Nguyễn Hồng Quang
ĐOÁ ÂN TÌNH TRÊN ĐÁ
Mùa đông trên cao nguyên đá Hà Giang những năm thập niên tám mươi của thế kỷ trước thật sự là một thử thách nghiệt ngã đối với ý chí con người. Đó không chỉ là cái lạnh thông thường của miền xuôi, mà là cái rét độc địa, hun hút lùa qua từng vách đá tai mèo sắc nhọn như gươm tuốt trần. Gió ngàn rít lên từng hồi qua khe núi, mang theo cái buốt giá như cứa vào da thịt, len lỏi tận vào trong từng hơi thở, từng thớ thịt của người chiến sĩ. Có những ngày, mây mù đậm đặc phủ kín khắp các triền núi đồi, nuốt chửng cả những con đường mòn cheo leo. Anh em chúng tôi đứng cách nhau chưa đầy chục mét mà mắt thường đã khó nhận rõ mặt người, chỉ còn nghe thấy tiếng bước chân rầm rập và tiếng hơi thở vấp vào sương giá.
Ngày ấy, cuộc sống của người lính biên thùy còn muôn vàn thiếu thốn. Trang phục chống rét của chúng tôi chỉ vỏn vẹn là chiếc áo bông trấn thủ cùng chiếc mũ vải có hai quai che tai – món bảo bối duy nhất để giữ chút hơi ấm cho da đầu. Ban ngày, nhờ có việc lao động, hành quân và huấn luyện thao trường, cái lạnh còn phần nào bị đẩy lùi. Nhưng khi đêm đến, không gian tĩnh mịch của núi rừng buông xuống, cái lạnh từ đá núi bốc lên, từ trên trời đổ xuống mới thực sự là một trận chiến cam go. Mặc cho chúng tôi có mặc nguyên cả quần áo dài, đắp chung nhau những chiếc chăn bông bộ đội, thân hình vẫn cứ run lên bần bật theo từng cơn gió lốc. Giấc ngủ của người lính biên cương chỉ là những phút giây chập chờn, trong hơi sương buốt giá của vùng cao.
Trong suốt thời gian đóng quân nơi trận địa núi đá dựng đứng này, tôi cùng đồng đội đã trải qua biết bao gian khổ, hiểm nguy để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng nơi địa đầu Tổ quốc. Những đêm thức trắng ôm cây súng lạnh ngắt bên chiến hào, những buổi tuần tra đôi chân rớm máu vì đá sắc... tất cả đã tôi rèn nên bản lĩnh của người lính Cụ Hồ. Và cũng chính từ mảnh đất gian lao ấy, những kỷ niệm sâu sắc, những câu chuyện ấm áp nghĩa tình cứ tự nhiên khắc sâu vào tâm trí, trở thành một phần tài sản vô giá trong suốt cuộc đời tôi.
Nhớ nhất là mùa đông năm 1983, đơn vị chúng tôi đóng quân tại xã Pả Vi, thuộc huyện Mèo Vạc. Đó là một năm thiên tai khắc nghiệt khi tuyết rơi dày đặc – một hiện tượng hiếm thấy bao năm qua, biến cả một vùng núi rừng, làng bản hoang sơ thành một thế giới trắng xóa, lạnh lẽo. Tựa như có một bàn tay khổng lồ nào đó đã đổ xuống núi non trùng điệp hàng trăm vạn tấn tuyết trắng tinh, mềm xốp như bông nhưng lại chứa đựng cái lạnh thấu xương. Bầu trời xám mờ, những bông tuyết cứ thế bay bay, đậu kín lên mái nhà vách đất, đọng lại trên từng cành cây ngọn cỏ. Sức nặng của tuyết khiến những cành sa mộc, gỗ nghiến cổ thụ cũng phải gãy gục, phát ra những tiếng kêu răng rắc giữa đêm thanh vắng.
Cảnh vật hết sức lạ lùng, đàn gà của dân bản đứng co rúm một góc, không còn chỗ để bới mồi kiếm ăn. Đường sá bị phong tỏa hoàn toàn, xe ô tô quân sự muốn di chuyển qua các đoạn cua tay áo nguy hiểm phải có người đi bộ dò dẫm dẫn đường từng mét một.
Chính vào cái đêm tuyết rơi dày nhất ấy, trung đoàn tôi lại đang tổ chức diễn tập bắn đạn thật theo kế hoạch. Giữa trận địa, lều trại dựng tạm bằng bạt và cọc tre nứa không chịu nổi sức nặng của các lớp tuyết đè lên, đã bất ngờ đổ sập xuống giữa đêm khuya. Sáng hôm sau, khi tiếng còi báo thức vang lên, có đồng chí mặt mày méo mó kể lại rằng, đêm qua ngỡ đồng đội nằm bên cạnh gác cái chân hộ pháp lên bụng mình làm suýt nghẹt thở, đến khi tỉnh dậy gạt ra mới biết đó là một khối tuyết lớn lọt qua khe bạt rơi xuống!
Tuy gian khổ là thế, nhưng cái háo hức của những chàng trai mười chín, đôi mươi lần đầu tiên trong đời nhìn thấy tuyết rơi đã làm bừng sáng cả không gian xám xịt. Ai nấy đều phấn khích đưa bàn tay thô ráp của mình ra hứng những bông tuyết lạnh buốt, tò mò nếm thử vị tinh khiết của đất trời, rồi tinh nghịch nặn thành những viên tròn ném nhau cười vang cả góc rừng. Tuyết bám vào lớp vải áo trấn thủ thì khô ráo, nhưng nếu vô tình rơi vào cổ áo hay chạm vào làn da trần thì lập tức tan ra, biến thành những giọt nước chạy dọc sống lưng, mang theo cái lạnh buốt thấu tận xương tủy.
Quanh chuyện tuyết rơi năm ấy còn có những giai thoại cười ra nước mắt của cánh lính trẻ. Có anh nuôi của đơn vị, trong một buổi sáng sớm chuẩn bị bữa điểm tâm, thấy tuyết đọng dày trên mái bếp liền nảy ra sáng kiến gạt xuống, cho vào nồi đun thử để lấy nước nấu ăn cho đỡ phải đi gánh xa. Kỳ lạ thay, khi tuyết tan hết, anh ta nhìn vào nồi thì thấy làn nước có màu hơi vàng nhạt. Anh nuôi liền chạy ra sân, oang oang khẳng định với cả tiểu đội bằng một giọng đầy quả quyết:
– Tuyết ở Mèo Vạc lạ lắm các đồng chí ạ, tuyết... có màu vàng chứ không trắng đâu!
Mấy anh em chạy vào xem, té ra nước có màu vàng là do tuyết rơi trên mái nhà, khi cào xuống đã lẫn lộn với khói bếp tích tụ lâu ngày và lớp cỏ tranh mục nát. Câu chuyện "tuyết vàng" ấy sau này trở thành chủ đề trêu chọc anh nuôi suốt một thời gian dài.
Khi cái lạnh qua đi và tuyết bắt đầu tan, cảnh sắc thiên nhiên lại bày ra những điều kỳ diệu của tạo hóa. Lạ thay, giữa cái rét mướt hủy diệt ấy, những cây sa mộc vút thẳng, gỗ nghiến kiên cường cùng những luống rau xu hào, cải bắp, đậu Hà Lan của bà con tăng gia vẫn giữ được sắc xanh tốt, như thách thức với thiên nhiên. Ngược lại, những rặng chuối, khóm mía và cả những bụi tre ngà vốn dĩ dẻo dai thì lại bị táp lá đen thui, khô héo nhìn tiêu điều như vừa trải qua một trận cháy rừng hung hãn.
Theo các cụ cao niên người Mông trong bản kể lại, cứ khoảng chục năm, trên dải cao nguyên đá này lại xuất hiện một mùa tuyết rơi dày và hung dữ đến thế. Trâu bò của dân bản chết rét rất nhiều do không chịu nổi nhiệt độ xuống dưới độ âm, việc sản xuất, trồng trọt của bà con bị ảnh hưởng nặng nề. Nhưng có một hiện tượng lạ lùng nhất mà người lính miền xuôi như tôi chưa từng chứng kiến: khi tuyết tan, dù trời không hề có một giọt mưa nào, nhưng khắp các con suối nhỏ, khe đá vốn khô cạn bỗng chốc nước tràn bờ, chảy cuồn cuộn qua các thung lũng.
Nhưng ở nơi cao nguyên đá này vào mùa khô, nước thực sự quý hơn vàng mười. Do địa hình toàn đá vôi cacxtơ, mưa xuống là nước ngấm hết vào lòng đất, nên dân bản muốn có nước sinh hoạt phải đi bộ vài cây số xuống tận các khe đá sâu hoặc những hốc đá nhỏ tích tụ từng giọt nước rỉ ra. Tình cảnh khan hiếm nước khiến người ta phải chắt chiu từng giọt: nước rửa rau xong không được đổ đi mà phải giữ lại để dành cho gia súc, gia cầm uống.

Ở đơn vị tôi ngày ấy có một quy định nghiêm ngặt: kho đạn hay kho gạo có thể không cần khóa, nhưng riêng bể nước chung của đại đội thì lúc nào cũng rào kín bằng dây thép gai và khóa chặt bằng hai, ba ổ khóa, giao cho người có trách nhiệm quản lý. Có những đợt cao điểm của mùa khô, nguồn nước tại chỗ cạn kiệt, đơn vị tôi phải huy động cả xe kéo pháo – đi tận xuống sông Nho Quế cách nơi đóng quân hơn hai mươi cây số đường đèo hiểm trở để chở nước về.
Nước sông được đựng trong các thùng phuy cũ bằng sắt, dù đã được anh em cọ rửa, dùng lá cây và than củi để khử mùi nhưng khi uống vẫn thoang thoảng mùi xăng dầu đặc trưng. Một chuyến xe chở nước gian khổ như thế cũng chỉ đủ dùng tiết kiệm cho đơn vị trong vòng hai đến ba ngày. Mà nguồn nước quý giá ấy cũng chỉ được ưu tiên tuyệt đối cho việc nấu ăn, đun nước uống cho bộ đội chứ tuyệt nhiên không có dư để tắm giặt. Nhiều khi anh em đi công tác về, có ấm chè chốt ngon bạn bè gửi lên, có cả bao thuốc thơm, nhưng nhìn cái ấm nhôm không có giọt nước nào để đun, đành ngậm ngùi ngồi hút thuốc suông với nhau, nhìn khói thuốc bay loang loãng vào sương chiều mà lòng da diết nhớ nhà.
Tiểu đội của tôi ngày ấy được phân công đóng quân độc lập trên một sườn đồi hoang vắng, cách xa đội hình chính của đại đội. Cuộc sống tuy có phần tự do hơn nhưng cũng buồn và cô quạnh hơn giữa bốn bề núi đá. Một hôm, một sự kiện đặc biệt diễn ra khiến cả tiểu đội vui như trẩy hội: bố của Xúa – người đồng đội thân thiết cùng quê Hà Giang của chúng tôi – từ bản xa lặn lội lên thăm con trai và đơn vị.
Khỏi phải nói, cả tiểu đội mừng rỡ đến nhường nào. Để chào đón vị khách quý từ bản làng, anh em chúng tôi đã họp chớp nhoáng và quyết định mổ một chú chó nuôi được – một bữa tiệc nhỏ nhưng là sự xa xỉ hiếm hoi giữa chốn núi rừng hoang vu này.
Chiều hôm đó, gian lán nhỏ của tiểu đội bỗng trở nên ấm áp lạ thường. Bên bếp lửa củi nghiến đượm hồng, những bát rượu ngô men lá thơm nồng được rót tràn, những đĩa thịt chó nghi ngút khói được bày ra trên những chiếc lá chuối rừng. Tiếng cười nói râm ran, tiếng cụng bát chan chát hòa lẫn vào nhau. Ông cụ mặc chiếc áo chàm truyền thống, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn của sự lam lũ nhưng đôi mắt ngời lên niềm tự hào khi thấy con mình được sống trong vòng tay yêu thương của đồng đội. Tình quân dân cá nước cứ thế thắm thiết, say nồng theo từng ngụm rượu ngô tê đầu lưỡi.
Tối muộn, bữa tiệc tàn, ông cụ được anh em sắp xếp cho ngủ lại tại lán, nằm ngay cạnh vị trí của Xúa để hai bố con tiện tâm sự. Đến khoảng gần nửa đêm, khi vạn vật đã chìm sâu vào giấc ngủ, tới phiên trực gác của Tân – một chiến sĩ trẻ nổi tiếng là hay lơ đơ và hậu đậu. Tân mò mẫm đi vào trong lán để đánh thức người thay ca tiếp theo cho mình theo đúng lịch. Trong không gian tối om, chỉ có ánh sáng đèn pin mờ mờ do pin đã yếu, cộng với cái ngái ngủ thúc bách, Tân đã lay nhầm vào người... bố của Xúa đang nằm phía ngoài.
Cụ ông bất ngờ bị lay mạnh thì giật mình ngồi dậy. Khi còn chưa kịp tỉnh táo hoàn toàn sau cơn say rượu ngô chiều nay, miệng còn ú ớ chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, thì Tân – vốn đang bực mình vì tưởng đồng đội lười biếng – liền nghiêm giọng hỏi với tông giọng rất "quân lệnh":
– Chiều nay có ăn thịt chó không?
Ông cụ người Mông thật thà, tai vẫn còn lùng bùng tiếng gió, nghe thấy câu hỏi quen thuộc liền gật đầu đáp giọng khê khê:
– Có chứ! Thịt ngon mà!
Tân nghe vậy liền phán một câu xanh rờn, đanh thép:
– Ăn được thì phải gác! Chứ định trốn à? Nhận súng đi!
Ngỡ đó là quy định nghiêm ngặt của Bộ đội Cụ Hồ – đã được ăn tiệc thì phải có trách nhiệm bảo vệ đơn vị, ông cụ không một lời thắc mắc, lặng lẽ bước xuống phản. Cụ nhẹ nhàng nhận lấy khẩu súng, chiếc áo tơi gác, rồi lẳng lặng bước ra ngoài trời giá rét.
Một mình đứng nơi vọng gác tiền tiêu đầu lán, giữa cái lạnh căm căm của đêm cao nguyên đá, ông cụ người Mông đã đứng gác một cách vô cùng nghiêm túc. Cụ đứng thẳng người, mắt đăm đăm nhìn vào màn sương mù dày đặc trước mặt để cảnh giác, không hề biết mấy giờ thì mình được thay ca – mà thực tế là ở trong lán, anh em vẫn đang ngáy pho pho, chẳng ai biết có sự nhầm lẫn tai hại này để mà ra thay.
Sáng hôm sau, khi ánh mặt trời vừa le lói qua màn sương mù, cả tiểu đội tá hỏa khi bước ra sân và nhìn thấy bóng dáng ông cụ vẫn đang đứng sừng sững như một pho tượng đá nơi vọng gác. Đôi mắt cụ hằn rõ những quầng thâm vì mất ngủ cả đêm, trên vai chiếc áo tơi đầy những giọt sương đêm buốt giá, đôi bàn tay co quắp vì lạnh nhưng vẫn nắm chặt cây súng.
Khi mọi người hiểu ra câu chuyện "gọi nhầm người" của cậu lính Tân, cậu chàng mặt cắt không còn một giọt máu, cười như mếu xách nước ấm ra cho cụ. Toàn bộ anh em lính trẻ trong tiểu đội thì líu ríu chạy lại, vừa đỡ súng vừa ôm lấy cụ mà ríu rít xin lỗi vì sự vô ý tai hại. Thế nhưng, trái với sự lo lắng của chúng tôi, ông cụ không hề nổi giận. Cụ nở một nụ cười hiền hậu, phô ra hàm răng ám khói thuốc nhưng ngời sáng tình thương, rồi bảo:
– Không sao đâu các con à! Thế là tốt đấy chứ, cái bụng già này đêm qua được làm người lính thực sự một đêm rồi! Sau này về bản có cái để kể cho cả họ nghe rồi!
Từ đó trở đi, câu chuyện “bố Xúa đi gác đêm” đã trở thành một giai thoại hài hước kinh điển của đơn vị chúng tôi. Cứ mỗi dịp hội quân, khi có dịp ngồi lại bên nhau, câu chuyện ấy lại được kể đi kể lại trong tiếng cười nghiêng ngả của bao thế hệ chiến sĩ. Nhưng vượt lên trên một kỷ niệm vui, đó là minh chứng sống động và đẹp đẽ nhất về tình quân dân gắn bó keo sơn nơi biên thùy. Giữa trập trùng đá xám tai mèo và cái rét ngút ngàn của rẻo cao biên giới, chính sự chất phác, bao dung của lòng dân đã sưởi ấm tâm hồn những người lính trẻ.Những nghĩa tình đồng đội, nghĩa tình đồng bào cứ thế âm thầm bén rễ vào lòng đá khô cằn. Để rồi dù thời gian có qua đi, năm tháng có phủ bụi nhạt nhòa, thì tiếng cười ấm áp năm nào vẫn mãi bừng lên trong ký ức — một đóa hoa ân tình thiêng liêng, bất tử, ngát hương giữa lòng cao nguyên đá.
8 - 2026
N.H.Q
Người gửi / điện thoại