnh. Lành cọ má mình vào nắng ấm. Từng đám mây xốp quấn quanh thắt lưng, dính vào chân lạnh buốt. Lành bóc gỡ mây ở thắt lưng như bóc mỡ vặt, anh đạp đám mây vỡ vụn phía dưới, gạt đám mây bám vào mặt. Lành giơ tay vẫy mặt trời nhưng ông ấy cứ nhăn nhở nhìn đến là ghét, Lành muốn nói chuyện với ông ấy, bảo với ông ấy tăng thêm ít nhiệt độ nữa, lạnh lắm!
Bỗng nhiên Lành nhìn thấy chị Quế Chi. Chị cưỡi một đám mây hồng phía trước. Lành gọi chị, tiếng mắc trong cổ họng tạo thành tiếng ú ớ. Lành cứ vùng vẫy như điên hòng đuổi theo chị. Mùi thơm từ chị bay ra thoang thoảng như mùi hương trầm. Xung quanh Lành tỏ ra vô cùng chật chội như có cái kìm, kẹp cứng hai vai lại. Nhìn chị trôi thong thả, nhàn nhã trên bầu trời đầy nắng lấp lánh khiến Lành sung sướng, lật đật nghiêng người đạp vào mây lấy đà. Chị hình như không biết có Lành đuổi theo. Chị cứ đủng đỉnh bay như một cuộc dạo chơi trong không gian vô tận. Lành đã cố hết tốc lực mà không đuổi theo được chị. Thế là anh đâm hoảng hốt. Chị có mặt ở trên đời này để an ủi Lành, chị đẹp một cách rạo rực và luôn làm cho người ta muốn vượt qua mọi ranh giới, chạm ngưỡng. Lành muốn bay thật nhanh, muốn được gối đầu trên mây hồng nấp dưới bụng chị. Lành muốn chị ôm ấp, vuốt ve, dỗ dành. Lành thèm lắng nghe âm hưởng du dương từ trong bụng chị, chị truyền cho anh những vị linh đơn cuộc sống để Lành tin vào nó, vững vàng trong cơ thể còn bấy của mình. Lành tuyệt vọng thấy chị bỗng nghiêng người bay vút đi, phút chốc không thấy hình ảnh chị trên bầu trời bao la nắng ấm.
Lành đang du hành thì thấy người lắc mạnh, như một chiếc phi cơ gặp sự cố, đang cắm đầu lao nhanh xuống mặt đất. Lành chính là phi công đang lái chiếc máy bay đó. Lành vội vàng quẫy đạp lung tung trong ca bin buồng lái. Phía dưới chân buồng lái Lành thấy có một lỗ khoan thông hơi sát với chỗ nằm, rồi nghe thấy rất nhiều tiếng động, tiếng búa nhổ đinh phùn phụt cố bật cửa chiếc máy bay. Cửa bật ra. Một luồng ánh sáng chói lòa chụp xuống khiến Lành bưng chặt lấy mặt rồi từ từ mở ra. Lành mờ mờ nhìn thấy rất nhiều người, họ đang chụm đầu cúi xuống nhìn anh. Lành nghe rất nhiều tiếng người đang nhao nhao, đằng sau tiếng người hỗn độn, Lành nghe thấy tiếng rao bán bánh bao, bánh mỳ, xôi xéo... Tiếng chuông xích lô leng keng. Tiếng xe máy nẹt pô, tiếng kít rất nhỏ của má phanh xe đạp... sau cùng là rất nhiều tiếng cười, đầy một vỉa hè cười. Họ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có thể anh bị liệm vào áo quan nhưng sống lại. Có người bảo rét quá nên nó chui vào trong ấy nằm. Gió lạnh quất vào mặt khiến Lành tỉnh táo hơn. Lành nhô hẳn người lên, nách kẹp vào hai bên thành và Lành kịp nhận ra đó là hai thành quan tài. Lành nhìn thấy anh Phú trước tiên. Tay phải anh cầm chiếc xà cầy, tay trái anh cầm chiếc búa nhổ đinh. Mặt anh tái mét, tiếng thở hồng hộc không rõ tiếng mũi hay tiếng mồm. Mùi khói xe xộc vào mũi. Chiếc xe chồm về phía trước.
Lành nhìn thấy anh Hồng ngồi trên nóc chiếc áo quan, hai chân kẹp chặt vào hai thành quan tài trông như một tướng kỵ binh Bạch Vệ trong những bộ phim thời nội chiến của Liên Xô. Chiếc xe ô tô sau khi phụt một bãi khói to tướng rồi lẩn vào trong đường phố đông nghẹt.
(Còn nữa)