Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

LUNG LINH LỤC BÁT

Võ Thị Như Mai
 
MỘT ÁNH LUNG LINH ĐANG TỰ LÀM MỚI MÌNH
(về tuyển thơ “Lung Linh Lục Bát” của Nguyễn Nguyên Phượng)
 
   Nếu lục bát là một phần của tâm hồn Việt, thì tuyển thơ LUNG LINH LỤC BÁT của Nguyễn Nguyên Phượng đặt ra một câu hỏi thầm lặng nhưng không thể né tránh: tâm hồn ấy hôm nay đang ngân lên bằng giọng nào?
 
  Không còn là tiếng ru thuần nhất của đồng quê, không còn chỉ là những nhịp thương nhớ êm đềm, lục bát đã đi qua một hành trình dài để đến với hiện tại. Con người vừa gần gũi hơn lại vừa xa cách hơn chính mình. Trong sự chuyển động ấy, lục bát không thể đứng yên. Và thơ của Nguyễn Nguyên Phượng, ở một nghĩa nào đó, chính là nỗ lực giữ cho thể thơ này tiếp tục lung linh trong một đời sống đã đổi khác.
 
   Điều đáng nói là: lục bát trước hết sống bằng câu thơ. Mỗi câu lục, câu bát vừa là một đơn vị âm thanh vừa là một khoảnh khắc thở của ngôn ngữ. Câu thơ có thể chưa trọn nghĩa, nhưng phải trọn nhịp; có thể chưa khép lại, nhưng phải mở ra. Chính ở điểm dừng của mỗi câu có âm vang lắng xuống, thơ bắt đầu hiện diện.
 
    Trong lục bát, hai câu không tách rời mà nương tựa vào nhau. Câu lục da diết, câu bát ngân dài. Một bên khơi gợi, một bên mở rộng. Sự phụ thuộc ấy tạo nên chiều sâu cho lời thơ. Người viết lục bát, vì thế mà viết từng câu và khoảng cách giữa các câu, viết cái chưa nói hết, cái còn dư vang.
 
    Đọc Nguyễn Nguyên Phượng, có thể nhận ra một ý thức khá rõ ràng về điều này. Thơ không vội khép lại. Nhiều câu dường như dư, dư chữ, dư nhịp, dư cả ý nhưng chính cái dư ấy lại mở ra một không gian cho người đọc bước vào. Đó là một lựa chọn: để thơ không đóng kín, để cảm xúc có chỗ lan ra ngoài câu chữ.
 
Chưa xa nghe đã mịt mờ
Em như giọt mộng cuối bờ đại dương
Lay phay mưa nắng vô thường
Biết đâu cỏ lá một phương diệu tình
Chốn về thơm ánh hương quỳnh
Cầu vồng khát nhớ biến hình sau mưa! (Thơ tình viết dưới mưa - 1)
 
   Ở những câu thơ như thế, ta nhận ra một khuynh hướng đáng chú ý: cảm xúc lan ra trong một trường liên tưởng. Giọt mộng, cuối bờ đại dương, cầu vồng, hương quỳnh, những hình ảnh vượt qua tả thực, những điểm sáng trong một không gian cảm giác. Lục bát ở đây gợi và làm mờ đi để mở rộng. Đặc biệt, cách kết hợp giữa những yếu tố mong manh, giọt mộng, lay phay với những không gian rộng lớn như đại dương, cầu vồng tạo nên một độ căng thẩm mỹ thú vị. Câu thơ vì thế vừa nhẹ, vừa sâu; vừa như thoảng qua, vừa để lại dư vang. Đó chính là một biểu hiện của lục bát khi được đẩy ra khỏi quỹ đạo quen thuộc của nó với nhịp điệu và một trường cảm xúc nhiều tầng.
   Đây cũng là đặc điểm đáng chú ý trong lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng là sự dịch chuyển của giọng điệu. Nếu lục bát truyền thống thường nghiêng về một giọng kể đều đặn, êm ái, thì ở đây, giọng thơ không ngừng thay đổi: khi thủ thỉ, khi bâng quơ, khi chợt sắc lại như một nhận thức bất ngờ. Chính sự chuyển giọng ấy làm cho bài thơ mở ra nhiều lớp rung động khác nhau. Lục bát vì thế vừa à lời ru vừa trở thành một cách nghĩ và một cách tự vấn.
 
Loang chiều bước đẫm tâm tư
Mùa rơi phía nắng tạ từ Thu xa
Áo xanh từ độ khép tà
Trái tim ứa lệ. Ta bà biết tên
Trăng tình một thuở soi nghiêng
Rỗng rang nỗi nhớ... bạc miền sương bay
Nổi nênh sợi bạc hao gầy
Hóa ra hạt bụi cũng đầy chiêm bao
Tiêu đời vào cõi bể dâu
Dòng trôi nhân thế một màu mang mang
Nghe xưa vọng tím địa đàng
Không hoàng hôn sóng. Ngổn ngang kinh chiều… (Kinh Chiều)
 
   Một dòng cảm xúc nghiêng về suy tư, một không gian suy tưởng về thời gian và thân phận. Các hình ảnh như mùa rơi, áo xanh, trăng tình, bể dâu hay hạt bụi nối tiếp nhau vừa cổ điển vừa mơ hồ tạo nên cảm giác trôi dạt, bảng lảng. Nhịp thơ chậm, nhiều chỗ như khựng lại giữa chừng, khiến cảm xúc lắng xuống thành những lớp âm thanh. Điều đáng chú ý là sự pha trộn giữa chất trữ tình và ý vị triết lý, khiến mỗi câu thơ gợi nghĩ và mở ra một cảm thức về đời sống vừa mong manh vừa vô tận.
 
   Bên cạnh đó, có thể thấy một nỗ lực đưa vào lục bát những chi tiết của đời sống hôm nay. Thơ bắt đầu hướng đến những không gian khác: đô thị, những va chạm thường nhật, những cảm giác rời rạc mà con người hiện đại thường trải qua. Khi những chất liệu ấy đi vào lục bát, chúng tạo ra một độ “lệch” cần thiết, một sự không hoàn toàn ăn khớp với nhịp điệu truyền thống và chính sự lệch ấy làm nên cái mới.
 
Lời thương mắt đếm thật thà
Trái tim không tuổi đuối tà áo bay
Em về cúc nở vàng vai
Chết từ vô lượng áo ai thôi vàng
Sổ lồng chim sáo không sang
Đáu đau rét ngọt thả tràn vào Đông! (Thơ tình tháng chạp - 2)
 
   Vẻ đẹp mong manh và ám ảnh. Cảm xúc được đẩy đến độ tinh vi của sự tan chảy. Mắt đếm lời thương, tà áo bay, cúc nở vàng vai, một thế giới vừa gần gũi vừa siêu thực, tình cảm được đo bằng độ sâu của rung động. Nhịp thơ chậm và mềm nhưng ẩn chứa những điểm gãy tinh tế, khiến nỗi buồn thấm dần như cái rét ngọt cuối mùa. Cảm thức về mất mát hiện lên như một sự phai đi của sắc vàng, của hơi ấm, để lại một khoảng trống đầy trăn trở trong lòng người đọc.
Tuy nhiên, điều làm nên sức bền của những câu thơ là ở khả năng giữ được một nhịp điệu nội tại, một thứ nhạc nghe bằng tai và cảm bằng trí nhớ. Những câu thơ đọc xong tưởng như rất giản dị, nhưng lại ở lại rất lâu, bởi chúng gây thương tạo nhớ. Lục bát khi đạt đến độ chín cứ ngân vang.
Ba mươi năm. Cuộc tình mơ
 
Hai ta chung một chuyến đò nhân gian
Trái tim thuở đập mơ màng
Hẹn nhau cuối đất. Đa mang với đời!
Chan chiều mặn đắng hạt vui
Chênh chao sông thẳm nối lời gừng cay
Qua Đông đếm sợi hao gầy
Qua Thu bờ tưởng vẫn đầy chiêm bao
Thơ tôi thả tận phương nào
Miền em neo đậu phía sau đá mòn
Ba mươi năm. Cuộc tình son
Xôn xao trái mộng, vuông tròn cõi xuân…(Đôi tình ba mươi năm)
 
   Dòng hồi tưởng thấm đẫm thời gian. Tình yêu được nhìn lại trong chiều dài ba mươi năm với tất cả những ngọt đắng đã lắng lại. Chuyến đò nhân gian mở ra một cảm thức định mệnh, còn những chi tiết như sông thẳm, gừng cay, đá mòn lại làm dày thêm trải nghiệm đời sống. Nhịp điệu lục bát ở đây vừa đều đặn vừa chênh chao, như chính hành trình của tình cảm qua năm tháng. Điều đáng chú ý là sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa một cuộc tình cụ thể và một cảm thức rộng hơn về kiếp người, khiến bài thơ thể hiện sự kiên trì cũng như những biến đổi của yêu thương.
 
    Lục bát vốn là thể thơ cho phép nói lại, nói dài, nói chậm. Nhưng nói dài không có nghĩa là lặp lại vô ích. Sự lặp, nếu có, phải tạo nên nhịp điệu, phải làm dày thêm cảm xúc. Ở những câu thơ hay, ta thấy chữ như được đặt đúng vào chỗ của nó, không thể thay, không thể bớt. Và đôi khi, chính một chữ rất nhỏ lại giữ toàn bộ linh hồn câu thơ.
 
   Một trong những thử thách lớn nhất của lục bát hôm nay là làm mới mà không đánh mất mình. Làm mới không chỉ là đảo câu, ngắt dòng, hay thay đổi hình thức bên ngoài. Những cách ấy có thể tạo ra cảm giác khác lạ, nhưng chưa chắc đã tạo ra giá trị. Cái mới đích thực phải đến từ bên trong: từ cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ về đời sống.
 
  Trong LUNG LINH LỤC BÁT, điều đáng ghi nhận là sự tìm kiếm ấy không dừng lại ở ngôn từ. Những câu thơ rất hay và cảm động bởi những chi tiết nhỏ, những cảm xúc rất riêng. Lục bát ở đây đối diện với hiện tại, vừa dịu dàng,đằm thắm lại vừa chênh chao, đứt đoạn.
 
   Đoạn thơ mang nhịp điệu tự do nhưng vẫn giữ được linh hồn trữ tình của lục bát, tạo nên một cảm giác vừa gần vừa xa, vừa cụ thể vừa mơ hồ. Em hiện lên như một trung tâm cảm xúc, vừa là đối tượng của tình yêu vừa là điểm hội tụ của thời gian và không gian. Những câu thơ ngắn dài đan xen làm nhịp điệu trở nên đứt nối có chủ ý, như nhịp tim khi xúc cảm dâng lên. Ngôn ngữ giàu tính gợi, nhiều khoảng lặng, khiến bài thơ mở ra một trạng thái, tình yêu được cảm nhận như một sự hiện hữu toàn vẹn, vừa dịu dàng vừa ám ảnh.
 
    Thực ra, lục bát chưa bao giờ là một thể thơ hoàn tất. Nó luôn dang dở, luôn mở. Mỗi bài thơ như một đoạn giữa của một câu chuyện dài hơn, câu chuyện của tiếng Việt, của đời sống, của con người Việt qua các thời đại. Vì thế, viết lục bát hôm nay không lặp lại quá khứ mà tiếp tục một cuộc đối thoại. Nguyễn Nguyên Phượng bước vào cuộc đối thoại ấy với một giọng điệu riêng không quá ồn ào trong cách tân, nhưng cũng không bằng lòng với những gì đã có. Có lúc thơ nghiêng về sự mộc mạc, có lúc lại có những chỗ phá nhịp, lệch giọng như thể người viết đang thử xem lục bát còn có thể đi xa đến đâu. Điều quan trọng hơn cả, có lẽ, là thơ vẫn giữ được một sự thành thực. Trong một thời đại mà ngôn ngữ dễ trở nên sáo rỗng, sự thành thực ấy trở thành một giá trị hiếm. Lục bát, với tất cả những ràng buộc của nó, buộc người viết phải thật, thật với cảm xúc, thật với ngôn ngữ.
 
    Lung linhm nhan đề của tuyển thơ, gợi một ánh sáng không cố định, không chói lòa mà lay động, không đứng yên mà biến đổi. Có lẽ đó cũng là cách lục bát tồn tại hôm nay: một chuyển động liên tục giữa truyền thống và hiện đại. Và nếu phải nói một điều sau cùng, thì có lẽ là thế này: lục bát sẽ còn sống, chừng nào vẫn còn những câu thơ khiến ta muốn dừng lại, đọc chậm hơn một chút, và lắng nghe tiếng Việt vang lên, vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, trong chính lòng mình.
 
screenshot_768
 
SHIMMERING LỤC BÁT – NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG
A SHIMMERING LIGHT RENEWING ITSELF
(Võ Thị Như Mai on the collection Shimmering Lục Bát)
 
    If lục bát is part of the Vietnamese soul, then Nguyễn Nguyên Phượng’s Shimmering Lục Bát poses a question that cannot be avoided: in what tone does that soul now strike a chord?
 
   It is no longer only the pure lullaby of the countryside, no longer just the gentle rhythm of longing. Lục bát has travelled a long journey to arrive in the present. We have become at once closer to ourselves and more distant from who we are. In such movement, lục bát cannot remain still. In a sense, Nguyễn Nguyên Phượng’s poetry is an effort to keep this form shimmering within a life that has already changed.
 
    Lục bát lives first through its lines. Each six-syllable and eight-syllable line is both a unit of sound and a breath of language. A line may not fully complete meaning, but it must complete its rhythm. It may not close, but it must open. At the moment where sound settles and echoes, poetry begins to exist.
 
    In lục bát, the two lines do not stand apart but depend on each other. The six-line aches; the eight-line extends. One suggests, the other unfolds. This interdependence creates depth. The poet writes not only each line, but also the space between lines—the unsaid, the lingering resonance.
 
   Reading Nguyễn Nguyên Phượng, one senses a clear awareness of this. His poems do not rush toward closure. Many lines seem to overflow, of words, of rhythm, even of meaning, but it is precisely this overflow that opens a space for the reader to enter. It is a choice: to keep the poem open, to allow emotion to move beyond the limits of language.
 
   In his lines, emotion spreads through a field of associations. Images, dream-drops, the far edge of the ocean, rainbows, night fragrance move beyond description into luminous points within a sensory space. Lục bát here suggests and blurs in order to expand. The combination of fragile elements with vast spaces creates a subtle aesthetic tension. The lines feel light yet deep, fleeting yet resonant. This is lục bát moving beyond its familiar orbit into layered rhythm and emotion.
 
    Another notable feature is the shifting voice. Traditional lục bát often maintains a steady, gentle tone. Here, the voice changes constantly, intimate, wandering, suddenly sharpened by awareness. This shifting opens multiple layers of feeling. Lục bát becomes not only a lullaby, but also a way of thinking, a form of questioning.
 
    Emotion leans toward reflection. Time and human fate unfold in a drifting, dreamlike atmosphere. Classical and elusive images blend together, creating a sense of suspension. The rhythm slows, sometimes breaking, allowing feeling to settle into layers of sound. Lyricism merges with philosophical depth, opening a sense of life that is both fragile and endless.
 
    At the same time, Nguyễn Nguyên Phượng brings elements of contemporary life into lục bát, urban spaces, everyday collisions, fragmented sensations. These create a necessary deviation, a slight misalignment with traditional rhythm. And from that misalignment, something new emerges.
 
    There is a fragile, haunting beauty in his poems. Emotion reaches a refined intensity, almost dissolving. The world feels both intimate and unreal. The rhythm is soft but carries subtle fractures, allowing sadness to seep slowly, like a lingering sweetness of cold at the end of a season. Loss appears as a fading of warmth, of color, leaving a quiet emptiness within the reader.
 
    What gives the poems their lasting power is their inner rhythm, a music heard by the ear and remembered by the mind. The lines may seem simple, but they remain. They create both tenderness and memory. When lục bát reaches this level, it continues to resonate.
 
    There is a stream of memory shaped by time. Love is revisited across thirty years, carrying both sweetness and bitterness. The “ferry of human life” suggests destiny, while details like deep rivers, ginger, worn stone deepen lived experience. The rhythm is both steady and unsteady, like love itself over time. Personal experience blends with a broader sense of human existence.
 
    Lục bát allows repetition, extension, slowness but repetition must deepen rhythm, not repeat emptily. In strong lines, each word is precisely placed. Nothing can be replaced or removed. Sometimes, a single small word holds the entire soul of a line.
 
    One of the greatest challenges of lục bát today is renewal without losing itself. True renewal does not come from rearranging form alone, but from new ways of seeing, feeling, and thinking.
 
    In Shimmering Lục Bát, this search goes beyond language. The poems are moving and intimate, built from small details and personal emotion. They face the present, gentle yet unsteady, tender yet fragmented.
 
     The rhythm may loosen, but the lyrical soul remains. The poetry feels both near and distant, concrete and elusive. Love appears not only as an object, but as a state of being, soft, persistent, and haunting.
 
    In truth, lục bát has never been a finished form. It remains open, unfinished. Each poem is only a fragment of a larger story—the story of the Vietnamese language, of life, of people across time. Writing lục bát today is not repetition, but continuation of a dialogue.
 
    Nguyễn Nguyên Phượng enters this dialogue with a distinct voice, simple in innovation but unwilling to settle. At times simple, at times breaking rhythm, his poetry explores how far lục bát can go.
 
    Above all, what remains is sincerity. In an age where language easily becomes empty, sincerity becomes rare. Lục bát, with all its constraints, demands truth, truth in feeling, truth in language.
 
    SHIMMERING, the title suggests a light that is not fixed, not dazzling, but trembling, shifting, alive. Perhaps this is how lục bát exists today: in continuous movement between tradition and modernity.
 
    And in the end, lục bát will continue to live as long as there are lines that make us pause, read more slowly, and listen to the Vietnamese language echo within us, familiar, and yet newly alive.
 
screenshot_504
 
Vo Thi Nhu Mai
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 40
Trong ngày: 419
Trong tuần: 3408
Lượt truy cập: 1031055
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông