Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

CÁNH SẾU MÙA LUÂN LẠC

Nhật Hồng
 
CÁNH SẾU MÙA LUÂN LẠC.
 
Phựt! Âm thanh khô khốc dứt khoát, phát ra từ cây phảng cắm xuống mô cỏ năn lút gần tới cán giữa nắng trưa hừng hực. Thép bằng miểng bom bén hết chỗ chê, mặc dầu đã lâu ngày không sử dụng nó đã đóng lớp rỉ sét xám xịt. Trước khi lên đây chú Bảy mang ra sàn nước mài sơ sơ trên miếng đá Trung Quốc có mấy cái mà đưa vào lông ống quyển đứt ngọt sớt. Tay nâng cây phảng lên chú Bảy nhướn nhướn con mắt xem xem, nâng lên hạ xuống thử coi nặng nhẹ. Rất vừa tay. Năm mười bốn tuổi chú đã cầm phảng vào tay rồi và đã từng tung hoành ngang dọc với đám sen, súng, năn, lác trên cánh đồng này. “Nay phải cần tới mày!” Chú Bảy nói như vậy!
Thím Bảy nói dói theo: “Ông đi hả? Chừng nào dìa” “Không biết!”
 
Số người nông dân tụ tập trên bờ kinh lần lượt hạ trại làm nơi ngủ nghỉ. Mỗi người chuẩn bị sẵn những thứ cần thiết như: Gạo, muối, củi, lò dự phòng ăn ở lâu ngày. chừng nào vỡ lẽ mới về.
            Chú bảy Thời được số đông bà con tín nhiệm, bởi chú ăn chắc mặt dày, nói và làm đi đôi, gặp gian nan không ngại, tử sinh không lùi bước, một lòng một dạ sống chết với anh em. Điều đó đã trải nghiệm qua rồi ai cũng biết chú trong thời kỳ đấu tranh chống Mỹ. Lúc ấy, chú là du kích ở đây, vào mùa nước chỉ có cây sào và chiếc xuồng cui cộng với một số hiểu biết dầy dặn về địa hình, mưa nắng mà chú đã mưu trí đánh chống càn hàng trăm trận làm cho lính Mỹ và Sư đoàn 7 ở căn cứ Đồng Tâm nhiều lần điêu đứng.
 seu-dau-do
Bữa cơm chiều giữa đồng mông quạnh cảm thấy ngon miệng với nhóm người các nơi mới gom về. Có người nhâm nhi ly rượu đế gò đen với thác lác nướng trui, nhìn dòng kinh đóng phèn sóng sánh, nói: “Cá bông, cá lóc bây giờ không thua ngày xưa là mấy, ngày mai nhậu với cá bông nấu cháo nghen!” Người khác chen vào: “Còn tôi đãi quý vị món lươn um. Nghề của tôi mà! Khi xưa, đến mùa nước chỉ một xuồng trúm là đủ nuôi một vợ ba con, mùa khô chỉ cây chỉa hai mũi và chiếc giỏ tre đi lang thang trên đồng, khi về gánh đầy giỏ rắn, rùa, lươn, cá…”
 Chú Bảy Thời hạ ly rượu xuống nói:
-Ta ở đây khiêu khích đám kiểm lâm cho nó ra mặt, ôn hoà thì nói bằng lời, bằng nguyện vọng, còn căng thẳng thì ta chia nhau nhiều nhóm “chơi” luôn. “Trâu già đâu nệ dao phay.” Có hơi men lời của chú Bảy như mệnh lệnh lồng vào một chút ý chí có sức thuyết phục mạnh mẽ với đám người ngồi trong trại.
Chú tiếp:
-Tôi sinh ra và lớn lên ở cánh đồng này, ba đời làm nông dân, gia đình tôi đã từng đói khát vào những năm bốn lăm, bốn bảy ở thế kỷ trước. Tiết trời tháng mười một lạnh buốt, bảy tám giờ sáng mà còn run cằm cập. Ba tôi nuôi tám đứa con nheo nhóc bằng cá đồng và lúa trời. Cứ mỗi sáng sớm ông bước xuống chiếc xuồng cui, có hai tấm rèm đóng bằng vạt tre dựng lên ở giữa xuồng, ngang dọc vào đám lúa trời bạt ngàn. Khi chiều về má tôi hốt vét lên được cả giạ, có bữa trúng non hai giạ, cho mười cái miệng nhai lắt lẻo qua ngày. Nghĩ cũng ngộ, lúc ấy nông dân đói thường vào những tháng giáp hạt, tức là từ tháng mười một, tháng chạp, khi đó lúa trời ở đây cũng vừa chín tới đầy trên đồng. Gọi là lúa trời thật là đúng nghĩa của nó. Vì không ai gieo, chăm sóc mà vẫn tươi tốt, không bao giờ chết nước, nước dâng lên bao nhiêu thì nó vươn lên tới đó. Mà chừng như lúa này chỉ đãi ngộ cho dân nghèo. Ngộ một cái là nó không chín một lượt, một bông chỉ chín năm bảy hột, ngày sau chín tiếp. Người đi trước dùng cây sào đập: “Xạch! Xạch!” Hạt lúa rơi vào xuồng chừng nửa nắm. Người đi sau cũng dùng thế như vậy! Chính vì nhờ cái tính chất chín lơi rơi mà giúp cho dân nghèo, chớ như nó chín một lượt thì người có thế lực nhào vô cắt vài ngày là ráo trọi, còn đâu cho dân nghèo nuôi bữa.
 
Ngót hai mươi ngày êm đềm trôi qua giữa cánh rừng Tràm Chim, nhóm người tụ tập trên bờ bắt cá dưới kinh lên ăn, nhậu cũng chán. Bước thêm một bước nữa: “Hành động” Lớp đất cỏ năn sau nhiều năm không ai động đậy, nay bật tung lên dưới những lưỡi cày sắt bén. Một vòng thử nghiệm coi có gì phản ứng hay không? Không! Nhóm người bên bờ kinh tiếp tục cho máy chạy. Chim cò thấy vật lạ chạy ầm ì hoảng loạn bay kêu oang oát.
 
Chú bảy Thời đang ngủ trưa bỗng giật mình bởi có tiếng vật lạ bay qua đầu và tiếng kêu lí nhí gọi bầy nghe quen thuộc. Chú vội mở mắt ra thấy trên đầu một đám mây trắng toát xà xuống thật gần, gần lắm! Đám mây hiện thân từ khoảng trời bao la xanh ngắt, quần tụ lại chập chờn trên đầu. Chú Bảy căng đôi mắt mở to không dám nháy sợ phí một giây khắc quý hiếm này, cả đời người gần xuống lỗ rồi mới được chứng kiến tận mắt. Đám mây trắng như bông lần lượt tách ra từng cánh lẻ, mỗi cánh có một tư thế hạ xuống khác nhau. Có những cánh như chiếc lá rơi chao qua chao lại rồi cắm phịch xuống đất, có cánh lượn lờ đôi vòng rồi nhẹ nhàng đáp xuống. Có những cánh tung tăng từ trên cao rồi buông mình xuống đất, khi vừa chạm mặt đất cánh trắng tung lên trụ lại trên không vẫy vẫy như làm dấu hiệu bình yên trên quê hương no ấm. Tất cả đã xuống đất còn lại cánh trắng muộn màng đi sau, cánh này không xà xuống ngay mà lượn nhiều vòng trên không như để quan sát tìm cái gì đó, hoặc phát hiện ra cạm bẫy và bất trắc có thể xảy ra cho cả bầy. Cái vòng lượn sau cùng cách bụi tràm nơi chú Bảy nằm chừng vài mét, trong cái khoảng cách gần gũi này chú chợt nhận ra hai cái chân xuôi về phía sau như có vẻ không bình thường. Có một chân ngắn hơn, khi vừa chạm mặt đất thì phía chân ngắn bước hơi khập khễnh.
 
Chú Bảy như người chập chờn bừng tĩnh  trong giấc mơ: “Chẳng lẽ nó hay sao?”- Chú nói một mình. Có thật vậy hay không? Nếu như thật thì bạn và tôi xa nhau ba mươi bốn năm trời!
 
Mùa khô năm một ngàn chín trăm bảy mươi tư, trước tình hình giặc bị đánh mạnh ở các vùng: Một, Hai, Ba, nhưng ở mặt phía Tây Sài Gòn tương đối yên, vì không có những trận đánh lớn, từ căn cứ Đồng Tâm những tay cố vấn Mỹ và sĩ quan cao cấp khi ăn nhậu ở Sài Gòn chán ngán nên xách trực thăng về Đồng Tháp săn chim về làm thịt. Loài chim mà chúng săn tìm là sếu đầu đỏ. Lúc ấy, ở cánh đồng này hàng năm chim sếu về đến vài ngàn con, trắng lớp cánh đồng. Chúng dùng trực thăng bất ngờ ập xuống dùng sức gió ở đôi cánh quạt trấn áp làm tê liệt cánh chim sếu rồi chúng nhảy xuống bắt sống. Điều nghiên sự kiện xảy ra và nghiên cứu địa hình, một ít hôm. Chú Bảy lau chùi chỉnh lại cho thật chính xác cây súng trường K1 vác lên vai đem cơm nước nằm ở điểm chốt mà chú đã chọn. Một tuần đi qua ăn không ngồi rồi, tuần thứ hai vài chiếc trực thăng quần đảo trên đầu đám sếu rồi mất hút trên nền trời. Có những ý kiến cho chú làm “láp” theo kiểu “Ngồi gốc cây đợi thỏ.” “Ngày xưa xa lắm xưa có sự tích kể rằng: “Người thợ rừng một hôm ngồi nghĩ trưa bỗng dưng có con thỏ bị rượt đuổi đâm vào gốc cây phía trước mặt ông giẫy giẫy chết. Người thợ rừng đến nhặt con thỏ đem về khoe với vợ và từ đó, ông ta nghỉ đi đốn củi mà cứ ngồi rình bên gốc cây để chờ thỏ đâm đầu vào. Không bắt được thỏ mà vợ con đói meo vì không đi đốn củi.”
 
Chú Bảy không nản chí vì nhớ đến cảnh những con sếu đẹp đẽ thanh thản đùa giỡn nhau bỗng dưng người ta dùng cánh sắt đàn áp bắt trói mang đi, có những con kịp bay lên thì bị cánh quạt chém té nhào xuống. Những con còn lại nhìn ngơ ngác  đồng loại của mình giẫy giụa một cách tuyệt vọng mà không có cách nào cứu giúp. Và còn một điều nữa chú muốn nhắc nhở cho giặc biết được còn có du kích ở đây, ở trên cánh đồng này!
Đang suy nghĩ miên man, chợt có tiếng trực thăng gầm rú trên đầu, quần đảo dí cù đám sếu. Chú Bảy bình tỉnh đưa mũi súng ngắm về phía mục tiêu, mục  tiêu di chuyển bằng động tác cầm con sếu trên tay leo lên trực thăng. Chú Bảy bóp cò, mục tiêu ngã xuống đất tay buông con sếu ra, nó què quặt lã cánh chạy khập khểnh chui vào bụi rậm. Đám lính nhảy xuống kè thằng bị thương lên máy bay vội vã cất vó, chú tiễn thêm vài phát đạn nữa chiếc trực thăng lao chao rồi mất hút lên nền trời. Chú Bảy ôm con sếu vào lòng mắt nó chớp chớp như muốn nói cái gì đó như “lời cảm ơn” mà không được. Rồi đôi mắt khép lại có lẽ vì cơn đau của cái chân bên trái đập gãy, chú chia sẽ với nó bằng cái vuốt ve an ủi bên bộ lông trắng mượt. Màu trắng của lông chim thật tinh khiết, không gợn một chút bợn dơ, chiếc mỏ dài thanh tú không ô dầm như mỏ chim bồ nông. Còn đôi chân thì cao cao duyên dáng cân đối với thân hình một cách trọn vẹn không kém khuyết như chị vịt trời lắc lia lắc lịa. Chú Bảy ôm con sếu về cơ quan, anh em thèm thuồng:
-Con này năm bảy ký như chơi, làm thịt mười người ăn nhậu hả hê. Chú Bảy nghiêm mặt:
-Tao cấm! Không ai được đụng đến nó.
 
Chú Bảy cặm cụi đi kiếm tre trúc đương cái bội nhốt gà nòi cho nó vào rồi đi tìm thuốc bó cái chân bị thương. Ngày đầu nó không ăn, nó đứng một chân cú rũ như buồn lắm! Hôm sau chú nhét cho nó được vài củ năn, thấy mắt nó bớt sợ sệt, bớt đau, chú an tâm. Chú Bảy ra đồng bươi xới tìm củ năn và các thứ khác mà sếu thường dùng để bồi dưỡng cho nó. Chú chăm sóc nó như chăm sóc đồng đội, cả đến ban đêm chú soi đèn coi nó ngủ hay thức. Đến ngày thứ bảy nó để cái chân đau xuống mặt đất được đôi chút, đi cà nhắc thấy tội nghiệp.
 
Một buổi sáng sớm trời trong vắt không gợn một áng mây, trên đồng xa xa đàn sếu đang lui cui nhặt hạt. Chú xem con sếu trong lồng chừng  đã bình phục, chú cẩn thận dở cái bội ra ôm nó vào lòng vuốt nhè nhẹ lên đôi cánh nói: “Bay đi! Về với đàn. coi chừng cảnh giác đám trực thăng đó nghen!” Con sếu chập chập đôi cánh, liếc mắt nhìn chú như ngỏ lời cảm ơn rồi cất mình lên không lượn hai vòng như để định hướng rồi biến mất trong mây.
Từ ấy, nó biền biệt. Nay! Đúng rồi! Nó lẫn theo trong đàn đang đi trên những luống đất cày vừa phá vỡ. Dù khoảng cách có xa, dù nó trùng lắp trong muôn màu trắng tinh  nguyên của loài linh hạc, nhưng chú Bảy cũng nhận ra. Bởi chú cảm nhận không phải bằng đôi mắt tầm thường của con người mà bằng đôi mắt thẩm mỹ biết trân trọng cái đẹp, cái thanh cao tinh khiết dù là loài vật.
 
Chú Bảy uể oải đứng lên đi lừng khừng về phía lều trại. Đêm đó, chú  cứ trằn trọc mãi không ngủ được, hình ảnh của những người dân tràn vào trú ngụ dọc theo kinh chia cắt thành trăm ngàn miếng thịt rừng tràm, tận dụng mọi phương tiện giăng bắt các loài động vật để dùng bữa. Những cánh chim trời không nơi nương tựa, loài hạc nó sẽ về đâu? Rồi đây nó sẽ không còn có thực trên quê hương xứ sở của mình. Có còn chăng chỉ là một huyền thoại và nó âm thầm buồn bả nhìn những ngọn đèn sáp lắc lay trong những ngày tế lễ ở đình miếu. Càng nghĩ  tới, chú Bảy cảm thấy mình đang làm một việc mà chính lương tâm của mình không thể tha thứ.
 
Hôm sau, khi nốc vài cốc rượu gò đen chú Bảy đứng giữa lán trại trịnh trọng nói với mọi người:
-Thưa với các anh em, cuộc đấu tranh đòi đất ở đây tôi thấy đủ lắm rồi! Phía nhà nước cũng biết rằng: Số tiền trả hoa lợi cho ta so với giá cả bây giờ là ít ỏi, không thấm vào đâu. Nhưng nghĩ cho cùng, ta cũng đã nhận rồi, dù bằng lời hứa đi chăng nữa cũng phải tôn trọng chớ! Nhà nước trong điều kiện còn nghèo nên chưa đáp ứng được cho chúng ta hài lòng. Nhưng một việc chúng ta hài lòng là bảo tồn được cánh sếu còn tới lui với quê hương chúng ta ngay trên cánh rừng tràm chim Tháp Mười này. Một loài vật vô cùng quý hiếm cả thế giới đang gìn giữ. Bên cạnh đó, còn có hàng trăm loài động vật, thực vật còn tồn tại sinh sống dưới ánh nắng mặt trời. Cái nắng oi bức mà cả thế giới kêu ca: “Hiệu ứng nhà kính.” Nó lần lượt làm biến mất một số loài vật hoang dã và biến đổi luôn hệ sinh thái. Có khả năng làm thay đổi thời tiết có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của chúng ta.
 seu-dau-do-2-1
Chú Bảy vừa nói vừa rót đầy nhóc chén rượu nâng lên ngang mày:
-Sau khi uống hết chén rượu này anh em chúng ta lặng lẽ chia tay nhau, ai về nhà nấy! Còn ở đây nên nhường cho những ngôn ngữ của muôn loài tình tự với nhau như thuở trời đất còn hồng hoang.
 
Chú Bảy gom đồ đạc, ra mô đất năn rút cây phảng lên âm thầm cho xuống xuồng xuôi theo dòng kinh. Trước khi về chú không quên nhìn ngoáy lại những luống cày lầm lỡ nằm trơ trọi. Xa hơn nữa phía mặt trời vừa ửng đỏ rừng như thức dậy. Bình minh đẹp tuyệt vời trên đồng Tháp Mười mà giờ này chú mới có dịp nhận ra, gần hết một đời người rồi!…
 
Chú Bảy vừa bước vô phòng Ban giám đốc Vườn Quốc Gia Sinh Thái Tràm Chim, chợt có tiếng nói âm ấm của đàn ông:
-Chú Bảy mới tới hả? Ngồi xuống đây đi chú!
Bảy Thời lặng lẽ đưa đôi mắt buồn buồn nhìn người đàn ông tiếp chuyện với mình:
-Cháu Phiên à! Chú thấy có lỗi với cháu và anh em trong Ban giám đốc. Chú biết, vì nặng tình nghĩa với nông dân ở Tháp Mười này nên các cháu không thể ra tay trấn áp để cho bọn chú làm liều cày hàng chục héc ta đất. Cũng may cho chú là sớm nhận ra con sếu ngày nào nó trở về cùng gia đình. Sớm nhận ra sự hồ đồ của mình vì một chút lợi riêng tư.
Người đàn ông cười cởi mở:
-Đâu có gì đến đổi mà chú phải buồn vậy! Con mời chú nhấm một ngụm trà này là sẽ tỉnh táo ngay. Hôm qua con đi vô Tràm Chim pha chế đó. Cách làm chú đã biết rồi! Chờ đêm trời không mưa trăng sao tỏ rạng, lựa cọng sen đứng sững cứng cáp bỏ trà vào núm lá sen, ngắt một tấm lá sen khác úp lên. Đợi sáng hôm sau mặt trời mọc lấy trà ra. Trà pha với nước mù sương đọng trên lá sen chắc đem về nấu cho thật sôi, khi đun lửa phải cho tốt mới giữ được hương trà. “Uống đi chú! Coi có phải mùi vị quê hương Đồng Tháp hay không?”
 
Chú Bảy nâng ly trà lên, hương sen ngây ngất ngùi trên từng bậc thang ký ức của đời chú. Chú thấy mơ hồ như có bóng mặt trời vừa nhô lên soi rõ hình cánh sếu căng rộng che lấp dấu chân phèn đặc quánh nơi chú đã đi qua.
                                                                       N.H
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 41
Trong ngày: 509
Trong tuần: 3430
Lượt truy cập: 1031246
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông