Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

TIẾNG CHUÔNG GIỮA CÕI NGƯỜI

Phạm Thanh Khương

TIẾNG CHUÔNG VỌNG GIỮA CÕI NGƯỜI
(Đọc tập truyện ngắn “Chuyện tào lao” của Nguyễn Đạo Vinh – NXB Hội Nhà văn 2026)

Bạn đọc biết đến Nhà văn Nguyễn Đạo Vinh, một cây bút đa năng trên nhiều thể loại, từ thơ, truyện ngắn đến tiểu thuyết, tùy bút, kí, truyện kí. Ngoài các tập thơ in chung, anh đã cho ra mắt bạn đọc tiểu thuyết Làng cò (2 tập), truyện vừa “Người của một thời, tập thơ “Sự đời, tập truyện ngắn “Chiếc xắc cốt bội bạc, tập ‘’Phiếm đàm, tùy bút’’, tập truyện kí ‘’ Đất và người Làng Diễn’’.

 Những câu chuyện của Nguyễn Đạo Vinh xoay quanh cuộc sống của vùng đất “sau một đêm thành người phố thị” mà có biết bao điều bạn đọc phải nhớ. Nơi Nguyễn Đạo Vinh đã thấm, đã ngấm từ những ngấn bùn thời trai trẻ.

Trong năm 2026 này, nhà văn Nguyễn Đạo Vinh lại cho ra mắt tập truyện ngắn mang tên Chuyện tào lao. Mới nghe đến tên tập truyện thì ai ai cũng đồ rằng, đó chỉ là những câu chuyện vớ vẩn, chuyện hàng cua, hàng cá, chuyện vỉa hè. Nhưng không, với lối kể thung thăng, thủng thẳng, đặc chất quê làm cho người đọc phải giật mình vì không ngờ rằng, những câu chuyện của Nguyễn Đạo Vinh, lại đã và đang xảy ra ở chính nơi mình đang sống. làm cho độc giả cứ day dứt mãi về nhân tình thế thái.

Mười hai truyện ngắn trong tập “ Chuyện tào lao”, là mười hai câu chuyện về nhân tình thế thái, là những thói đời đang diễn ra quanh ta, gần mà “chẳng giống ai”. Nó xa lạ với nếp sống, với thuần phong mĩ tục của “đất lề quê thói”. Nó xa lạ và có phần đối lập với những gì, mà hàng ngày người ta vẫn rao giảng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đó là những hư danh, thói “kiêu ngạo cộng sản” mà Lê Nin, vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân đã từng lên án một cách gay gắt. Lúc nào cũng ra rả “công bộc” của dân, nhưng thoát ra khỏi bờ môi là rơi xuống đất, nhày nhụa, nhớp nháp. Mười hai câu chuyện là mười hai khuôn mặt trong quãng “thời gian không của người”. Đó là những câu chuyện đã diễn ra, đang diễn ra, bức bối và chán chường với những trò “tham nhũng vặt” của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở.

Đó là chân dung Hài trong “Chiếu tướng”, một kẻ cơ hội, một ông quan xã. Trên chiến trường thì sợ chết, Hài tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để thoát ra khỏi nơi hòn tên mũi đạn nhằm giữ mạng sống. Khi gặp được cơ hội, thăng tiến, khoe mẽ, chỉ biết nói như vẹt, vô liêm sỉ, giấu mình trong vỏ bọc “lính trận” lên giọng dạy đời. Đời không như là mơ, “cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra” khi Hài đối diện với chính người đã sống, đã chiến đấu và “bóc mẽ’ trò trốn tránh nơi chiến trường của Hài. Cú chiếu tướng im lặng và chiếc mặt nạ của Hài rơi xuống.

Là những trò ma mãnh, hành dân trong “Chuyện tào lao”, Lỗi ở ai” vẽ ra các quy định trong quản lý hành chính để thu vén, nhặt từng xu của những người dân quê, lam lũ, theo kiểu ‘’ Đục nước béo cò’’ và ‘’Gà què ăn quẩn cối xay’’. Họ quên mất lời dạy của cụ Nguyễn Trãi là: ‘’Việc trị nước cốt ở an dân’’. Vì thế, một bộ phận không nhỏ của đội ngũ cán bộ công chức phường, xã, đã tìm mọi thủ đoạn để “hành là chính” làm mất đi bản chất phục vụ. Họ chỉ tính đến chuyện thu vén lợi ích cho bản thân và cho những người cùng phe cánh. Đó là những ung nhọt cần phải cắt bỏ, để xây dựng các tổ chức cơ sở xã, phường vững mạnh, làm nền tảng cho cơ hội “vươn mình” khi đất nước bước vào “kỷ nguyên mới”.

Là câu chuyện thi tuyển công chức ở một trường dạy học trong “Niêu cơm”.  Một thày Thành chỉ biết đến chuyên môn, đến chất lượng giáo dục và chất lượng học tập của học sinh đối lập với một Tiến, vị Hiệu phó trường Trung học cơ sở. Ngay trong môi trường giáo dục, dạy làm người trước khi dạy chữ, dạy nghề, những tiêu cực, thói xấu xa đã len chân vào ngay trong đội ngũ những người được xã hội tôn trọng. Một nền tảng giáo dục mà những “kiến trúc sư” hỏng, đặt ra câu hỏi, sản phẩm là con người ở trong môi trường ấy còn được bao nhiêu sự tử tế, tốt đẹp, hay nó chỉ đưa ra xã hội những sản phẩm lỗi, sản phẩm hỏng.

Là thái độ chỉ biết bắt chước, “sao y bản chính” của đội ngũ cán bộ cơ sở, đánh mất tính tự chủ, tính sáng tạo, dám nghĩ dám làm, trì trệ trong tư duy, ỷ lại, dựa dẫm, không biết lắng nghe ý kiến nhân dân trong “Bố lạy thày”“ Nửa mùa”. Một đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở như vậy thì đến bao giờ mới xây dựng được một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh? Một “mắt xích” lỗi làm sao có thể xây dựng một bộ máy đủ khỏe, trong dây chuyền quản trị công quyền, quản lý xã hội?

Là sự lãng phí và “bày trò”, “háo danh” những thứ văn hóa mà không văn hóa trong “Tiền chùa” . Để có được cái danh hão ấy, cán bộ cơ sở đã bày đặt, dựng chuyện và tìm mọi cách, đưa cây nhãn “mồ côi” thành cây di sản rồi rút ruột ngân sách, rút ruột kinh phí để ăn chia, làm dáng cho bộ mặt ẩn sau lớp giấy có được bằng tiền, bằng mánh khóe và thủ đoạn của những kẻ cơ hội.

Là việc giở những chiêu trò này, nọ, để bắt ép phụ huynh học sinh phải đóng góp những khoản tiền chưa thật hợp lí, trong ‘’Nhân cách đang ở đâu’’’’ làm mất đi những hình ảnh đáng kính của các thầy cô, gây ảnh hưởng xấu cho nền giáo dục nước nhà.

Là thao túng quyền lực, lợi dụng tính tập thể trong bầu cử các chức danh quản lý thôn, tổ dân phố, trong “Cất vó”“Chán chẳng buồn chết” lôi kéo, bè phái, cánh hẩu để chia chác quyền lợi. Tham nhũng vặt từ những điều tưởng như không thể xảy ra trong cuộc sống, gây tổn hại về vật chất, tinh thần và làm mất niềm tin của nhân dân.

Là tệ nạn xã hội trong “Đi cấy”. Một miền quê yên ả, lam lũ và tần tảo là nét chung của đức con người. Khi cơn bão “cờ bạc”, lô đề quét qua, nó để lại một khuôn mặt rách rưới và bệ rạc, người không còn là người, mọi nét thuần phong mĩ tục bị buông bỏ, phá dỡ. Khi tất cả các tế bào của xã hội đã bị nhiễm những u nhọt, thì cần phải mạnh tay gọt rửa cho sạch, để cuộc sống mỗi ngày được tốt đẹp hơn. Chuyện ‘’Thế thời’’ cũng để lại cho độc giả nhiều nỗi ám ảnh suy tư.

Tập “Chuyện tào lao” là tiếng thở dài lo lắng về đời sống xã hội mà Nguyễn Đạo Vinh, với trách nhiệm một nhà văn gửi đến bạn đọc. Là những trăn trở dằn vặt của trái tim đau đáu nỗi niềm về cuộc sống “chân thiện mĩ”, là lời cảnh báo, tiếng chuông báo động về dấu hiệu của một đời sống xã hội đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Lo lắng nhưng không bi quan, dằn vặt, nhưng không mất niềm tin. Mỗi câu chuyện của Nguyễn Đạo Vinh đưa con người đến một niềm tin mới, một hy vọng mới về một ngày mai tốt đẹp và trong sáng hơn.

Vẫn những câu chữ mộc mạc và lối kể gần gũi với đời sống, như lời tâm sự mà chất chứa bao âu lo về những gì đang diễn ra, xảy ra. Chuyện trong truyện, một kết cấu truyện trong chuyện, không cần thủ pháp cầu kỳ, không cần dàn dựng chi tiết mà đủ sức nặng, đủ để giật mình về những điều đã và đang diễn ra hằng ngày hàng giờ trên một vùng quê vẫn được coi là vùng đất thanh bình, yên ả.

 Hơi thở cuộc sống được Nguyễn Đạo Vinh đưa vào trong câu chuyện đã đủ sức hấp dẫn, đủ sức chứa đựng tư tưởng trong mỗi câu chữ, đưa bạn đọc đến với cuộc sống hiện tại. Mặc dầu chỉ là những câu chuyện vụn vặt và tưởng chừng chỉ là những chuyện tào lao. Nhưng không, nó là sự thật, là sự báo động về những điều tưởng nhỏ, rất nhỏ ấy, lại là những ung nhọt cần phải “cắt bỏ”, phải gọt rửa, nếu muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, đủ sức bước vào kỷ nguyên mới, ‘’Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc’’. Người cầm bút là người dũng cảm, gióng hồi chuông cảnh tỉnh về thực trạng xã hội.

 “ Chuyện tào lao” của Nguyễn Đạo Vinh gióng lên hồi chuông giữa cõi người. Âu, đó cũng là trách nhiệm, là lương tâm của những người cầm bút./.

                                                                                    P.T.K

chuyentaolao                                                                                                              

Nguyễn Đạo Vinh

CHUYỆN TÀO LAO                                                               

    Đợt gió đông bắc cuối mùa làm cho nhiệt độ hạ xuống đột ngột, Nam đã khoác thêm chiếc áo mưa ra ngoài, mà người vẫn run lên cầm cập.

Đây là lần thứ mười, Nam lên phường để xin cho được cái giấy phép xây dựng. Nam ra cổng phường từ lúc bảy giờ, núp vào nơi khuất gió, quyết đợi cho bằng được cô Sinh, người phụ trách công tác quản lí trật tự xây dựng của phường.

Đốt gần hết bao thuốc, ngó đồng hồ, đã mười một giờ Nam vẫn chưa thấy bóng dáng cô Sinh đâu. Buồn chán, Nam đứng dậy đi tới quán nước đầu làng, nhưng mắt vẫn đăm đăm hướng  về phía cổng phường.

    Vừa đưa chén nước lên mồm định uống thì Nam nhìn thấy tôi. Như người chết đuối vớ được cọc, Nam vội vàng chạy đến. Anh lôi tôi vào quán nước đầu làng.

Quán nước đầu làng là nơi tụ họp đủ các thành phần, nào anh xe ôm, nào khách đợi xe buyt, nào bác nông dân, nào người đi thể dục v v. Nếu ai mỏi chân, khát nước, thèm chuyện, thì xin mời vào. Vì thế, những câu chuyện ở quán lúc nào cũng rôm rả. Chuyện đông tây, kim cổ, trên trời, dưới biển, xa, gần đủ cả. Nhưng có lẽ, chuyện mà người dân ở đây hay đề cập đến, vẫn là những câu chuyện về thủ tục hành chính ở cấp cơ sở.

Đón chén nước từ tay cô chủ quán rồi cung kính dâng lên mời tôi, anh Nam hồ hởi nói:

- Chẳng biết trời xui, đất khiến thế nào mà hôm nay tao lạị gặp được chú mày? Đúng là ‘’buồn ngủ gặp chiếu manh’’.

Ngỡ ngàng về câu nói đó của anh, lại thấy anh vồ vập thái quá. Tôi sinh nghi, liền hỏi:

- Có việc chi mà anh lại khách sáo với em như thế?

Như được gãi đúng chỗ ngứa, Nam xổ luôn một tràng:

 - Chú mày là Nhà văn, Nhà báo, đi đây, đi đó nhiều, quan hệ rộng. Có quen ai ở phường, ở quận, xin cho tao cái giấy phép xây dựng? Tao đi lại mấy tháng nay mà vẫn chưa xin được. Tôi chưa kịp trả lời, thì, Toàn cò đất, bĩu môi, trề giọng bỉ báng:

- Thôi đi bố ạ! Không tiền có mà… Có quen bằng giời cũng cứ phải tiền hết, ai cho không anh bây giờ. Không tiền, thì chờ đấy! Bập bập điếu thuốc trên môi rồi phả ra một cụm khói xanh, Toàn nói tiếp:

- Nếu như người khác thì họ hành cho bằng chết. Họ đòi hỏi đủ các loại giấy, nào là giấy chứng tử của ông bà, cha mẹ, nào là giấy ủy quyền thừa kế, rồi còn đòi hỏi chữ kí của người nọ, người kia v v. Chẳng qua họ còn e dè bởi ông nội anh là liệt sĩ chống Pháp, họ mới dền dền, dứ dứ, chưa dám ngã giá thẳng tưng đấy thôi. Anh có biết họ dền dền, dứ dứ như thế để làm gì không? Để câu tiền của anh đấy. Anh cứ đấm cho họ vài chục củ là xong béng. Đi đi, lại lại làm quái gì cho mệt.

Để cho Toàn dứt câu, tôi mới mở miệng nói với Nam:

- Anh cứ làm đầy đủ thủ tục nộp cho họ, chỉ mười lăm ngày sau họ trả lời. Được thì họ cấp phép cho ngay. Luật đã quy định rõ ràng như thế rồi mà?  Nam cau mày cãi lại:

- Cách đây hơn ba tháng, tao đã làm đầy đủ thủ tục như hướng dẫn của họ rồi đem lên nộp. Nhận xong, họ đưa cho tao một tờ giấy hẹn. Đến hẹn tao lên, thì được họ trả lời: “Cô Sinh đi chữa bệnh đột xuất, cô chưa bàn giao lại cho ai, bác thông cảm. Khi nào cô ấy về, chúng cháu sẽ thông báo cho bác.” Nhưng càng chờ càng mất hút.

  Thấy anh Nam cứ lúng búng mãi trong chuyện chạy chọt, xin xỏ, Thắng xe ôm nhếch mép, cười khẩy rồi nhảy xổ vào góp chuyện:

- Thời buổi này mà cứ trông chờ vào luật pháp và lòng tốt của các ông bà lãnh đạo, thì còn lâu mới đến lượt nhé! Đến lúc sang tiểu chưa chắc họ đã duyệt cho. Rít xong điếu thuốc lào, Thắng đưa tay lên, vỗ vỗ vào ngực rồi nói:

- Tôi đây này! Mấy năm lăn lộn trên biên giới đánh nhau với Tàu, hai lần bị thương được giải ngũ về làng. Ruộng nương chẳng có phải đi làm phu hồ, tích cóp mãi mới mua được cái xe ghẻ để chạy, kiếm đồng ra, đồng vào, cho con ăn học. Hôm nọ chở khách đến Hàng Cháo, đang lớ ngớ tìm địa chỉ, thì bị chiếc dùi cui của ông công an dí vào ngực. Nhìn sang, thấy ông ta hất hàm ra hiệu cho xem giấy tờ. Tôi đưa cho ông ta cả tệp, xem qua một lượt, không thấy có chút sạn1 nào bên trong, ông ta quay ra hạch đến, gương, đèn chiếu hậu. Van xin sùi bọt mồm, bọt mép lão cũng không tha. Phải nôn đủ ba lít, đúng ba lít2 lão ta mới cho đi. Phải học để khôn dần đi, cứ ngu ngơ mãi thì chỉ có thiệt thân. Chờ cho Thắng xe ôm nói dứt câu, tôi mới nói với anh Nam:

- Em nghe nói, tay Điều mới được chuyển về làm chủ tịch phường thay cho tay Động trước đây, tay này nghiêm khắc, chính trực lắm. Vả lại, mấy tháng nay, trên cũng đã kịp thời cho ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, cùng các biện pháp, sát sao, quyết liệt, để ngăn chặn và đẩy lùi, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Ta cứ vận dụng vào đó mà làm. Sợ gì?

Tôi vừa dứt lời thì ông Khiêm đứng vụt dậy vỗ đít phành phạch rồi vặc lại:

- Chính với chả trực, thằng nào chẳng muốn liếm! Ti vi lúc nào cũng ra rả nói về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng, càng chống thì nó lại càng tham. Có dây, có dợ hết rồi! Nói thì như rắn trong lỗ bò ra. Bụng thằng nào chẳng có cứt. Chỉ khi nào chó từ c.. thì may ra chúng nó mới thôi. Rít xong điếu thuốc lào ông Khiêm nói tiếp:

- Con thằng cháu Hải nhà tôi ông biết chứ? Nó vừa xin vào làm công chức ở phường. Tưởng béo bở gì, hóa ra cũng chỉ là cái chân loong toong mà cũng phải đấm mõm chúng nó hai trăm củ3 đấy. Không tin tối ông đến mà hỏi nó. Rồi thằng Hoàn cạnh nhà tôi, lúc nào cũng tinh tướng, khoe với mọi người là tôi quen thằng nọ, thằng kia, ở đội quy tắc và thanh tra xây dựng của phường, của quận, tôi muốn làm sáu, bẩy tầng cũng chẳng cần xin phép. Năm ngoái xin giấy phép, xây bốn tầng, một tum, đã mất mẹ nó hơn bốn chục củ. Lúc gần xong, nghĩ thế nào lại nẩy thêm bốn chục mét vuông nữa để làm phòng thờ. Phải nôn tiếp bốn chục củ nữa, không nôn thì nó đập. Kêu giời, kêu đất, hết cả nói phét! Còn nhà Phó lò sát lách nhà tôi, xin phép xây bốn tầng cũng phải nộp bốn chục củ có ngay giấy phép. Nhưng cứ cách ngày lại có vài thằng tự xưng thanh tra xây dựng đến dòm ngó, đo đạc, hạnh họe, lại phải dúi cho dăm lít, hay một củ nó mới chịu đi. Lúc cầm tiền thì, anh anh, em em, cứ ngọt sớt. Xây xong, úp tí tôn lên cho đỡ nóng, nào ngờ bọn chúng lại mò đến, lập biên bản, đình chỉ. Van xin mãi, rồi phải bỏ ra năm chục củ, tọng vào họng chúng nó mới xong.

  Cô Tâm chủ quán là người có tiếng kiệm lời, mọi khi nghe chuyện cô chỉ tủm tỉm cười, nhưng có lẽ hôm nay trời để hở d.. nên cô cũng hào hứng tiếp chuyện:

          - Nói các ông bỏ quá cho, họ cứ bảo cải cách. Cải cách cái chó gì? Nhũng nhiễu, nhiêu khê lắm các ông ạ! Ông Sơn nhà em đi bộ đội từ măm 1968 đánh nhau với Mỹ, thương tật đầy mình. Sau giải phóng lấy vợ rồi định cư luôn ở Tây Nguyên, dăm bảy năm ông mới về được một lần. Tháng trước ông ấy bay ra làm lại giấy khai sinh để chuyển giao đất cát cho các con. Khi xem xong giấy tờ nhân viên tư pháp bảo, thiếu giấy chứng tử của các cụ. Bố mẹ em đã chết từ tám hoánh nào rồi, moi đâu ra giấy chứng tử. Họ yêu cầu ông Sơn phải lên nghĩa trang chụp ảnh mộ hai cụ. Chụp xong đem về phường, họ lại bắt làm đơn khai rõ hai cụ mất ngày tháng năm nào, rồi phải đi xin chữ ký của ông quản trang. Vo đi vòng lại gần hết ngày mới xin được chữ kí. Cũng may cho ông Sơn nhà em là tay quản trang chưa đi sang Mỹ chơi với con, chứ không thì đợi đến mùa quýt. Nhận hồ sơ, nhập vào máy xong, cô nhân viên bảo ông Sơn: ‘’ Khi nào làm xong cháu sẽ báo cho bác’’. Ông Sơn chẳng dám ở chơi, cứ nằng nặc đòi về để chăm sóc đứa con đầu lòng bị nhiễm chất độc hóa học. Trước khi ra sân bay ông dặn em: “Tuần sau cô ra hỏi, nếu họ làm xong, cô lấy giúp rồi gửi ngay vào cho tôi’’. Rót chén nước cho khách xong cô Tâm nói tiếp:

- Giờ có việc gì phải nhờ vả đến chính quyền thì mệt lắm, bởi thế cho nên, em cứ nấn ná chẳng dám ra hỏi. Ông Sơn thì ngày nào cũng gọi điện thúc giục. Lí do mãi cũng chẳng xong, em đành đánh liều ra hỏi thì họ bảo: “Giấy khai sinh của ông Sơn đã làm xong, gia đình báo cho ông ấy ra lấy’’. Em xin đứng ra nhận hộ, họ nhất quyết không nghe. Nhấp chút nước xong cô Tâm nói tiếp:

- Em đành điện ngay cho ông Sơn, ông mừng như bắt được vàng, nhưng khi nghe em trình bày, phải chính chủ ra thì họ mới trả. Ông hét toáng “Sao kì cục zậy hở trời?’’. Thế rồi ông vội bay ra ngay đêm đó. Vào đến nhà em thì đã bảy giờ sáng. Ông giục thằng Kì con trai em đèo ông ra phường để lấy xong về ngay cho kịp chuyến bay. Ra đến nơi, ông trình căn cước công dân để nhận giấy khai sinh. Cô nhân viên bảo: “Bác phải đưa lại giấy tờ hôm trước khai báo ở đây, bọn cháu mới có chứng cứ.’’ Ông Sơn bực quá gắt toáng: ‘’Dái tờ gì? Dái tờ hôm nỏ cô nhập vào máy thì mở luôn ra mà đối chiếu, còn dái tờ gì nửa? Vì ở lâu trong Nam nên giọng ông Sơn cứ lơ lớ, chữ giấy lại nói trật thành chữ “dái’’ làm cho cả phòng cười vang. Ông đỏ mặt tía tai, đù cha, đù mẻ mấy câu rồi bảo thằng Kì chở ra sân bay luôn. Hôm sau ông lại bay ra. Em tạm nhẩm tính, cứ mỗi lần đi về, chưa kể quà cáp đã mất ba triệu, ba lượt cả đi lẫn về là chín triệu. Mất toi hai tấn thóc mới xin được cái giấy khai sinh đấy các ông ạ. Rót nước ra tất cả các chén cho mọi người xong cô Tâm nói tiếp:

- Chén này là em mời các bác! Cô che mặt bụm môi rồi cứ cười khùng khục, lát sau cô mới nói:

          - Cứ nghĩ tới chuyện hôm qua, em lại buồn cười quá. Tuần trước con bé Nga nhà em  đẻ ngoài viện. Hôm qua ông ấy ra phường để làm giấy khai sinh cho cháu. Sau khi nghe ông nhà em trình bày xong, cô nhân viên phụ trách tư pháp bảo: “Viện chưa đưa mã số định danh về, chưa làm được’’. Nhà em đành đạp xe ra viện để hỏi, thì nhân viên hành chính ở đấy họ bảo:  ‘’Chúng tôi vào máy gửi về phường ngay hôm cô Nga ra viện rồi’’. Ông nhà em lại bốc bải đạp xe về nói với cô nhân viên khi nãy: ‘’ Viện họ bảo gửi về rồi, chỉ cần nhấn chuột vào là nó hiện lên ngay’’. Cô ta lừ mắt trả lời: ‘’Ông tưởng nhấn chuột dễ lắm hả?’ Nhà em chẳng biết chuột bọ là thế nào liền hỏi lại. Nó có nặng, có hay cắn không? Để tôi giúp một tay! Cô nhân viên ấy chẳng nói, chẳng rằng bỏ ra ngoài.

  Chờ mãi chẳng thấy cô ta quay lại, nhà em lao xe về rồi kể cho con Nga nghe. Nghe xong nó ra bật máy tính lên rồi chỉ cho em và ông nhà em xem. Con chuột ở trong máy có hình mũi tên, muốn lấy dữ liệu gì thì di chuột đến chỗ đó, dùng ngón tay trỏ nhấn nhẹ một cái là dữ liệu đó hiện lên ngay, thế mà họ cũng gây khó dễ. Em và nhà em nghe con giải thích xong cứ bật cười mãi. Rót xong chén nước cho khách, cô Tâm nói tiếp:

- Biết họ làm trò, chiều cháu Nga ra cổng phường đưa cho cò Luân hai củ, nó làm cho từ A đến Z luôn chẳng phải chờ đợi gì sất. Rồi thằng Cát em ruột tôi được bố mẹ giao cho sổ đỏ đất ở, kéo nhau ra phường để sang tên, đổi chủ, nó đòi ngay sáu chục củ. Cứ bảo là chống nọ, chống kia! Chống cái con khỉ!

 Cô Tâm vừa dứt lời, ông Khiêm vội vàng đế theo:

- Đấy! Có mỗi việc nhỏ như con thỏ và nhẹ như tên ấy mà họ còn bày trò.  Trước đây họ còn phải ngó trước, dòm sau, kín kín, hở hở. Bây giờ thì chúng nó công khai ra giá luôn, chẳng có oong đơ gì hết. Ông quay mặt về phía anh Nam, vừa vỗ vỗ vào vai anh, vừa nói:

- Thôi, đừng có lên lên, xuống xuống làm gì cho mệt. Về bảo vợ con nó, bớt ăn, bớt mặc, mửa ra cho chúng nó ít. Nghe chửa!

  Tôi ù tai, hoa mắt về những câu nói của ông Khiêm, người cứ nóng ran, có lúc lại hầm hập như lên cơn sốt, mặt thì  đỏ rực, tâm trạng lại cứ thất thần như người mất sổ gạo.

  Tối đó, cơm nước xong, tôi đến nhà ông Khiêm để tìm hiểu rõ sự tình câu chuyện ban sáng ông đã kể. Vào đến nơi, ông niềm nở mời nước rồi thủ thỉ:

- Cháu nó bảo tôi, đừng nói nữa. Nói ra để họ đuổi việc à? Vừa mất tiền lại vừa mất việc. Quá nữa, họ bảo mình là vu khống, họ tống giam thì bỏ mẹ? Uống xong chén nước, ông nói tiếp:

- Bức xúc quá thì nói ra, cho nó hả được chút nào hay chút ấy, chứ dân đen nào dám đối đầu với quan. Quyền hành, luật pháp ở trong tay họ cả.

    Cho thuốc vào nõ, rít một hơi dài, với chất giọng buồn buồn, ông Khiêm giãi bày:

- Mười tám tuổi tôi vào bộ đội, đánh Đông, dẹp Bắc mười ba năm trời, thương tích đầy mình, về phục viên, phải lăn lộn kiếm sống. Ngoài sáu chục tuổi mà chưa làm nổi cái nhà, cũng may là khi đó Nhà nước xét huân huy chương kháng chiến chống Mý, tôi được lĩnh bốn triệu chứ không thì nhà cũng chẳng có để ở. Thế cũng còn là tốt số. Nhiều anh em, đồng đội bị hi sinh, có người vẫn chưa tìm thấy xác, vợ con cứ mòn mỏi trông đợi. Mấy đồng trợ cấp của nhà nước cho các gia đình liệt sĩ, thương binh chỉ đủ để mua thuốc chữa bệnh. Hôm nọ tôi nghe tin, thằng Động chủ tịch phường xin về hưu trước tuổi, còn được nhận thêm hơn một tỉ đồng. Đúng là ‘’ngồi mát ăn bát vàng’’. Tôi hỏi ông như thế có bất công không? Ông thở dài ngao ngán, lát sau ông nói tiếp:

- Mấy đứa trẻ ranh vắt mũi chưa sạch, nhờ vào hai chữ ‘’cốt cán’’ của thằng bố với con mẹ mà ngoi lên. Luồn lọt, chạy chọt, rồi biếu không cả cái ngàn vàng của mình để được lên làm, ông nọ, bà kia. Chỉ mấy năm thôi, chúng nó đã mua được đất, làm được nhà ba, bốn tầng, mua sắm xe hơi, ti vi, tủ lạnh đủ kiểu. Ông cứ nhìn vào dinh cơ của con Lươn thư ký văn phòng Đảng ủy trước đây, với con Lẹo phó chủ tịch phường hiện nay, rồi thằng Đồng, cán bộ địa chính phường thì khắc rõ. Tôi hỏi ông, tiền đó chúng nó lấy ở đâu?

Thấy tôi không trả lời và lại cứ ngơ ngác như bò đội nón, ông Khiêm liền giải thích:

- Tiền chúng có được là nhờ vào cái ghế đấy! Mỗi một dự án cấp đất chúng lại được chia một miếng hơn trăm mét vuông, kèm theo hàng trăm triệu đồng. Chúng còn liên kết với nhau, mua không biết bao nhiêu mảnh đất kẹt, đất liền kề, kể cả đất canh tác của các gia đình trong làng rồi phù phép thành đất ở. Mua một, bán một trăm thì làm gì chẳng giàu? Nhấp xong chén nước ông than vãn:

- Nó lợi dụng vào quyền lực trong tay, lợi dụng vào những kẽ hở của luật pháp để làm giàu bất chính, vậy mà lãnh đạo phường, cứ im re. Kể ra thì cũng nhiều người biết nhưng không dám nói, bởi ‘’trung ngôn nghịch nhĩ’’. Họ đành phải ‘’ngậm miệng ăn tiền’’ để giữ chân, giữ ghế. Dừng lại một lúc để cân nhắc,  sau đó ông nói tiếp:

- Sự im lặng của lãnh đạo các cơ quan công quyền, đã tạo ra một kẽ hở, một tiền lệ xấu, hối lộ đã trở thành luật bất thành văn cho mọi công dân khi phải đi xin xỏ. Làm cho mọi người dân cứ bán tín, bán nghi, không biết đâu là đúng, đâu là sai, họ chẳng dám phản ánh, góp ý, với ai. Thiên địa tù mù, mạnh ai người đó chạy, tham nhũng càng ngày, càng phát triển. Nhấp ngụm nước xong, ông lại than thở:

- Nói ra thì lại vu cho là phản động, lại ghép tội tống giam thì ai dám nói. Mồm thì lúc nào cũng leo lẻo là không để lại ai phía sau, nhưng bụng dạ thì nham hiểm hơn thú vật. Toàn những ông, bà tai to, mặt lớn, cỡ bự hẳn hoi còn dính vào tham ô, tham nhũng,, mua quan, bán chức, cờ bạc, buôn gian, bán lận, cướp đất, cướp nhà của dân thì nói được ai. Chẳng hiểu sao, vài năm gần đây, tôi bị mắc căn bệnh cãi nhau với ti vi, bởi cứ mở ra xem, thì lại thấy những gương mặt của mấy ông, bà lãnh đạo, hôm trước, còn ra rả kêu gào mọi người phải thẳng tay vạch mặt, trừng trị bọn tham nhũng tiêu cực, lợi ích nhóm v v. Nhưng hôm sau, thì, chính các ông, bà ấy lại bị còng tay vì tội ăn hối lộ và làm trái pháp luật. ‘’Thượng bất chính, hạ tắc loạn’’ là ở chỗ đó. Dừng lại một lát ông nói tiếp:

- Càng nhìn, càng nghe lại càng chướng tai, gai mắt. Kết luận của ban tổ chức Trung Ương thì nói rằng, mức độ vi phạm của những ông quan tham đó là đặc biệt nghiêm trọng. Tôi cứ tưởng, loại tội phạm ấy phải cho ra đấu tố rồi tùng xẻo, hoặc xử bắn mới đúng. Tội ác tày đình như vậy mà các ông đó chỉ bị cảnh cáo, khiển trách, hoặc tự kiểm điểm thôi thì thật là kì quặc và hết sức vô lí. Đúng là, ‘’Tiền hậu bất nhất’’. Tôi đồ rằng, họ sợ ‘’Trâu lấm vẩy càn’’, hoặc sợ mình bị bắt thóp, nên chỉ dám ‘’Giơ cao, đánh khẽ, nói một đằng, làm một nẻo’’ thế thôi. Còn một số vụ án được đưa ra xét xử cả tháng, có khi vài ba tháng, thậm chí hàng năm vẫn chưa xong. Nâng lên, đặt xuống mãi mới cho ra được mức án, người bị kết án mười năm, người thì vài ba chục năm, người bảy, tám năm. Nhưng chỉ mới ngồi độ vài ba năm thì họ đã được ân xá. Ra tù họ lại sống như ông Hoàng, bà Chúa, bởi những thứ họ tham nhũng được chẳng bị thu hồi. Ngày trước, muốn tranh cử chức lí trưởng thôi cũng phải có nhà cửa, ruộng vườn để thế chấp. Nếu lí trưởng lơ là làm thất thoát công quỹ, để xảy ra trộm cắp nhiều, hay để xảy ra án mạng, sẽ bị thu thẻ bài, bị truất quyền ngay tức khắc, tài sản thì bị tịch thu xung quĩ chẳng cần xét xử. Giờ thì…..Ông thở dài một lúc rồi nói tiếp:

- Sao không học người xưa mà làm? Xử lí kẻ tham nhũng như ta hiện nay thì khác chi là ‘’Đánh bùn sang ao’’, luật pháp cũng chỉ là trò đùa của những người cầm cân nảy mực. Người ăn trộm vài quả mít tù ba năm, thằng tham nhũng, lừa đảo, trăm tỉ, ngàn tỉ cũng tù có vài năm rồi lại được ân xá. Và gần đây, việc xử lí vụ gà lôi ở Hưng Yên lại càng làm cho dân mất niềm tin.

Dừng lại để nhấp chút nước cho đỡ khô họng, ông Khiêm nhìn thẳng vào mắt tôi rồi nói tiếp:

- Còn chuyện này nữa, nhưng chẳng biết có nên nói ra để cho ông nghe không, bởi suốt bao năm qua tôi cứ băn khoăn, day dứt mãi, nhưng cũng chẳng dám thổ lộ với ai.

Thấy ông Khiêm cứ lấp la, lấp lửng ra ý thăm dò. Tôi mạnh dạn đề cập:

- Ở đây chỉ có bác với em, có điều gì hệ trọng, bác cứ nói ra cho nhẹ lòng, việc gì phải úp úp, mở mở thế?

Ông Khiêm lúng búng một lúc rồi mới bắt đầu thì thào:

- Hàng năm có vài đợt cấp trên về tiếp xúc cử tri, nhưng lãnh đạo không bao giờ mời những người hay nói thẳng, nói thật đi họp, họ mời tay chân của họ và những người thân tín đã được họ chia sẻ cho một chút quyền lợi để nói tốt cho họ ông ạ. Chính vì thế mọi chuyện ở cơ sở cứ bị lấp liếm, cấp trên cũng chả biết đâu mà lần. Chống tham nhũng thì phải chống từ gốc, rễ con, rễ cái phải nhổ bằng sạch, tróc cả cụm, chứ cứ nay sửa cành, mai ngắt ngọn thì triệt làm sao được. Cứ duy trì mãi cái cơ chế này, thì muôn năm chẳng diệt trừ được tham nhũng đâu!  Nhấp xong ngụm nước ông giật giọng hỏi tôi:

- Câu nói của Bác ‘’Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong’’ sao họ không đem ra áp dụng?  Không thấy tôi trả lời, ông Khiêm  liền phân trần:

- Không phải là họ không biết câu nói đó, mà là họ cố tình ỉm câu nói đó đi. Bởi, nếu áp dụng câu nói đó vào công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, thì chính họ sẽ bị dân lôi ra đấu tố, sẽ bị mất chức, mất quyền, mất cả miếng mồi ngon đang ngậm.

 Ngồi nghỉ một lúc lâu, ông Khiêm bỗng ‘’à’’ lên một tiếng rõ to làm tôi giật nẩy mình, lát sau ông xuống giọng thủ thỉ:

- Còn cái này mới đáng phải để tâm tới ông ạ! Bây giờ trên ra chỉ tiêu, giao khoán cho các chi bộ kết nạp đảng. Những ông bà có chức, có quyền đều kéo anh em con cháu vào, người có tri thức, có liêm sỉ thì họ lại không muốn vào, vì thế cho nên, chất lượng đảng viên không được như xưa. Toàn những thành phần chưa qua lớp năm, lớp bảy nhưng đến khi đưa vào để bầu hội đồng nhân dân thì vị nào cũng được dán thêm mác là cử nhân, thạc sỹ ông ạ. Thật nực cười! Họp tất niên cuối năm thì họ chẳng mời lớp cán bộ cũ ra dự, chỉ mời những người đương chức. Hội nghị có mười một người thì nhà họ chiếm chín. Bù khú rượu, bia, bánh, kẹo chán, khi ra về mỗi người một túi quà lệch vai, một phong bì mừng tuổi là năm trăm ngàn đồng. Thế có phải là đặc quyền, đặc lợi không? Ông Khiêm hổn hển một lúc rồi lại nói:

- Có chức sắc một tí là bắt đầu lên mặt hạnh họe, moi, móc, ăn chặn tiền bạc của dân để bù đắp cho số tiền đã mất do chạy chọt. Khi đã chắc chân thì bắt đầu rượu chè, cờ bạc, giai gái táo tợn lắm. Một số người dân bức xúc quá, họ đã không ngần ngại, nói ra những câu phạm thượng, đại loại như: ‘’ Đảng viên gì chúng nó, có đảng nắm, đảng mớ thì có’’. Tôi không phải là đảng viên, nhưng khi nghe được câu nói ấy, tôi có cảm giác như mình bị nhát dao xoáy vào tim. Đau lắm! Đau lắm! Im lặng một lúc ông nói tiếp:

- Nói thật với ông, nhiều khi tôi có cảm giác như mình đang ‘’đánh đu với Tinh’’ ông ạ.

 Nói xong câu đó, ông Khiêm ôm ngực thở gấp rồi đờ đẫn đưa mắt nhìn ra ngoài.

Mỗi lời ông Khiêm nói ra, cứ như cái tát giáng vào mặt tôi, nhưng lạ thay, càng nghe, tôi lại càng tỉnh táo và vỡ lẽ ra nhiều điều. Tôi vô cùng cảm phục, bởi thấy ông là người hết sức dũng cảm và đầy tâm huyết với dân, với nước, nên ông mới mạnh dạn nói ra những điều tối kị đó. Sợ ông Khiêm xúc động quá bị tăng xông thì khốn, tôi đành phải xin phép cáo lui. Ra đến cửa ông rỉ tai tôi:

 - Biết ông là người đứng đắn và đáng tin cậy lắm, tôi mới thổ lộ cho ông biết chút ít. Chuyện đâu bỏ đấy, đừng nói với ai, nhỡ chúng nghe được thì khốn.

Trên đường về, tôi cảm thấy hết sức xấu hổ và buồn chán, vì trong suốt mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước (trong đó có tôi) đã bỏ ra biết bao công sức, tiền của, để giáo dục, đào tạo những hạt giống đỏ, thành những con người vừa hồng vừa chuyên. Những con người đó sẽ là những hạt nhân tiêu biểu cho bộ máy lãnh đạo trong tương lai. Vậy mà, họ lại lợi dụng tối đa vào công cụ nắm trong tay để đè đầu cưỡi cổ người dân. Cái câu ‘’ Đói cho sạch, rách cho thơm’’ và ‘’Giấy rách phải giữ lấy lề’’ không còn là tôn chỉ, là lẽ sống của một bộ phận cán bộ công chức nữa rồi.  Tôi vô cùng ân hận, vì suốt bao năm qua, tôi cứ chạy theo những danh vọng ảo, chẳng để tâm tới số phận của những người dân lam lũ. Họ đã và đang phải gồng mình để chống chọi lại với căn bệnh, quan liêu, cửa quyền, tham lam, tắc trách. Những căn bệnh cố hữu đó, đã làm cho người dân kiệt quệ cả về vật chất lẫn tinh thần trong nhiều năm qua. Tôi đã bị những lời khen có cánh, che mắt, dắt mũi, làm cho tai điếc, mắt mờ, đầu óc không còn nhận ra được điều hay, lẽ phải. Tôi đã sống một cuộc sống ảo. Có về làng tiếp xúc với bà con, tôi mới hiểu rõ mọi chuyện. Trong lòng tôi dâng lên một nỗi buồn khôn tả. Tôi đặt ra câu hỏi: ‘’Tại sao ở một phường, năm nào cũng được công nhận là ‘’Đảng bộ trong sạch vững mạnh’’, mà lại để xảy ra những chuyện tiêu cực lớn đến vậy?

Khi đặt mình xuống giường, tôi cứ giằn vặt bản thân rồi tự dưng trong đầu nẩy ra một ý nghĩ: ‘’Đã đến lúc chúng ta phải tự mình lột bỏ chiếc áo cũ, thay vào đó bằng một chiếc áo mới, đó là luật pháp. Và, chỉ đến khi luật pháp được thượng tôn một cách nghiêm túc nhất, thì tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm mới bị triệt tiêu, đất nước mới vững vàng bước vào kỉ nguyên mới ‘’Kỉ nguyên vươn mình của dân tộc’’ được.’’

                                                                           N.Đ.V

 

 

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 18
Trong ngày: 657
Trong tuần: 2902
Lượt truy cập: 1010270
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông