Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân

NHÀ THƠ HÁT TỪ PHAN XI PĂNG

Nguyễn Ngọc Thiện

 ngocthuong

NHÀ THƠ LÊ TUẤN LỘC HÁT TỪ PHAN XI PĂNG
 
 1- Nhà thơ Lê Tuấn Lộc (sinh năm 1949), quê Thanh Hóa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên là kỹ sư mỏ, Tiến sĩ khoa học, khởi nghiệp viết kịch, làm thơ từ cuối những năm 70 thế kỷ trước.
Năm 1978 anh đoạt Huy chương bạc toàn quốc về kịch bản Động cơ, khi vở được trình diễn trên sân khấu. Năm 1980, anh giành Giải thưởng chính thức thơ Thanh Hóa của Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa.
  Sau tập thơ in chung Với quê hương (Nxb. Thanh Hóa, 1986), ngòi bút anh chuyên hẳn về thơ. Từ năm 1990 đến 2019, anh đã cho in riêng 15 tập thơ chủ yếu tại các nhà xuất bản Trung ương: Văn học, Hội Nhà văn, Văn hóa dân tộc. Gần đây, năm 2023, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc đã có sáng kiến tập hợp chọn lọc mảng sáng tác nổi trội nhất của anh là viết về dân tộc và miền núi đã được rải rác đăng trong các tập thơ trước cùng với mấy bài thơ đã làm sau năm 2019, thành một tập thơ tuyển dày dặn, công phu, bề thế. Đó là tập thơ thứ 16 của anh nhan đề Hát từ Phan Xi Păng gồm 444 trang in đẹp, khổ lớn.
   Là một người con từ nhỏ gắn bó với quê hương sinh thành vùng Núi Nưa, Nông Cống, Thanh Hoá, lớn lên anh đi học trở thành kỹ sư mỏ, rồi Tiến sĩ khoa học. Tình cờ hay số phận đã tạo điều kiện cho anh được làm việc trong một môi trường nghề nghiệp lý tưởng: những tỉnh miền núi, nơi có những mỏ quặng quý như mỏ Chromite Cổ Định (Thanh Hóa), mỏ thiếc Sơn Dương (Tuyên Quang) ...
   Nhiều năm ròng rã miệt mài sống và làm việc cùng bà con các dân tộc và miền núi, với những người thợ mỏ và kỹ sư đồng nghiệp, tầm nhìn và tâm hồn anh được rộng mở, trải nghiệm thực tế, vun đắp vốn sống dày dặn từ miền đất vàng đó. Như cá được trở về với nước, trong môi trường làm việc quen thuộc, anh đã nhanh chóng thích nghi, hòa nhập. Mạch thơ sở trường tiềm ẩn trong con người của anh được thức dậy, khơi nguồn phù hợp với cái tạng của anh. Một giọng điệu riêng của thơ Lê Tuấn Lộc được nhen nhóm, hình thành, nảy nở, từ cách chọn đề tài, góc độ khai thác và triển khai tứ thơ cùng cách thể hiện nhuần nhuyễn cảm thức đời sống của những người thiểu số, dân tộc miền núi. Anh đã thấm nhiễm vào trong con người mình những gì thuộc hồn cốt, cách nghĩ, cách nói của người dân tộc rồi thể hiện nó trên những trang thơ dài ngắn, thuộc các thể loại: lục bát truyền thống, 5 chữ, 7 chữ, thơ văn xuôi, thơ tự do, trường ca... Thơ anh mở ra một trường cảm thức mới trong người đọc, đó là một lối thơ tự nhiên, không cầu kỳ, điệu đà, mà chân thực, nhưng đã được làm tinh gọn, dễ dàng, thuận lợi trong sự tiếp nhận bởi tính giản dị, lão thực, gần gũi mà không kém phần hóm hỉnh, sâu sắc, nhiều khi gây “sock” với người đọc, khiến họ không khỏi ngạc nhiên, thích thú, ngỡ ngàng.
Ở phương diện này có thể nói anh là người theo “chủ nghĩa tự nhiên”, thuận theo tự nhiên (không phải “tự nhiên nhi nhiên”), đánh thức trong người đọc những cảm xúc chân thật, hồn nhiên nhất của bản tính người: sự hòa hợp, đồng cảm giữa Thiên - Địa - Nhân; sự chân thành bộc bạch những gì là chân thật nhất từ đáy sâu tâm khảm của mình, không làm điệu, uốn éo, giả tạo. Thoạt nhìn, thoạt đọc, dường như thơ anh có vẻ gì thật thà như đếm, hồn nhiên quá, ngây ngô và có phần ngồ ngộ, trái khoáy với những gì người bình thường hằng suy nghĩ. Nhưng không, đọc và suy ngẫm lâu thơ anh, gạt đi những định kiến tầm thường hoặc ngộ nhận, ta cuối cùng sẽ nhận ra cái sâu sắc, ẩn ý của lý trí đúng từ bên trong qua những bài thơ tự sự hoặc trữ tình tâm trạng của anh, mà nếu như một chút hời hợt, nông nổi, chỉ bằng vào cái bên ngoài của sự vật, sẽ không nhìn thấy được sự chân thật tự nhiên từ bên trong của nó, như ta vẫn quen gọi là “cái lý của người H'Mông”. Nói như vậy cũng có nghĩa thơ Lê Tuấn Lộc vừa mở ra sự tự đối thoại trong mỗi người đọc, gợi lên trong họ khát khao hướng tới những mục tiêu cao nhất của văn hóa - văn nghệ, là nhằm tới những gì đích thực của Chân - Thiện - Mỹ, để con người trở nên cao đẹp, hoàn thiện và hoàn hảo hơn.

  2. Con số 227 bài thơ ngắn dài về dân tộc và miền núi qua các thể tài thơ đa dạng và phong phú, được sáng tác ngày một thành thục, chỉnh chu, chín mọng, đã được cấu trúc như một cái cây to vững chãi trên núi cao, tỏa ra 14 cành nhánh trĩu quả, ngân vang lên những khúc hát ân tình.

Tập thơ được xếp đặt thành 14 khúc đoạn (episode), cho thấy 14 điểm nhìn được nhà thơ chú mục, lật trở từ những góc nhìn, những suy tư, cảm nhận được bật ra qua sự tiếp xúc của “đối cảnh sinh tình”. Đó là:
- Truyền thống lịch sử - địa văn hóa của miền núi phía Bắc - chiến khu, quê hương của cách mạng và kháng chiến, nay trở thành vùng đất tiềm tàng những trầm tích văn hóa - du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước (khúc XII, khúc XIV);
- Về địa danh và địa chí miền núi thân thương mà suốt cuộc đời hơn 70 năm tác giả đã gắn bó với những kỷ niệm không bao giờ quên (khúc I);
- Vùng quê gốc Thanh Hóa và nơi làm việc lâu nhất của tác giả là Tuyên Quang, như một sự tri ân (khúc II, khúc IX);
- Những người lao động là công nhân mỏ chịu đựng nhiều khó khăn, gian khổ trong công việc nặng nhọc, nhưng vẫn vượt lên, cần cù hăng say làm việc làm giàu cho Tổ quốc, cho hạnh phúc gia đình ấm êm (khúc III);
- Về đồng bào các tầng lớp nhân dân người dân tộc sống chất phác, giản dị, gắn bó thiên nhiên đẹp đẽ mà khắc nghiệt, ham sống và làm việc, yêu đời, biết làm đẹp cho bản thân và quê hương (khúc V, khúc VIII, khúc X);
- Về những chiến sĩ biên phòng có lý tưởng và khát vọng cao cả giữ gìn an ninh nơi biên giới, bảo vệ từng tấc đất chủ quyền đất nước, với bao nhiêu gian truân, hy sinh thầm lặng (khúc VI);
- Về những người phụ nữ miền núi đang vượt lên thân phận của người yếu thế, đảm đang việc nước việc nhà, đẹp cả dáng vẻ và tâm hồn, những bông hoa của núi rừng (khúc IV, khúc XI, khúc XIII);
- Về sự hội nhập của miền núi với miền xuôi, của những người con miền núi với đời sống đô thị, hiện đại (khúc V, khúc VII, khúc IX).
Mỗi khúc đoạn như trên được mở đầu bằng một bài thơ được phổ nhạc, cho thấy dụng ý của tác giả: cả tập thơ như một bản hợp xướng nhiều bè, nhiều giọng như một vĩ thanh vang vọng, ngân nga trong niềm đồng cảm, tri ân, khát vọng về tương lai sán lạn của miền núi từ những người con các dân tộc yêu quý.

  3- Theo thiển ý của tôi, nếu cần chọn 10 bài thơ hay nhất, tiêu biểu cho phong cách thơ dân tộc và miền núi của Lê Tuấn Lộc, thì tôi sẽ chọn các bài sau (theo trình tự mục lục tập thơ):
- Hoa đào (khúc II, tr. 62);
- Cỏ mùa xuân (khúc III, tr. 87);
- Em Tày đấy (khúc V, tr. 124);
- Lính trẻ về thăm nhà (khúc VI, tr. 146);
- Người núi, người phố (khúc VI, tr. 170);
- Tuyên là em (khúc VIII, tr. 216);
- Người dân tộc tự khai (khúc VIII, tr. 239);
- Mùa xuân trên đồi chè Mộc Châu (khúc X, tr. 272);
- Mai sau chết ta xin về Thác Bạc (khúc X, tr. 295);
- Hát từ Phan Xi Păng (khúc XIV, tr. 416).
Dưới đây xin dừng lại nói về 2 bài trong số 10 bài thơ nói trên.

- Bài 1: Mùa xuân trên đồi chè Mộc Châu là bài thơ luật thất ngôn, gồm 3 khổ thơ, miêu tả phong cảnh thiên nhiên (bầu trời, sắc nắng, muôn hoa đua nở) làm khung nền cho điểm nhấn là những đồi chè xanh vùng Mộc Châu (Hòa Bình) mà ở đó hàng ngày những người nữ công nhân nông trường chè, chủ yếu là những người con dân tộc H'Mông đang hào hứng, cần mẫn thu hoạch chè.
   Bài thơ như một bức tranh đa sắc, một khúc hoan ca về hoạt động lao động say mê, sáng tạo, hứng khởi với những sắc màu tươi sáng, đẹp mắt, với tiết tấu nhịp điệu khoan thai, nhịp nhàng. Tác giả làm mới niêm luật của thể tài thơ Đường luật, khi sử dụng nửa cuối của mỗi dòng thơ những cặp tính từ, động từ luyến láy, khiến cả bài thơ như một khúc hát du dương ngợi ca những người lao động bình thường, giản dị. Xin trích 2 khổ đầu bài thơ:
Bầu trời xuân xanh xanh, xanh xanh
Lá chè sương óng ánh, óng ánh
Như tách trà sóng sánh, sóng sánh
Búp chè non nõn nà, nõn nà
 
Mắt em cười long lanh, long lanh
Tay hái chè thoăn thoắt, thoăn thoắt
Gùi sau lưng lúc lắc, lúc lắc
Váy Mông hoa đung đưa, đung đưa…

- Bài thứ 2: Trường ca Hát từ Phan Xi Păng
Với việc chủ yếu sử dụng thơ tự do, có những đoạn là thơ văn xuôi, thơ luật, trường ca này là sự tổng hợp nghệ thuật, đánh dấu đỉnh cao và bút lực thơ sung mãn của Lê Tuấn Lộc.
  Trường ca gồm 10 phân khúc, mỗi phân khúc được đặt tiêu đề, cho người đọc thấy toàn cảnh cái nhìn về Phan Xi Păng với sự hùng vĩ của nó, được mệnh danh là “mái nhà Đông Dương” - tức núi cao thượng thặng của Đông Dương; cái đẹp huyền ảo lúc nào cũng ẩn hiện trong sương mù của địa danh Sa Pa - thị trấn (nay là thành phố) miền sơn cước, tọa lạc trong thung lũng vùng cao với nhiều danh thắng lịch sử, văn hóa. Sự ngoạn mục của thiên nhiên nơi đây, sự độc đáo của nếp sinh hoạt, phong tục từ bao đời của cư dân bản địa đã cuốn hút sự khám phá Sa Pa, chinh phục Phan Xi Păng của bao thế hệ người Pháp xưa, người Việt nay.
Sa Pa với đỉnh cao của nó là ngọn Phan Xi Păng, là tượng trưng cho Tổ quốc Việt Nam hùng vĩ, cho non sông gấm vóc Việt Nam tươi đẹp với những “vưu vật” Trời ban cùng truyền thống lịch sử, địa - văn hóa quý hiếm, với các thế hệ người dân kiên cường, dũng cảm, bất khuất trong xây dựng và sáng tạo cho sự giàu đẹp, hấp dẫn của đất nước.
Phan Xi Păng còn là biểu hiện cho đỉnh cao lòng yêu nước, niềm tự hào và khát vọng vươn lên của cả dân tộc Việt Nam qua trường kỳ lịch sử. Nó mãi mãi là nguồn lực hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và bạn bè năm châu bốn biển đến chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn.
   Ôi, Phan Xi Păng, ngọn núi cao 3143 mét, người Việt Nam chúng ta tự hào về Người - vật báu do thiên nhiên ban tặng mà các thế hệ hôm nay nêu cao ý chí, trân trọng bảo vệ, gìn giữ và phát huy cái Đẹp của sự Cao cả, Hùng vĩ, Anh hùng, của hồn thiêng sông núi đọng lại. Phan Xi Păng biểu tượng cho thế thượng phong, khát vọng phát triển và tồn tại vững chãi của đất nước Việt Nam, con người Việt Nam tài trí:z5361589518623_584dd4a032a9f5638cbb50365a07c417
Để lên đỉnh Phan Xi Păng
Cần ý chí
Gió chỉ muốn đánh ta gục ý chí
Rét như muốn quật ta xuống đường
Mưa phùn như muốn rủ ta quay lại
Nếu không rèn ý chí
Ta lùi bước
Ngã gục dọc đường
 
Bây giờ lên đỉnh Phan Xi Păng
Cần gì
Ta hỏi Phan Xi Păng lặng im
Theo thời gian
Cái cần đã không cần…

  4- Điều cuối cùng cần thấy ở thơ Lê Tuấn Lộc là sự tiềm tàng, giàu nhạc điệu của nó - đó là bản lĩnh nghệ thuật thơ anh.
Cho đến nay trong tập đại thành thơ Lê Tuấn Lộc đã có tới 35 bài thơ của ông được các nhạc sĩ hào hứng phổ nhạc thành công. Ở Việt Nam có thể nói sau Tạ Hữu Yên là nhà thơ giữ kỷ lục hàng đầu về thơ được các nhạc sĩ tìm đến phổ nhạc (hơn 147 bài) thì Lê Tuấn Lộc, theo tôi, có thể xếp ở vị trí thứ hai.
Xem xét kỹ thấy các bài thơ được phổ nhạc rất dồi dào chất nhạc thơ từ nguyên bản gốc.
Chất nhạc đó nằm ở tứ thơ cô đọng, được nhà thơ chăm chút dụng công thể hiện, dẫn dắt qua các thư pháp chính về tiết tấu nhịp nhàng, cân đối, phép lặp tức trùng điệp (điệp từ, điệp vần, điệp nhịp điệu, khúc thức). Những yếu tố đó hòa quyện nhau một cách tự nhiên, tạo cho thơ có giai điệu nhịp nhàng, cân đối, trầm bổng, du dương, ngân vang xa - những điều cơ bản thuận lợi cho việc phổ nhạc.
  Nhiều bài thơ của Lê Tuấn Lộc được các nhạc sĩ đồng cảm và tâm huyết phổ nhạc thành công cho thấy ở anh có sự kết hợp nhuần nhị chất thơ và chất nhạc tiềm ẩn, hòa quyện vào nhau. Mỗi dòng thơ cũng như cả bài thơ ngay khi chưa được phổ nhạc, tự nó đọc lên đã như muốn ngân nga, đọng lại và đồng vọng trong tâm trí người đọc.

*
  Xin chúc mừng nhà thơ tài danh Lê Tuấn Lộc ở tuổi “thất thập ngũ niên” đã cho ra mắt tuyển tập thơ để đời Hát từ Phan Xi Păng. Trân trọng sự gắn bó bền bỉ và những thành quả có ý nghĩa cách tân của thơ anh xung quanh mảng thơ dân tộc và miền núi với cá tính nghệ thuật độc đáo, phong cách riêng không trộn lẫn với người khác. Với bản sắc nghệ thuật có dấu ấn mạnh mẽ đó, tôi tin tập thơ này sẽ được nhiều người tìm đọc, thưởng ngoạn, chia sẻ./.
 
                                                    Hà Nội, tháng 04 năm 2024
                                                                 N.N.T
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
congnhan12345
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 3
Trong ngày: 58
Trong tuần: 467
Lượt truy cập: 386089

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN TÁC GIẢ! CON CÁ TO QUÁ!

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN NHÀ VĂN CẦM SƠN ĐÃ GIỚI THIỆU!

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN NGHỆ SĨ ĐIỆN ẢNH, NHÀ VĂN CẦM SƠN! RẤT NHIỀU BỨC ẢNH CỦA NGÀY HÔM ĐÓ ĐÃ CÙNG VỚI BÀI NÓI CỦA TÔI LÀM NÊN KHÔNG KHÍ TƯƠI VUI, HÀO HỨNG CỦA BUỔI RA MẮT SÁCH! CHÚC MỪNG NHÀ THƠ LÊ TUẤN LỘC!

 

VŨ NHO 085 589 0003

CHÚC MỪNG TS NHÀ THƠ LÊ TUẤN LỘC VỚI TẬP THƠ ĐỘC ĐÁO, IN ĐẸP!

 

VŨ NHO 085 589 0003

BÁI PHỤC BÀ MÂY!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Thuộc loại "chuyện bây giờ mới kể" đây! Cám ơn tác giả! Mượn lời bà SUỐI để nói về bà MÂY: "Bái phục bà MÂY" ! Haiza!

 
Xem toàn bộ
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email: soncam52@gmail.com
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công nhân.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông Chi hội Nhà văn Công nhân.