Vương Tâm
THẦN NÔNG CHÂN ĐẤT – BẢN TRÁNG CA HUYỀN THOẠI
Cầm trên tay trường ca “Thần nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập tôi rất hồi hộp. Bởi lẽ ngay trong “Đề từ” của anh tôi đã giật mình bởi câu đầu tiên: “Nhà thơ còn thiếu nợ nông dân”. Phải chăng bắt đầu từ nguồn cội cảm xúc về cánh đồng làng quê, hạt thóc mà nhà thơ đã tạo dựng hình ảnh người nông dân hóa Thần Nông bất tử. Biểu tượng thánh về người nông dân (được khái quát với hai chữ Thần Nông) là một sự dấn thân khi phát hiện ra những triết luận sâu sắc về một giai tầng xã hội luôn tiềm ẩn sức mạnh sự sống của một dân tộc. Góc nhìn khoa học và nhân văn “Canh nông vi bản” của các cụ ta từ xưa tới nay vẫn đúng. Bởi đất nước ta là một vựa thóc khổng lồ trong khu vực Đông Nam Á. Nhà thơ đã nhìn ra trong muôn chiều đổi thay vận mệnh của đất nước đều do người nông dân quyết định. Đó chính là những Thần Nông chân đất của dân tộc ta. Nhà thơ đã viết: “Những thần nông chân đất Việt Nam/ Sinh ra từ giống Tiên Rồng/ Cha Lạc Long Quân/ Mẹ Âu Cơ trai tài gái sắc/ Non nước bầu trời có tuổi có tên”. Sự hóa thần của người nông dân có nguồn gốc từ 4000 năm lịch sử. Nhà thơ khởi động mạch trường ca của mình qua một quá trình bóc tách từng lớp lang cảm xúc về biểu tượng huyền thoại về người nông dân Việt Nam.
Nhà thơ Phùng Trung Tập viết trường ca không dừng lại ở một cốt truyện nhưng anh lại có cách kể riêng qua những góc nhìn đa chiều của hình tượng người nông dân đã hóa thần. Tác giả lần lượt giải mã về những bức tranh được sắp đặt qua hệ thống liên hoàn giàu cảm xúc. Và anh bắt đầu từ đây: “Hồn non nước hóa thân những Thần nông chân đất/ Những Thần Nông là tổ tiên chúng ta” và cũng là “Nhân loại”. Sau đó nhà thơ đã bày tỏ về cuộc đời chân đất của những Thần Nông thật minh triết và sinh động. Đó là những chia sẻ về cuộc sống đầy cam go và vật lộn của người nông dân trên cánh đồng. Bố cục tác phẩm thơ của Phùng Trung Tập thuyết phục người đọc qua những khúc hát sau mỗi chương luận đề về biểu tượng nông dân hóa thần. Lời ca của tác giả chia sẻ từ những thực tế của người nông dân rằng: “Long đong thân phận nhà nông/ Nhọc nhằn gieo hạt mà không mùa màng/ Bàng hoàng tay sách nách mang/ Bế bồng dắt díu rời làng ra đi”. Đó là những Thần Nông đã từng sống lang bạt thuận theo ý trời đầy khắc nghiệt để tìm tới cuộc sống bình an. Tác giả miêu tả: “Lại khai hoang, lại lần hồi/ Lại gieo hạt, lại đứng ngồi không yên/ Dưới trời mầy rối bung biêng/ Thần Nông trăm họ, lập thiên sử vàng”. Đó chính là khúc dạo bừng lên cảm xúc lắng đọng về cuộc sống đồng quê và đất nước ngàn năm.
Nghệ thuật viết trường ca mang tính luận đề (đậm dấu ấn triết lý) về một biểu tượng (được coi là công trình kiến trúc nghệ thuật); Nhưng điều đó luôn là một sự thách thức với bất kể nhà thơ nào. Sự chuyển động về nhịp điệu thơ cùng những hiện thực sống bám chung quanh hình tượng có phần quyết định sự thành công của một tác phẩm. Với 12 chương được dựng trong trường ca, nhà thơ Phùng Trung Tập tạo nên bản giao hưởng “Hóa thần” của người nông dân. Biểu tượng được coi là sự phát hiện mới lạ của nhà thơ khi viết về người nông dân Việt Nam. Hơn nữa, trước đó ít người viết tập trung về người nông dân chân đất như anh. Nhà thơ Phùng Trung Tập rung động với số phận của những đoàn người “Khai sơn lập địa” từ thuở hồng hoang. Anh tạo dựng được những khúc ca để nhập vào cuộc sống khắc nghiệt của người nông dân và ngân vang giai điệu chia sẻ. Những câu chuyện của nhà thơ luôn cụ thề chân chất như: “Một gầu nước tưới mùa khô/ Thần Nông phải đổi mấy bồ mồ hôi/ Ruộng cong vênh, hạn hán rồi/ Mồ hôi chan giọt nước mồi rỉ ra”. Đó là những hình ảnh người nông dân “Trằn trọc theo mùa” và “Mở cõi non sông” được tác giả khơi gợi dần về sự sống chuyển động phát triển bền vững của Thần Nông. Bởi lẽ khi tác giả luôn mở rộng những triết luận của mình: “Đất đai cũng có linh hồn/ Bao đời mở đất, mất còn Tiền nhân/ Sông nương tựa đất thành thân/ Chết về với đất hóa thành non sông”.
Thi pháp trường ca của Phùng Trung Tập càng đậm nét khi triển khai từng chương liên tưởng về người nông dân. Đặc biệt với chương “Điệu thức đồng quê” được coi là bản giao hưởng về hình ảnh cuộc sống của làng quê Việt Nam. Trong đó hình ảnh nổi bật và đa dạng về người nông dân chân đất. Nhà thơ thành công khi dựng được chân dung họ thông qua sự trấn an thiền tự sáng trong của người nông dân: “Những Thần Nông chân đất Việt Nam/ Nhân ái từ tâm vui buồn cũng hát/ Chân lấm tay bùn ấm no, đói khát/ Tự hát về mình tự diễn tự biên”. Bởi lẽ với nhà thơ Thần Nông không chỉ là người lam lũ chân đất mà đã trở thành những nghệ nhân, nghệ sĩ (ba trong một) trong quá trình lao động và sáng tạo. Họ thường đối diện với sự sống còn khi phải chống trọi với thiên nhiên khắc nghiệt và giặc giã. Ở bất cứ miền đất nào biểu tượng Thần Nông luôn luôn: “Có hay chăng vẻ ngoài bình dị/ Tâm hồn nhà nông là cả một miền thơ”. Từ đó những khúc thức cứ âm vang và ngân nga trong niềm say mê cuộc sống. Và cũng từ đây tình yêu và hạnh phúc của người nông dân như một sự cứu cánh sinh tồn và phát triển trên mỗi dòng sông, bản làng: “Sông Hồng, sông Hương, Cửu Long vỗ sóng/ Điệu Lý xàng xê, xe chỉ luồn kim/ Câu vọng cổ ngân vang miền sông nước/ Xao xuyến đò đưa…Người ở đừng về”.
Và đó còn là những “Lễ hội mùa vui” cùng “Những bàn tay tài hoa” của những người nông dân đã thêu nên những sắc cảnh rực rỡ của đời sống lao động đầy mồ hôi và nước mắt. Tác giả thể hiện nét tinh tế khi viết về sự sáng tạo nghệ thuật của người lao động: “Thêu người lính, thêu dân cày/ Thêu lăng Bác ánh trăng đầy yêu thương/ Cột cờ Lũng Cú vươn cao/ Ba Đình ấm sóng. Tân Trào niềm tin”. Những hình ảnh thiêng liêng dân tộc luôn gắn bó với thân phận của người nông dân. Hơn nữa họ còn là những đội quân hùng hậu tạo nên “Đoàn chiến binh bất tử” để bảo về tổ quốc non sông. Nhà thơ đã có bản hùng ca đầy bi tráng như vậy để nói lên sức mạnh của cội nguồn dân tộc mà người nông dân chính là nòng cốt. Thật xúc động khi tác giả chia sẻ: “Những bà mẹ Thần Nông chân đất/ Tiễn con ra mặt trận/ Buổi chia tay cũng là buổi cuối cùng/ Mẹ khóc gọi con trước những nấm mồ không danh tính”. Và khi các chiến binh chân đất trở về sau chiến thắng luôn dạt dào cảm xúc yêu thương cuộc đời cho dù đổ bao xương máu. Những vần thơ chan chứa nỗi niềm lắng sâu của Phùng Trung Tập có sức cảm hóa sâu sắc: “Những Thần Nông không còn lành lặn/ Trở lại quê nhà không nhớ cả tên riêng/ Những Thần Nông tuổi mười tám đôi mươi/ Kề chuyện quê mình như cổ tích”. Và sau đó là giai điệu hùng ca của Thần Nông vang lên hảo sảng: “Việt Nam đất nước thiêng liêng/ Mỗi tấc đất cũng vang rền chiến công/ Mồ chôn lũ giặc ngoại xâm/ Mấp mô khắp chốn non sông chủ quyền”. Đó là tính thời đại và lịch sử của sức mạnh Thần Nông đã được tác giả khẳng định về sự tự do muôn đời của dân tộc ta.
Với trường ca “Thần Nông chân đất” nhà thơ Phùng Trung Tập thành công khi thiết kế được ba bộ tranh Tứ bình (gồm 12 chương) về người nông dân Việt Nam. Mỗi chương như chiếc quạt đồ họa mở rộng luận đề về biểu tượng Thần Nông. Nhà thơ không những hình tượng hóa triết lý về nền văn minh nông nghiệp mà còn đồng hành với người nông dân trên mảnh đất đời người. Đồng thời, tác giả mở dần những khóa mã của mỗi luận điểm qua những bộ tranh Tứ bình mỹ học qua ngôn ngữ thi ca. Bởi thơ Phùng Trung Tập luôn vang lên những giai điệu trữ tình về hình ảnh thân thương của người nông dân. Đó là những tổng hòa triết lý mỹ học về biểu tượng hóa thần của người nông dân đã mở mang bờ cõi. Biểu tượng mang yếu tố tâm linh gây ấn tượng kỳ vĩ sâu sắc qua sức mạnh của người lao động chân lấm tay bùn. Những giai điệu về màu sắc trong bộ Tứ bình được hiện hiện qua những câu thơ giầu cảm xúc cùng với sự chia sẻ ấm áp của tác giả với biểu tượng “Thần Nông”.
Hơn nữa, “Thần Nông chân đất” của Phùng Trung Tập đã nói lên khát vọng của người nông dân trước cuộc sống mới. Một khát vọng muôn đời: “Có được đất về cấy trồng, gieo hạt” và bởi lẽ những Thần Nông đã “hóa trời đất thiêng liêng/ Để lại cả non sông cho cháu con kế nghiệp/ Những cánh đồng xanh, những rãy nương xanh”. Và đất là sự sống còn và sự phát triển của dân tộc qua khúc hát dân ca: “Nhìn trời nhìn nước nhìn non/ Dáng hình Tiên Tổ vẫn còn nguyên sinh/ Cúi đầu ân nghĩa Tiền nhân/ Thần Nông chân đất trường sinh muôn đời”. Sự thành công của trường ca “Thần Nông chân đất” chính là bản tráng ca bất tử về người lao động trên đồng ruộng. Nhà thơ Phùng Trung Tập đã thể hiện sâu sắc tính công dân và tính thời đại của mình khi tạo dựng biểu tượng phong thần cho người nông dân Việt Nam.
V.T
Người gửi / điện thoại