Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG

 
Tống Ngọc Hân
 
NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG
                                                   
     Năm ấy, mình về đồn biên phòng Sìn Lò công tác. Vừa kịp làm quen với anh em, cán bộ chiến sĩ của đồn thì được điều động lên chốt Lù Thàng. Từ đồn đến chốt chưa đầy năm cây số. Xa hay gần không thành vấn đề. Vấn đề là ở chỗ…Mấy hôm ở đồn, đã nghe chuyện chốt Lù Thàng và những bóng ma không đầu trên đường biên.
   Thú thật là mình sợ.
   Đêm đầu tiên trên chốt, run rẩy làm quen với cái rét ma quái. Dưới lưng, chiếc đệm bông lau chưa cũ lắm. Cơn lạnh từ bụng núi đá như hàng trăm cái mầm cỏ tranh nhọn hoắt, chui qua đệm, xiên thẳng vào lưng. Từ con vực sâu hoắm được mệnh danh là hang Gió, gió lột xác qua từng tiếng hú dài, thò những ngón tay buốt ngắt vét qua mặt người. Không khí như thể khối băng. Giá buốt như hàng nanh chuột cứ nhằm những ngón chân người mà bập vào thon thót. Một tiếng nói từ đâu, rất gần cất lên, gạ gẫm.
  - Kể chuyện ma đi, cho ấm người. Đêm nay rét quá, chân tớ đang sưng vù lên đây.
   Mình khẽ thò tay ra, kéo chăn trùm kín đầu. Hụt chăn, đôi chân tơ hơ  cóng lạnh dù đã được bó tới ba lần vải cũ. Mình cố không cử động, thở thật khẽ. Có tiếng lục đục sửa soạn, tiếng thang, giát giường nghiến kèn kẹt. Giọng nói âm u, thấp và hơi khàn, có vẻ sai khiến ai đó.
Tắt đèn đi đã. Kể chuyện ma là phải tắt đèn.
    Cái đèn chạy ắc quy tắt ngóm. Gai ốc sởn dày ở hai cánh tay. Tiếng thì thào vang lên.
    Lù Thàng đêm ấy, trăng sao vằng vặc, tại mom đá đen cạnh chốt một đôi trai gái ngồi trò chuyện tâm tình. Trưởng chốt là một tay trẻ khỏe, lực lưỡng, xa vợ lâu ngày. Cứ mỗi độ trăng sáng, thấy nôn nao bứt rứt trong người, anh ta thường lên mỏm đá đen ngồi mà tưởng tượng đủ thứ.  Đêm ấy, mỏm đá bị một đôi trai gái chiếm chỗ. Trưởng chốt lượn loanh quanh vài vòng, định về. Nhưng anh ta chợt nghĩ. Cả cái bản giáp biên này, chẳng có đứa con gái nào có mái tóc dài đến thế kia. Thằng con trai kia nữa. Ở đâu ra cái áo trắng nhóng nhánh như sa tanh ấy nhỉ. Người Mông dưới bản thì mặc đồ chàm. Mà ở đồn, cũng chẳng gã  nào ăn chơi đến cỡ ấy. Nước sinh hoạt hiếm hoi, uống còn không đã khát, cớ sao hắn xa xỉ diện đồ trắng?
    Trí tò mò khiến anh ta bước lại gần đôi trai gái từ lúc nào. Anh vỗ vai cậu thanh niên từ phía sau và hỏi? Này anh bạn, có lửa không? Không thấy trả lời. Trưởng chốt bực mình. Thằng cha này không có mồm chắc. Trưởng chốt cúi xuống. Anh ta cứng miệng. Đến đầu còn chả có thì lấy đâu ra mồm…
     Mình sợ quá, bật đèn lên. Trong phòng chả có ai cả. Mình gọi. Cũng không thấy ai trả lời. Mình chạy ra ngoài. Đêm tối bao quanh như quả bầu khô nhốt chú ong non. Sương rơi dầy và buốt lạnh. Lại chạy vào. Cứ chạy ra chạy vào nóng cả người. Đèn tự động bật rồi lại tắt. Cái giọng kể chuyện ma Lù Thàng vẫn rùng rợn văng vẳng.
     Sáng ra, trưởng chốt vỗ vai mình.
   -  Đêm qua mình cậu trông chốt đấy. Chốt có bốn người hôm qua đi tuần hết. Cho cậu quen địa hình đã rồi đi cùng anh em.
   Mình tái mặt, lắp bắp.
    -  Đêm qua em ở chốt một mình hả anh?
    -  Ơ, cái chàng tân binh này. Cậu mơ ngủ à?
    Mình gầy rộc, da sạm đi. Nhưng khi đối diện với đại tá trưởng đồn thì lại tỏ ra rắn giỏi, bản lĩnh. Cũng may, đồn đang thiếu người tăng cường cho ba bản giáp gianh nên phải rút bớt người từ chốt về. Vốn được trời cho gương mặt sáng và nụ cười “dân vận” nên mình được chọn.

chohagiang654

   Lần đầu tiên mình hiểu đúng nghĩa của hai từ “ tăng cường”. Không phải là ngồi ở nhà ủy ban mà gõ thước xuống bàn với búng móng tay đâu.
   Tăng cường là đào, đắp đường. Con đường bé tí lầy lội từ bản Cô Phìn ra ủy ban xã. Nếu chỉ để cho cán bộ xã đi họp hoặc mấy con ngựa cõng hàng ra chợ thì mặc kệ, đồn cũng trăm công ngàn việc. Nhưng đó là đường cho trẻ con đi học. Chỗ thì đào sâu vào vách núi đá, chỗ không đào được thì kè đá can ra. Có chỗ phải bắc cầu qua khe sâu…
   Tăng cường là đêm chong đèn đọc sách hướng dẫn trồng cây công nghiệp ngắn ngày và kĩ thuật nuôi gà Đông Tảo. Đọc để mà truyền đạt lại cho bà con hiểu và hướng dẫn họ làm. Cứ y như kĩ sư nông nghiệp.
   Tăng cường là đến nhà từng gia đình có trẻ con mà vận động bố mẹ chúng. Trường có rồi, cô giáo có rồi, đường đi có rồi, chỉ thiếu học sinh thôi. Đến trường là quyền của trẻ em…
   Tăng cường là đi tìm nguồn nước rồi bằng mọi cách mà đưa cái nguồn nước ấy về ruộng hạn, về bếp các nhà.
   Tăng cường là trăm thứ việc có tên và không tên liên quan đến mọi mặt đời sống của đồng bào. Từ sinh đẻ, cúng giỗ, từ ăn, mặc, ở, học hành, khám chữa bệnh. Từ trồng trọt đến chăn nuôi…Từ giải quyết kiện cáo đến hòa giải xích mích. Công việc cuốn mình đi.
   Sau ba năm tăng cường, trưởng đồn gọi mình về giao nhiệm vụ mới. Mới mà cũ.
    - Tình hình ở đó đang căng thẳng mà người thì thiếu trầm trọng. Cậu lại về Lù Thàng nhé.
      Tiết xuân phân, cái rét đã chui bớt vào núi. Số còn lại lơ đễnh rong chơi trên những búp cây thuốc lá đang lả lướt với gió. Đoạn đường tuần tra như bớt dài bởi người đồng hành đang kể chuyện. Tiếng kể chuyện rì rầm.
      Đây là đoạn biên giới nóng nhất. Tội phạm ma túy, buôn lậu, buôn người và cả tội phạm trốn nã hoạt động rất liều lĩnh, phức tạp. Hôm ấy đồn giao cho tớ và ba đồng chí nữa phối hợp với lực lượng phòng chống tội phạm ma túy của tỉnh để đánh một trận lớn. Bọn tớ làm nhiệm vụ tiền trạm. Tớ đã mất bình tĩnh, vì khi mặt đối mặt, ông trưởng bản hiện nguyên hình là tên trùm sỏ  nguy hiểm. Tớ ăn ba phát đạn vào đầu. Mộ thì đã về nghĩa trang liệt sĩ quê nhà, nhưng người vẫn lang bang trên này với anh em cho vui…
      Bước chân mình như bị thôi miên theo cái bóng màu xanh lá cây thoắt ẩn thoắt hiện giữa núi rừng.
      Lâu lắm mới nhận thư mẹ. Mình chạy bay ra rừng, buông rơi những giọt nước mắt. Mẹ gửi cho mình chiếc áo len màu nâu gụ đan bằng tay. Ôm bức thư trĩu nặng những trăn trở của mẹ, lòng mình thổn thức. Mẹ, sao mà mẹ vừa giống chỉ huy, lại vừa giống đồng đội của con.
      Một cơn gió nhè nhẹ thổi đến. Ngẩng đầu, mình bắt gặp một vị chỉ huy đứng tuổi, hàm trung tá và bộ quân phục đã bạc màu, đôi giầy bết bùn đất. Ông ta đang nhìn mình thân thiện.
Mới về chốt công tác phải không?
Dạ thưa thủ trưởng gần bốn năm rồi ạ.
   Người chỉ huy già nhìn xa xăm.
    -  Cậu còn trẻ quá. Tôi ở đồn tính đến nay hơn năm chục năm rồi đấy. Tuổi quân ngũ của tôi bằng tuổi đồn. Thay đổi nhiều quá. Các cậu bây giờ đỡ khổ rồi. Lúc nào rảnh mời cậu đến chỗ tôi chơi. Đó, chỗ cây móc cổ thụ ấy.
      Một buổi chiều cuối hạ, nhớ đến lời mời của vị chỉ huy nọ, mình lững thững đi về phía nam của đồn, nơi có bóng cây móc to xùm xòa. Gần đến nơi, mình sững sờ. Nơi này đâu có xa lạ. Đó là nghĩa trang liệt sĩ đồn một ba ba, tiền thân của đồn Sìn Lò. Ở đó có phần mộ của ba mươi bảy liệt sỹ đã dũng cảm hy sinh trong trận chiến tháng hai năm bảy mươi chín.
     Mình đến thăm từng ngôi mộ, trò chuyện với từng người và cố gắng ghi nhớ những gì họ kể. Họ kể về một cuộc chiến…Nhiều người rưng rưng kể chuyện quê nhà.
     Nhắc đến quê nhà, tự nhiên mình muốn khoe bức thư của mẹ. Mình cho tay vào túi áo, lấy bức thư và mở ra. Trước mắt mình và tất cả mọi người, đó không phải là thư mà là một tấm bản đồ biên giới đã ngả màu. Tất cả tò mò dán mắt vào tấm bản đồ. Những cột mốc đang di chuyển một cách kì lạ. Nó nhích chậm rãi trên bản đồ, lùi vào lãnh thổ Việt và để lại những dấu vết màu tím sậm, nhìn như vệt máu khô. Những cột mốc cứ đi lại trên bản đồ như những quân cờ. Có cột đổ xuống lại đứng lên. Có cột biến mất ở vị trí này rồi lại mọc lên ở vị trí khác…
    Như vừa trải qua một giấc mơ lạ lùng, mình hoang mang gấp tấm bản đồ lại, cho vào ngực áo. Con đường nho nhỏ, cỏ hai bên hoang hoải trong cái nắng chói chang gay gắt cuối hè. Bước ra, mình gặp một đoàn học sinh và thầy cô giáo của trường nội trú vào viếng thăm nghĩa trang. Hôm đó là ngày thương binh liệt sỹ.
    Khắp vùng biên giới này, người ta bàn tán, đồn thổi, rằng mình có giác quan đặc biệt. Rằng mình đã gặp những linh hồn chưa được siêu độ, còn nặng lòng dương thế, cứ quanh quẩn ở vùng đất vốn được lưu truyền quá nhiều truyện li kì.
   Một lần trưởng đồn lên tận chốt nói chuyện. Sau một hồi chuyện gần, chuyện xa thủ trưởng mới đi vào vấn đề.
  - Có một bức thư của bà mẹ liệt sĩ gửi anh em chiến sĩ đồn biên phòng nhân dịp đồn đón nhận danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời đổi mới. Tiếc rằng bức thư ấy đã bị nhòe ướt không ai trong đơn vị đọc được. Cậu có đọc được không?
    Bụng mình đã muốn từ chối, nhưng không hiểu sao cái miệng lại cất lời.
  -  Thủ trưởng cứ yên tâm. Em đọc được.
  Thủ trưởng sau phút ngạc nhiên thì đề nghị.
  -  Vậy đi, để cho long trọng. Ngày mai, tại buổi lễ, cậu đọc có được không? Bây giờ tôi đưa cậu đọc trước.
     Đêm ấy, mình không thể nào chợp mắt. Đó là bức thư của một người vợ, người mẹ liệt sĩ. Mẹ đã ở vào tuổi gần đất xa trời, mắt mờ tay run phải nhờ đứa cháu nội viết cho. Nước mắt trên những trang thư là của cả hai bà cháu, của hai thế hệ. Gấp bức thư lại, lòng mình nhức nhối, phân vân.
    Trời đã khuya. Khoác lên người chiếc áo len màu nâu của mẹ, mình rời chốt. Đi dọc đường biên, mình hái đủ ba mươi bảy cành hoa dại màu trắng. Những loài hoa dại chưa có tên, anh em trên chốt tạm gọi là hoa Biên Giới. Ôm hoa trở về nghĩa trang của đồn, mình nghĩ, có phải người ta vẫn tặng hoa cho nhau để tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn kính? Còn mình, đơn giản, mình chỉ muốn tặng họ thứ gì đó sau khi đọc bức thư ướt nhòa kia. Trần sao âm vậy, chốn hoang vắng này, ai chẳng thèm có người đến thăm, ai chẳng ao ước nhận quà?
     Buổi lễ diễn ra trong không khí tôn nghiêm, trang trọng mà đồn đã chuẩn bị hết sức chu đáo. Những bài diễn văn hoành tráng. Những phát biểu sâu sắc. Những cảm thông, sẻ chia gan ruột. Và cuối cùng, đến lượt mình với lá thư của mẹ liệt sỹ. Khán trường lặng đi.
    Khi mình chuẩn bị bước xuống thì trên khán đài xuất hiện một người lính già mang quân phục màu lá cây bạc màu và đôi giày cũ. Ông ta trao cho mình một bó hoa Biên Giới. Ánh mắt nhìn mình tin tưởng, khích lệ.
    Nhìn xuống, hội trường bỗng rộng ra mênh mông. Ở những hàng ghế cuối, rừng cánh tay người giơ lên vẫy vẫy. Mình nhận ra những gương mặt quen hôm nào ở dưới bóng cây móc. Họ đến từ khắp mọi vùng quê, tất cả đều rất trẻ và có chung một màu áo. Mỗi người ôm một bó hoa màu trắng. Nét mặt hân hoan rạng rỡ...
     Bó hoa dại được tặng, theo mình về chốt. Một anh chàng mặc quần đùi đang nằm sấp trên giường viết lách gì đó. Nhìn thấy bó hoa, anh ta ngồi bật dậy, phân bua.
    - Không hiểu sao tôi vẫn khoái viết thư hơn là gọi điện ông ạ. Mà chỗ mình mạng tậm tịt, có gọi cũng chẳng được. Sáng nay bao nhiêu người khóc khi nghe ông đọc thư. Buổi lễ trọng đại thế, mà các ông quên mời tôi, quên mời một số anh em. Nhưng thôi, có mời tôi cũng chẳng dự được, để chốt đây mà đi à?
   Mình buột miệng:
    - Tôi tưởng anh đã về với vợ con, sao còn ở đây?
   Anh chàng kia buông bút, nằm ngửa xuống giường.
   - Tôi thấy ông suốt ngày bận rộn với cánh báo chí, tưởng ông chả buồn quan tâm đến ai. Tôi ở đây chín năm thì tám năm đi tăng cường cho thôn, xã rồi huyện, bây giờ mới quen chốt. Thư thả rồi về. Với lại nhà tôi nghèo lắm, tất cả trông đợi ở tôi. Tôi mà về bây giờ thì…
   Mình quay mặt đi, cố tránh chuyện giàu nghèo. Nhưng anh chàng kia thì quyết không bỏ rơi câu chuyện.
    - Thật đấy, năm nào bão biển cũng quật cho vài trận. Lương tôi được bao nhiêu cũng đắp hết vào bão. Nhiều lúc nghĩ, về quê cho gần vợ gần con, nhưng lương thấp làm sao khắc phục nổi cái hạn trắng tay? Thôi thì ở đây, khó khăn vất vả, mình là thằng đàn ông, mình gánh được hết. Với lại bây giờ bộ đội cũng được nhà nước ưu đãi, quan tâm thỏa đáng. Tôi có thằng bạn nối khố, nó tận ngoài nhà giàn ấy, hai năm rồi còn chưa thấy mặt vợ con. Mỗi lần đi nhận lương tôi gửi về, thầy tôi khóc rưng rức. Làng, có người vỗ thẳng vào mặt thầy tôi rằng. Có mỗi mụn con trai, còn cho đi “xóa đói giảm nghèo”. Chua chát thật, nhưng mà đúng thế. Thầy tôi bao biện. “Bọn mi có giỏi, răng không đi mà xóa?”. Tôi biết thầy chỉ nói cứng thế thôi…
     Mình cởi cái áo len mẹ tặng ra, gập vuông vức, đặt xuống đầu giường làm gối. Nhắm mắt lại, mình thèm một giấc mơ về mẹ. Vẫn tiếng nói ấy cất lên từ mông lung, dai dẳng, bền bỉ trói mình vào câu chuyện.
   - Khi nào ông lấy phép, đem những lá thư này về cho cho thầy và vợ tôi nhé. Để thầy tôi yên tâm.  Mùa bão năm vừa rồi, tôi về thăm gia đình. Chỉ vì xa biển lâu ngày, chỉ vì chủ quan và bất cẩn nên đó là lần lấy phép cuối cùng. Nhưng tôi đã cứu được hai thằng bé. Coi như cái mạng tôi không uổng. Thầy đã hi vọng vào tôi nhiều quá. Ông cụ không tin thằng bão số tám điên cuồng có thể vùi dập tôi. Thậm chí thầy đinh ninh tôi đã trở về chốt…Làm sao tôi dám về nhà bây giờ, hả ông?
    Mình buột miệng lần nữa:
   -  Không ai trong chúng ta có thể bị vùi dập. Ông cứ viết đi. Tôi sẽ  gửi tận tay những người đang sống.
   Anh ta lại được dịp, thừa thắng tấn công:
    - Mà cậu cũng nên bình thường trở lại. Rũ bỏ mặc cảm ấy đi. Ở cái vùng núi heo hút đi hết ngày không thấy bóng một người đàn bà này, chẳng ai có lỗi khi cả ba cùng yêu một cô gái. Vì sao Sim ra đi ? Vì sao cô ấy rơi xuống hang Gió? Ông có biết không? Ông có biết tại sao hai thằng kia đều đã chuyển đơn vị? Tại sao mình ông ở lại và làm cái việc dẫn đường xuẩn ngốc cho những linh hồn như tôi trở về quấy quả trần gian? Tôi buồn lắm, tôi chỉ thèm trò chuyện mọi người. Ông có biết vì sao  không?...
    Mình thoát khỏi câu hỏi ấy bằng cách ngồi dậy, mặc áo ấm đi ra phía mỏm đá đen trên đường biên, nơi anh em trên chốt vẫn gọi đùa là “cột mốc tình yêu”.
     Sim ngồi ở đó, thả tóc, ánh mắt vời vợi trên màu ngô non nõn nà. Mỗi lần Sim về, không khí quanh mình tê lạnh như vừa đùn ở hang Gió lên. Sim bảo: “ Sắp đến giỗ rồi, nhưng mà em không vào chốt đâu, ngại lắm”. Mình thấy áy náy: “ Em về nhà đi, trên này lạnh lắm, về cho mẹ mừng”. Sim nũng nịu: “ Mừng gì cơ, gái lớn thì phải lấy chồng chứ, chúng mình đã ước hẹn rồi, em ở đây với anh thôi”. “ Nhưng mà anh bận quá, không có thời gian chăm sóc cho em được”. “ Ai cần anh chăm sóc chứ, có ông bộ đội nào chăm sóc được vợ con đâu? Giỗ em, anh chỉ cần hái thật nhiều hoa rừng về là được.”
 
     Một buổi sáng mùa đông. Những ngày áp tết. Trong cơn lạnh quay quắt của trời đất, mình nhận nhiệm vụ dẫn một đồng chí nhà báo lên chợ phiên Cô Phìn. Đó là phiên chợ biên giới, mở vào ngày thứ bẩy.
   Anh rất trẻ, khuôn mặt lanh lợi, giọng nói sắc sảo. Anh vỗ vai mình nhắc nhở.
  -  Tớ, người trần mắt thịt đấy nhé. Kế hoạch cụ thể thế này…
    Mình được trang bị một cái máy ảnh tương đối gọn nhẹ chứ không phải một khẩu súng giảm thanh như đêm trước mấy gã trong chốt trêu đùa. Nghe qua kế hoạch của anh, mình cũng thấy hồi hộp.
    Gần mười giờ, bình minh biên giới mới ló dạng. Chợ bắt đầu đông người. Bà con dân tộc đến chợ phần lớn là người dân tộc thiểu số Mông, Dao, Giáy, Nùng, Lô Lô…Chợ Cô Phìn đông vui tấp nập. Người, ngựa từng nhóm đổ về. Ngoài hàng nông sản do bà con sản xuất ra còn có rất nhiều hàng hóa từ bên kia biên giới được bày bán, mà nhỏ như cái kim và to như cái cày đều có.
   Chợ Cô Phìn là nơi người ta đến tìm bạn cũ, gặp bạn mới và trao đổi tâm tình bên những bát rượu ngô.
   Chợ Cô Phìn còn là nơi kẻ gian trà trộn để tiêu thụ ma túy, tân dược gây nghiện. Là nơi kẻ gian đến để lừa lọc đàn bà con gái dân tộc bán qua bên kia.
   Chợ Cô Phìn cũng là nơi người ta gạ gẫm mua những mặt hàng chiến lược như móng trâu, râu ngô, thảo dược hiếm và bán ra thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột, thuốc trụy thai và vô vàn loại thuốc chữa bệnh không đề chữ tiếng Việt…
   Chợ Cô Phìn, hơn tất cả còn là nơi thân tình máu mủ từ bên kia đường biên tìm về thắt chặt tình nghĩa. Có những dòng họ vắt mình qua biên giới, trải qua những biến cố lịch sử, đàn con cháu, chút chít đông đảo được chia đôi, mỗi nửa thuộc về một vùng đất, một quốc gia, một nền văn hóa. Ngày chợ phiên, anh gặp em, cháu gặp chú…tíu tít, rôm rả.
    Hàng hóa này từ đâu ra? Trang phục chị kia mặc có phải đồng bào tự làm không? Có khoảng bao nhiêu loại mặt hàng được giao dịch tại một phiên chợ? Ngôn ngữ giao tiếp thông thường là gì? Loại tiền giao dịch? Đồng bào ta chủ yếu bán gì? Mua gì? Tại sao người ta lại thu mua râu ngô và móng trâu? Tại sao bà con ta lại bán những thứ ấy? Tương quan giữa cầu và cung thế nào? Tại sao anh kia lại mua những lọ thuốc không có nhãn mác? Mỗi tuần có một phiên chợ có đủ đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa của bà con không?...
    Có hàng trăm câu hỏi kiểu như vậy. Anh nhà báo ghi chép lại những cuộc hỏi đáp ấy, đính kèm với các bức ảnh chụp các góc, các cự li. Như thế là xong. Vì chợ tự nó phơi bày tất cả. Hai người lẳng lặng ra về, bỏ lại sau lưng phiên chợ đang vào lúc tưng bừng nhất, say sưa bán mua nhất.
    Gần về đến đồn, anh chợt hỏi mình.
-   Cậu có nghe nói đến đường biên giới mềm không?
-   Có, nhưng e rằng ở đây nói chuyện ấy không tiện…
-   Nói ở chỗ nào cũng là nói. Lính biên phòng các cậu đang tôn thờ một khái niệm biên giới nhỏ hẹp và lỗi thời. Cậu đang bị những vong hồn dẫn dụ đến choáng ngợp bởi một quá khứ bi hùng đã thuộc về lịch sử nên không biết đến một thế giới hội nhập, hiện đại đang dần dần vô hiệu hóa đường biên.
   Mình phản ứng rành rọt, nhưng có vẻ đang bị yếm thế.
-  Biên giới mềm là khái niệm lớn, mới mẻ, vượt quá quyền hạn, khả năng của lực lượng biên phòng chúng tôi.
-  Vậy các cậu đã làm được gì trong khả năng?
-   Chúng tôi chỉ có thể xử lí, ngăn chặn việc buôn lậu hàng hóa qua biên giới. Trong khi đó, ở thị trường lớn, chính thống, hàng của người ta vẫn ồ ạt tràn vào chiếm lĩnh, thâu tóm, như lũ vào ruộng vắng. Trên phạm vi rộng là những tập đoàn kinh tế lớn xem nước ta là một thị trường tiềm năng, họ đã thuê mặt bằng, nhân công, đầu tư vốn mở xưởng, xí nghiệp dưới mọi hình thức doanh nghiệp chung và riêng và khai thác triệt để. Và mấy năm gần đây, hàng loạt các tỉnh miền núi cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất rừng để trồng nguyên liệu với giá rẻ như cho không trong khi người dân đang thiếu đất canh tác. Nhiều diện tích đất cho thuê còn nằm chồng lên diện tích rừng nguyên sinh của chúng ta. Thế mạnh của vùng núi là đất rừng, và rừng ở những tỉnh biên giới, vùng xung yếu là lá chắn, là hệ thống phòng thủ tự nhiên. Cho thuê đi như thế khác nào tự ta làm yếu đi nguyên khí quốc gia, làm cạn kiệt đi tài nguyên đất? Cho thuê đi như thế khác nào đẩy chiến lược phòng ngự của quân đội ta vào thế bị động? Năm mươi năm cho thuê đất là dài hay ngắn? Trong khi lãnh thổ của chúng ta không thể một ngày mất kiểm soát. Ba trăm ngàn hecta đất rừng cho thuê là ít hay nhiều? Trong khi hằng vạn người dân vất vưởng mưu sinh vì không tấc đất cắm dùi. Chưa nói đến việc làm tổn hại đến nguồn nước, cảnh quan và khả năng kiểm soát tài nguyên trong lòng đất của chúng ta bị thu hẹp. Về lĩnh vực văn hóa, những việc chúng tôi đã và đang làm là…
     Nhà báo giơ tay, ra hiệu mình dừng lại.
 -  Cậu là người được đào tạo bài bản. Còn tôi, không phải là một nhà văn hóa, không phải một nhà chính trị hay chuyên gia tài chính. Người ta nói về đường biên giới mềm thế này. “Hàng hóa của ta chiếm lĩnh nơi nào, biên giới của ta đến đó. Văn hóa của ta ngự trị nơi nào, biên giới của ta đến đó”. Tôi chắc cậu hiểu sự cấp bách của vấn đề trong tình trạng hiện nay. Việc người ta thuê đất rừng của chúng ta là cũng nằm trong chiến lược “biên giới mềm” cả rồi. Nhắc lại với cậu, tôi chỉ là nhà báo. Tôi hay cậu, chúng ta chỉ là một tế bào nhỏ thôi. Chúng ta chỉ cần giữ lấy văn hóa của chúng ta, giữ lấy thị trường cho hàng hóa của chúng ta thôi. Trong thời buổi kinh tế, văn hóa hội nhập này, giữ được đã là khó rồi.
    Mình nhìn vào mắt cán bộ, bắt đầu hoang mang.
  - Vậy anh sẽ bắt đầu từ đâu?
  - Tôi là phóng viên của báo... Thú thật, tôi lặn lội lên tận chốt để gặp cậu và viết bài về cậu. Cậu mới nổi tiếng trong giới binh nghiệp vì thế rất hấp dẫn cánh báo chí chúng tôi. Được tác nghiệp cùng cậu tôi rất vinh dự và yên tâm. Nhưng vừa đặt chân đến đồn, nhất là từ lúc gặp cậu, tôi không còn ý định đó nữa. Tôi vốn không phải kẻ thích ăn bám sự nổi tiếng.
    Có điều gì đó đang dâng lên trong ngực mình, một chút thôi, giống như tự ái. Nhưng mình kịp thời chế ngự.  
    Hai người ngồi xuống dưới chân cây móc cổ thụ ở cổng nghĩa trang liệt sỹ. Anh nói chắc chắn.
  - Tôi sẽ viết về phiên chợ biên giới này. Nó là một tế bào nhỏ trong cơ thể thị trường Việt. Ở nơi nào đó, người Việt chưa thật sự tin dùng và yêu quý hàng Việt. Còn nơi này, tôi tin, hàng Việt chưa đến được với người Việt. Tôi sẽ viết về bộ trang phục dân tộc Mông Hoa sáng nay. Bộ trang phục truyền thống đã bị pha tạp và cải biên ấy là một tế bào nhỏ trong cơ thể văn hóa Việt cần được gìn giữ và bảo vệ ngay từ bây giờ. Cậu nghĩ xem, việc chúng ta hành động vì một đường biên giới mềm có thật sự ngoài quyền hạn và khả năng của lực lượng biên phòng hay không?
    Im lặng một lúc. Cả hai đứng dậy. Mình mời anh bước vào ngôi nhà có ba mươi bảy vị chủ nhân.
   Vị chủ nhân đứng tuổi buồn bã nói với mình.
    “Bao nhiêu xương máu đã đổ xuống chính cái nơi các anh đang đứng để nói những điều sách vở, sáo rỗng. Dù chẳng biết mềm cứng thế nào, nhưng những việc ấy chúng tôi đã làm suốt nửa thế kỉ và quyết tử vì nó. Đó là nhiệm vụ thiêng liêng mà tổ quốc trao gửi. Dẫu là một tấc đất cắm dùi ông cha, tổ tiên để lại, chúng ta cũng bằng mọi giá mà giữ lấy. Giữ không phải để hậu duệ cho thuê hay cho mượn, mà giữ để dân ta được ấm no hạnh phúc và làm giàu trên đất quê hương mình. Chân lí ấy, cũ hay mới?
   Trên người anh ta, từ quần, áo, đôi giày, cái máy ảnh, đến cây bút bi, đâu có thứ gì là hàng Việt? Anh ta có yêu cái cơ thể thị trường Việt hơn người đàn ông Dao không biết chữ mua thuốc trôi nổi về để cứu con không? Anh ta có yêu cái cơ thể văn hóa Việt hơn người đàn bà Mông thay vì cặm cụi thêu thùa cả năm đã mua ngay bộ váy may sẵn cho rẻ không?
   Anh ta có thể không phải là nhà chính trị hay chuyên gia tài chính. Nhưng muốn là một nhà báo của nhân dân thì anh phải là một nhà văn hóa trước đã.
   Để viết về cái tế bào văn hóa nhỏ bé ấy, là phải tìm hiểu, khám phá bằng tài năng và tình người. Thà ăn bám sự nổi tiếng còn dễ nổi tiếng hơn là viết về đời cua ốc mà không chịu xắn quần lội bùn.
   Đã có bao nhiêu dòng chữ phù phiếm, nhảm nhí, áp đặt lên con người và phiên chợ biên giới. Không ít kẻ đã vô tình, ác ý đẩy con người ta trở về thủa mông muội, mọi rợ để rồi thương xót. Không ít kẻ lại đổ cả hàng tá màu mè lên nước mắt và mồ hôi cực nhọc của người ta để tưng bừng hóa đời sống vốn rất quạnh hiu.  
    Tôi không cầu sự lung linh màu nhiệm của văn chương. Chỉ không muốn thấy những nhòe nhoẹt, giả dối. Sự thật, đôi lúc lại không phải là điều ta đã nhìn thấy, nghe thấy. Xin đừng gọi chúng tôi là những vong hồn. Chúng tôi là những linh hồn cố quốc”.
     Anh nhà báo đang lui cui giữa hai hàng bia mộ để tìm góc chụp chuẩn nhất. Bất chợt, thấy trong ống kính, ánh mắt thất thần, ngơ ngác của người dẫn đường, anh nhoẻn miệng cười, nhanh tay chộp lấy.
 
    “Chân dung nhà ngoại cảm trẻ tuổi được lồng trong khung cảnh đặc sắc của phiên chợ vùng biên và những dự cảm táo bạo về đường biên giới mềm là một bài báo suất sắc, độc đáo của tác giả…kết quả của chuyến đi thực tế biên giới ngày cuối năm.”
     Tờ báo ấy, món ăn tinh thần hiếm hoi ấy gửi đến chốt vào một ngày đầu xuân. Vị trưởng chốt khá mê tín của mình bảo. “Bài viết toàn diện về cậu, đồn Sìn Lò và chốt Lù Thàng anh hùng của chúng ta, cả phiên chợ Cô Phìn nữa. Quà tết đấy. Sướng nhá. Cậu đặt lên kia, thắp hương đi. Mời mọi người về, tất cả cùng thưởng thức”. “ Làm đi, cậu sao thế hả? Thế cũng được rồi mà”.
    Mình châm lửa đốt hương, vái bốn phương trời đất, miệng lầm rầm mời gọi, nhưng suy nghĩ thì vằng lên như con ngựa bất kham. Món quà tết ấy, bài báo ấy…giá như. Ước sao con người ta có thể đi tới tận cùng, làm tới tận cùng. Mình đã quá sợ cái sự nửa vời. Quà cho người sống thì thế nào cũng được. Đằng này…
 
    Làn khói trầm chui vào ngực khiến mình sực tỉnh. Ừ nhỉ, dù sao anh ấy cũng chỉ là một nhà báo. Còn mình, cũng chỉ là một người lính biên phòng thôi. Tết này, dù sao Lù Thàng cũng thấy ấm hơn.
         
                                                                             T.N.H
    
 
 
                                                    
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 24
Trong ngày: 565
Trong tuần: 2258
Lượt truy cập: 1133149
xuthanh
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông