Nguyễn Thành Vinh
CẶP SÁCH “SONG SINH” TỎA SÁNG MỘT HỒN THƠ
Tôi vẫn thường được nhà thơ Nguyễn Thiện gửi tới các bài thơ mới sáng tác và tôi cũng biết ông có sức viết khỏe với sự đam mê từ trái tim thi sĩ, nhưng khi cầm trên tay hai tập thơ: Bến quê và Khát vọng (Nhà xuất bản Hội Nhà văn), thì thú thực tôi rất ngỡ ngàng, ngỡ ngàng đến khâm phục về “bút lực” dồi dào của ông.
Lại biết, đây là 2 trong 5 tập thơ mà nhà thơ Nguyễn Thiện được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành trong vòng 3 năm qua: Từ “Vầng trăng thức” (2023) đến “Thổn thức”, “Thơ và nhạc” (2024), và nay 2005 là “Bến quê” và “Khát vọng” - cặp sách “song sinh” được nhà thơ “dấn thân đến tận cùng con chữ, mang lại cho đời những tác phẩm thi ca tươi mới, giàu cảm xúc” như nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã từng nhận xét, thì chúng ta mới thấy được sự đam mê cháy bỏng và sự nỗ lực phi thường của nhà thơ trong hoạt động sáng tác.
Lần đọc gần 600 trang thơ trong “Bến quê” và “Khát vọng”, tôi càng trân trọng sự lao động sáng tạo của nhà thơ. Sự trân trọng đó chưa hẳn vì thấy ông viết được nhiều bài thơ trong thời gian ngắn mà chính là ông đã lựa chọn được những chủ đề phù hợp, ăn khớp với nhịp sống thi ca. Từ đó, tỏa sáng một hồn thơ mang đậm tính nhân văn, giàu cảm xúc đối với độc giả. Tôi biết, Nguyễn Thiện rất giàu có vốn từ vựng và kiến thức xã hội khá phong phú từ lịch sử, văn hóa đến chính sự của thời cuộc, nhưng để nó trở thành “nội lực” cho nhà thơ rút tít, gieo vần hợp lý; các câu thơ, ý thơ không bị trùng lặp ngay cả trong cùng một chủ đề, thì đó quả là sự nỗ lực và trải nghiệm rất không nhỏ.
Điểm nổi bật dễ nhận thấy nhất trong thơ Nguyễn Thiện là sự chân thành và tình yêu cuộc sống. Ông luôn lấy đó là điểm xuất phát, cộng hưởng với sự trải nghiệm từ đời sống binh nghiệp, tạo nên một hồn thơ trong sáng, dung dị với sự thăng hoa khác biệt. Thơ ông không chỉ phản ánh được cá tính riêng mà còn phản ánh đúng tư tưởng và khả năng trau dồi ngôn ngữ. Có lẽ vì thế mà “Bến quê” và “Khát vọng”của ông đã hội đủ các yếu tố: “ngữ - hình - tình - nhạc”, làm nên giá trị thơ vừa thao thiết, lãng mạn, vừa dung dị, chừng mực và nhất quán, tránh được sự phô diễn, “lên gân” hay gượng ép. Nhiều bài, nhiều câu trong thơ ông chất chứa cảm xúc chân thành, mang sức gợi mở và tính triết lý nhân sinh sâu sắc, thu hút người đọc đến tận cùng bài viết.
“Bến quê” và “Khát vọng” là một điển hình chân thành với cội nguồn, “nơi chôn rau cắt rốn”, nặng sâu tình cảm với quê hương, cha mẹ, anh em, bạn bè, đồng đội, những người là máu thịt hoặc gắn bó như máu thịt với nhà thơ. Có thể kể tên những tác phẩm: Bến quê, Quê ơi, Quê hương trong tôi, Quê mẹ con yêu, Hình bóng cha yêu, Mẹ cha là tất cả, Mẹ tôi, Cho con cõng mẹ, Chiến tranh và người lính, Thạch Hãn trong tôi… Tất cả đã làm nên khát vọng khác biệt trong thơ Nguyễn Thiện, giản đơn, gần giũ mà thánh thiện: “Ta chỉ là con đò/ Chở bao điều khát vọng/ Diệu kỳ thay cuộc sống/ Cho ta… Trái đất này” (Khát vọng).
Trong những bài ông viết về quê hương luôn thể hiện một cảm tình sâu sắc, chân thành không thể gì giấu nổi “Con muốn được làm con đò nhỏ/ Để chiều chiều neo đậu bến quê” và: “Bến quê ơi trong con mãi mãi/ Lời mẹ ru đắng ngọt ngày nào” (Bến Quê); thật khó cưỡng nổi khi ông nhớ và gọi thao thiết hai tiếng “Quê ơi” bởi ở đó có máu thịt, mồ hôi và nước mắt của các bậc sinh thành cũng như ấm áp tình nghĩa xóm giềng khi “tắt lửa tối đèn”: “Mẹ một đời tần tảo âu lo/ Cha cuốc cày bàn tay chai sạn/ Hạt gạo thấm mồ hôi chát mặn/ Tình xóm làng đùm bọc yêu thương” (Quê ơi); và ông đau đáu thương nhớ quê nghèo với những số phận éo le: “Thương cha năm tháng nổi chìm/ Mồ hôi thấm từng hạt cát/ Quê nghèo cánh chim phiêu bạt/ Mẹ ngồi ru nửa vầng trăng” (Quê mẹ con yêu)…
Khi viết về cha mẹ, Nguyễn Thiện luôn dành một thứ tình cảm đặc biệt, thấu hiểu sự gian truân của họ: “Mái tranh nghèo lối cũ cầu ao/ Bước chân cha in mòn năm tháng/ Cánh đồng làng bốn mùa mưa nắng/ Cha nuôi con khôn lớn nên người” (Hình bóng cha yêu); Kể về mẹ, ông viết: “Cả cuộc đời mẹ không dám ngủ trưa/ Vạt lúa luống ngô củ khoai củ sắn/ Tất tả ra đồng chống hạn chờ mưa” (Mẹ tôi); Ông thấy rất rõ hình bóng mẹ oằn mình trong bão táp cuộc đời: “Có những ngày giáp hạt tháng ba/Hoa mộc miên đầu làng cháy đỏ/ Nếp nhà tranh bốn mùa lọt gió/ Có bước chân khuya sớm mẹ về” (Ước mơ con); và ông rất muốn được bù đắp cho mẹ dù đã muộn mằn:”Dẫu con biết cả đời không thể/ Trả được ơn dày công mẹ nghĩa cha/ Tay yếu chân run năm tháng tuổi già/ Con xin được một lần cõng mẹ” (Cho con cõng mẹ)…
Trong nghĩa tình đồng đội, ông viết: “Tôi thả hồn vào dòng nước trôi/ Hòa vào máu vào xương đồng đội/ Nơi đây một thời lửa khói/ Ngày đêm đạn xới bom đào”; rồi: “Thành Cổ hôm nay đẹp ánh trăng rằm/ Cuộc sống hồi sinh vết thương khép lại/ Nhưng trong tôi vẫn còn nhớ mãi/ Dòng sông xưa loang đỏ máu đào” (Thạch Hãn trong tôi); và ông đau đáu khi tìm lại ký ức về đồng đội: “Tôi đến nghĩa trang Trường Sơn/ Đứng trước hàng ngàn ngôi mộ/ Nén nhang vẫn còn cháy đỏ/ Nghẹn ngào mãi tuổi hai mươi”(Đất mẹ anh về). Sau chiến tranh, ông là người may mắn được trở về “nguyên vẹn” thể xác nhưng tâm hồn ông thì có những khoảng trống không thể bù đắp được: “Đêm lặng ngồi đếm những vì sao/ Nhớ đồng đội chưa về với mẹ” (Chiến tranh và người lính), và ông thầm nhủ: Sống có trước có sau/ Quên tiền tài địa vị/ Tình đồng đội đồng chí/ Như anh em một nhà”(Đồng đội)…
Đó chỉ là những điểm nổi bật dễ nhận thấy, vì nó được thể hiện đậm nét, bao trùm và thường trực hơn cả. Đọc “Bến quê” và “Khát vọng”, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy sự góp mặt của nhiều tác phẩm thơ hay, có giá trị, đụng chạm nhiều mạch đời, mạch sống, kể cả mạch suy tư về mặt trái đang còn tồn tại trong xã hội hiện thời. Những mạch nguồn đó tạo nên bức tranh “Đời và thơ” Nguyễn Thiện dung dị, gần giũ với cuộc sống. Thật đáng quý biết bao tấm lòng của một người lính đã được tôi luyện, thử thách qua lửa đạn chiến tranh và những biến động chông chênh thường nhật vẫn tỏa sáng một hồn thơ: “Hôm nay xin tiếp bước/ Trong thế giới văn đàn/ Người ta mộng làm quan/ Tôi mơ màng… thi sĩ (Thi sĩ)
Thiên về lối kể, tả thực, Nguyễn Thiện luôn có cái nhìn sâu sắc và biện chứng về sự vận động và cũng luôn tìm thấy niềm lạc quan, tin tưởng vào cái đẹp, cái thật dù phải đi qua nhiều giông tố hay những đổi thay của nhân tình thế thái mà không hề có sự “lên gân”, mà vẫn dung dị: “Có cả những khóm hoa/ Em vun trồng năm ấy/ Đang hồi sinh trở lại/ Sau tháng ngày bão dông” (Sau bão dông), hay nhất quán hơn: “Lý tưởng chưa hề phai/ Tươi nguyên dòng máu đỏ/ Vượt qua ngàn sóng gió/ Ta vẫn còn là ta” (Nhìn lại). Đó là những câu thơ có giá trị không hề dễ viết để chiếm lòng bạn đọc.
Trong những mạch đời, mạch sống dung dị ấy, “Bến quê” và “Khát vọng” có phần lớn các bài thơ viết về tình yêu, tạo nên sự tươi trẻ, đa thanh, đa sắc trong tâm hồn nhà thơ và trong mỗi trang thơ. Những câu thơ thủ thỉ, ấm áp hơi thở của tình yêu: “Hao khuyết vầng trăng khuya/ Tim em dần hóa đá/ Người ơi em xin trả/ Nụ hôn đầu… ngày xưa” ( Xin Trả về anh); hay: “Mùa tiếp mùa sinh sôi/ Cây thay màu áo mới/ Khát khao em chờ đợi/ Sóng anh về… xô em” (Đợi anh về). Trong những bài viết về tình yêu, Nguyễn Thiện luôn coi trọng chữ tình và ông luôn tin tình người mới là nền tảng xây đắp nên tình yêu trong sáng, thơ mộng và đắm say dẫu có phải chia ly, đợi chờ: “Mỗi mùa hoa Pơ lang/ Anh lại bồn chồn đứng đợi/ Dịu dàng em người con gái/ Nụ cười nắng tỏa đường hoa” (Nhớ một mùa hoa), hay, vì tình yêu mà tôn thờ và quên hết mọi rào cản: “Anh xin trồng cây si/ Trước cửa nhà em ở/ Cùng cái nắng cái gió/ Thắm mãi làn môi em”. Nhiều nhiều nữa và thật khó thể hiện cho vừa lòng bạn đọc.
Mặc dù đã ngấp nghé tuổi thất tuần, nhưng thơ Nguyễn Thiện vẫn trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống, chan chứa tình yêu quê hương, yêu đời và yêu người. Vì khuôn khổ bài viết có hạn và cũng là cảm nhận ban đầu chưa thật “chín” với những “đứa con” tinh thần khá phong phú và “xinh xắn” của nhà thơ, tôi xin mạo muội viết nên cảm xúc chân thành của mình, bày tỏ sự mến mộ, động viên và khích lệ nhà thơ. Xin chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thiện tiếp tục nuôi dưỡng thêm động lực tinh thần vô giá này để đi tiếp trên con đường văn đàn như ông đã nguyện ước.
Nguyễn Thành Vinh
Người gửi / điện thoại