Phạm Hồng Nhật
HẠ THỔ
Sâu dưới lòng đất, vĩnh viễn dưới gầm trời
Hạ thổ
đã làm đắm say tuyệt đỉnh của bao người
từ men rượu nhạt
Hạ thổ, sự tinh khiết đến tận cùng
chắt lọc từ âm thầm đất đai
âm thầm bầu trời
lắng đọng kiên nhẫn bền bỉ của thời gian
Quên đi để tích luỹ đâm chồi nảy lộc nhớ mong
chờ giây phút bùng lên tuyệt đỉnh
từ trái tim bất hạnh
thành vĩnh hằng sáng chói
đó là Hạ thổ tâm hồn
Cái giá trị của vinh quang
là sự im lặng thuần khiết.
NGÀY XƯA TRONG PHỐ
Tặng nhà giáo nhạc sỹ Trần Ngọc Anh
Nâu sòng xen lẫn cỏ may
Thành Hoàng, khánh đá, tường dày gạch hoang…
Hào sâu nước quẩn quanh năm
con thuyền huyền thoại ướt đầm sao đêm
cánh cung, ngon giáo, cồng chiêng
thú rừng, giặc giã triền miên bao đời
Đình chùa xa cũ một thời
tiếng chuông neo đậu chân trời hanh heo
cao tầng lấn át xóm nghèo
Giếng Thần, nước Thánh uống chiều tìm khô
Đồi lim cổ thủ như mơ
dặng duối nghìn tuổi bây giờ còn xanh
lăng Ngô Quyền lẫn bình minh
nghĩ suy cuồn cuộn, nghĩa binh trùng trùng
Cuối thu sen đã cạn dần
trăng vàng đầu ngõ, bàn chân lạc đường
Xứ Đoài mây trắng đọng sương
âm u tĩnh lặng đoạn trường chông chênh
Thời gian xô lệch nghĩa tình
ngày xưa trong phố như mình trong ta
linh thiêng vái lạy Đền Và
bước ra chạm mặt những tòa tháp đôi
Hao mòn bia tượng đứng, ngồi
nghìn năm hóa Thánh, thời tôi hóa Rồng.
DÒNG SÔNG SỎI
Sáng mới tới, nắng còn non lắm
tràng cát bãi bờ tãi ra phơi
dòng xuôi, thuyền ngược mơ mở Hội
rừng núi xanh hoang nhấp nhô trôi
Xa suốt hai triền thơm ấm lạ
hoa trái mùa này quấn quýt nhau
đàn cò trắng lóa vương tia chớp
gió vít cong cần, Sông Sỏi đâu?
Sấp ngửa bao lần tìm Sông Sỏi
ngờ vực còn tỳ vết bùn nhơ
sỏi sâu lòng nước nhòe hư ảo
vội vã bỏ quên cả Bến Chờ
Có phải sông còn đang rải sỏi
từ thượng nguồn lội tới làng quê
gương trời soi xuống như lưỡi kiếm
múa với Cao Nguyên chẳng muốn về
nặng tình buông bỏ kiếp khổ đau
một mực cạch chừa bôn ba cũ
đắm đuối yêu thương chẳng chuốc sầu
Đâu toàn những sỏi như tên gọi
uốn lượn hóa rồng tôi hóa tôi
sông giữa thế gian mềm như lụa
sạch trong, trong giông bão, cuộc người…
QUAN HỌ LỘI TRONG TUYẾT RƠI
Giao duyên Quan họ Mời Trầu
tình con bướm lượn, sắc màu thắm hoa
ao làng ngấm vị phù sa
xứ người tuyết trắng trượt đà dưới chân
Lời ca sỏi đã cũng cần
mơ dàn thiên lý, hóa thân câu Kiều
bao nhiêu đắm đuối khi yêu
say sưa ngây ngất những chiều chiêm bao
Trời Âu quên nón Quai thao
mớ ba, mớ bảy gió gào thâu đêm
mắt lá dăm lúng liếng nhìn
con thuyền lá liễu đợi thềm sông Mê
Quan họ điệp khúc xa quê
bàn tay muốn níu, lời thề lại đi
Người ơi, người ở đừng về
lạnh va Quan họ buốt khuya mặt đường
Đành nhìn núi tuyết đang buông
đôi môi cắn chỉ, buồn thương lấy mình
ai xui trúc mọc sân đình
phải liều lên thác xuống ghềnh, khổ tôi
Quan họ lội trong tuyết rơi
quặn đau cả gốc, buông lơi cả cành
trắng trời sương tuyết mong manh
Bài ca se chỉ không thành đâu em…
GẶP CHIỀU Ở NGÃ BA SÔNG
Gặp chiều ở ngã ba sông
chân co chân duỗi mệt không muốn về
hàng cau, khóm chuối, bờ tre
bủa vây mục rỗng con đê lở bồi
Gặp chiều ở ngã ba tôi
thưa vắng khoảng trống, kiếp người dở dang
ngược xuôi một nắng hai sương
một hoàng hôn cũ, một thương mến dài
Nơi em chiều vắng đang gày
rừng thưa trút nắng cây đày đọa thân
ngồi buồn vun vén ngày xuân
một mình để lại vạn lần mơ hoa
Găp chiều giờ ngọ đang trưa
lấm lem như kẻ cày bừa đổi công
dở người cõng gió đi vòng
đêm đen nhào nặn chiều cong cả chiều…
HOÀNG HÔN XA LÝ VÀ TA
Tặng Khổng Đức Thiêm
Một mảng nắng lạc giữa rừng
cảm như trời xuống lưng chừng ngọn cây
miệt mài Xa Lý[1] hôm nay đường trơn dốc dựng vơi đày trong sương
Ngày rằm vái vọng bốn phương
nén nhang cháy dở, người thương nhớ người
thời gian già cỗi lên ngôi
mái chùa trĩu nặng gánh lời cầu mong
Chèo khuya nước vẩn rêu phong
sấm reo chớp giật thác chồng chất cao
buồn cô đơn những vì sao
nhạt nhòa tâm trạng với bao muộn phiền
Nơi xưa trinh bạch tình duyên
qua nhanh ngày cũ lạc miền gió trăng
cuội nằm lòng xuống lặng ngân
nghe xô ngọn sóng, vang gầm thú xa
Hoàng hôn Xa Lý và ta
tiếng chuông số phận loang ra đại ngàn
nổi chìm trống vắng nhân gian
vàng thu mòn mỏi chiều tan trong chiều
P.H.N
[1] Đọc cuốn sách “Phương ngôn Xứ Bắc” xuất bản năm 1994 của Tiến sĩ Sử học Khổng Đức Thiêm có ghi chú: Xa lý là tên địa danh hành chính một làng quê hẻo lánh miền núi thuộc huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.