CHƯƠNG II – CHỢ NGƯỜI
1.
Ôi quê.
Miền ký ức.
Nghệ thuật xin việc.
Theo lời giới thiệu của anh Phú, Lành tìm đến số nhà 66.
Sau khi Lành viết đơn xin nghỉ việc, Phú bảo với anh:
“Tôi muốn giới thiệu anh đến các lò mộc khác, nhưng lò nào thì cũng vậy thôi. Vất vả cho anh và cũng khó cả cho tôi. Anh cần phải lớn thêm lên, chứ như hiện giờ thì không bao giờ ngóc cổ lên được. Làm thuê cũng là một nghề. Nghề nào cũng có Ngón nghề của nó. Đã là thằng lao động, các ngón của mình phải độc và dị. Như thế mới đỡ bị chủ bóc lột và phải làm cho nó cần mình. Khi nó cần mình thì mình muốn làm bố nó, điều kiện nào nó cũng gật nếu có lợi”.
Lành chăm chú nghe nhưng không khỏi thắc mắc:
“Vậy thì chủ và thợ còn ra thể thống gì nữa. Sẽ thù ghét nhau, hãm hại nhau”
“Luôn luôn là như thế. Mãi là thế! Vì lợi ích của mình mà phát sinh mâu thuẫn. Ông xem, giữa thằng Hồng, Thắm và ông Xuyền không bao giờ có tình với nhau, chỉ giở lý và rình rập để ăn nhau. Nhưng chủ và thợ không bao giờ thiếu nhau được. Chủ là cái thủ cấp. Nó biết tạo ra việc cho chân tay làm. Chân tay phải làm theo những gì cái đầu lâu kia muốn. Chúng không yêu thương nhau nhưng không thể sống tách rời nhau, mãi là chỗ dựa của nhau. Chỉ có điều, mỗi lần đối nghịch phần thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về người làm thuê. Người làm thuê thì không bao giờ có độc lập và tự do cả. Tất cả những thứ xa xỉ đó của người lao động bị chủ lấy hết sạch”
“Anh nói thế là ý làm sao? Ai mà chả mưu cầu được độc lập, tự do”
“Tân nghe cho rõ đây. - Anh Phú nhìn thẳng vào mắt Lành bằng ánh mắt nghiêm khắc, lạnh lùng. - Tân nghe cho rõ: không một thằng lao động nào trên đời này có tự do cả. Không bao giờ và không đời nào!”
Lành muốn cãi thì Phú đưa tay ra ngăn lại. Anh nói tiếp:
“Tôi biết anh đang cố gắng để tỏ ra không hiểu vì nó rõ ràng quá, đúng không? Anh chưa hiểu tận lõi vấn đề chứ không phải anh không biết người làm thuê không ai được độc lập. Tất cả đều phụ thuộc vào ông chủ. Thời gian, sức khỏe, cuộc sống, thậm chí cả mạng sống chủ nắm cả. Nó lấy hết mọi thứ thì làm gì có tự do nữa. Sự tự do của anh phụ thuộc vào tiền bán sức lao động cho chủ. Cho nên anh phải liệu lấy thân, chẳng ai giúp được anh cả. Tân ạ...”.
Anh Phú nắm lấy vai Lành. Ánh mắt giờ trở nên âu yếm, thân tình:
“Anh là người tốt nguyên chất! Anh như một thứ nước mắm cốt. Ngon nhưng có mùi. Anh quá hiền lành, anh họ ạ, chả khác gì thứ mắm chắt kia. Tôi thật sự lo cho anh. Bây giờ chỉ có mình anh cô độc giữa thành phố đông đúc này, không có người thân bên cạnh cho nên tôi buộc phải nói ra những điều nghe có vẻ như dạy đời nhưng nó là sự thật. Sau này, muốn làm gì thì làm nhưng anh cần phải độc lập trước đã. Dù anh có là thằng móc cống cũng phải khác với những thằng móc cống khác. Nghĩa là sao? Nghĩa là anh phải có ngón nghề. Ngón nghề ấy giúp anh có chỗ đứng và anh được độc lập. Có độc lập rồi mới nghĩ đến sự tự do. Nếu trên đời này có sự tự do của thằng lao động thì chỉ có trời sa xuống đất”
“Tôi sợ mình không làm được những điều như anh nói”
“Nhưng anh có hiểu câu chuyện của tôi không?”
“Có. Chỉ là tôi thấy nó ác”
“Phi đạo đức, mất dạy mà người đời lên án nhưng vẫn luôn phải học hỏi nó. Ác à? Ác cũng làm vì sự sống sót của mình. Khó đấy! Khó cũng phải học. Nó còn quan trọng hơn cả học chữ. Không học không thành người được đâu! Phải không? - Anh Phú đan chéo các ngón tay rồi đặt nó lên mặt bàn coi như kết thúc những lời gan ruột.
Lành không nói năng gì. Vẻ mặt đượm buồn. Thấy thế anh Phú lại nói tiếp:
“Tôi thương anh quá anh họ ạ. Anh thật thà quá! Ai cũng có thứ cốt cách ấy nhưng mọi người biết cách giấu kỹ nó đi. Anh thì không. - Phú thở dài. - Lên đất Hà Nội bấy lâu nay mà anh không học được điều gì sao? Anh có biết cái ông Đác Uyn nói câu gì không? - Mặt Lành vẫn lạnh tanh. - Anh đọc sách nhiều thế để làm gì? Thế anh có hiểu sinh tồn là gì không? Anh có muốn sống không? - Phú nhìn Lành vẫn lặng thinh liền quát - Có không?”
“Có.”
“Thế anh có biết tại sao người lao động hay đình công? - Gật - Anh gật nhưng tôi lại cho rằng anh chẳng biết đếch gì cả. Tôi thì nghĩ khác. Tôi không thích đình công. Tất cả cùng chết đói. Tuy rằng công cụ chuyên chính của người lao động luôn sử dụng nhưng cũng chẳng ăn thua gì vì nó vẫn nằm trong quy luật Tiêu - Trưởng xã hội. Loài vật dựa vào bầy đàn mà sống sót! Hoang dã vẫn sống. Đôi khi anh phải biết tách mình ra khỏi đàn. Lang thang... cô đơn... và con người gọi nó là ăn mảnh nhưng tôi coi nó như sự trưởng thành. Trưởng thành Tân ạ!”
Phú chăm chăm nhìn Lành. Phú biết Lành hiểu tất cả. Đôi mắt sáng, đen thẫm, vai rộng, bờ trán cao. Hai mắt Lành hơi ngước lên như ánh mắt nhìn nơi nước Chúa. Lành quá thánh thiện. Thông minh để làm gì? Sáng dạ để làm gì? Hỡi ông anh vợ. - Thà anh là một thằng ngu toàn tập thì chẳng ai bận lòng với anh cả. Đằng này anh làm cho người ta vừa khó chịu với anh lại như thấy có lỗi với anh.

Lành cầm bảng lương và sấp tiền để trên mặt bàn. Phú nhìn thẳng vào mắt anh nói tiếp. - Theo như hợp đồng lao động, anh phải đền bù số hàng cắt hỏng. Số tiền này ông Xuyền tính ra ngày công, anh còn nợ ông ấy 347 ngày công lao động. Tôi bị phạt ba tháng lương. Hai thằng Hồng, Thắm tiền công hai năm, phạt khấu trừ vào lương, số lương còn lại trả bằng quan tài và gỗ hỏng. Chị Quế Chi biết chuyện có can thiệp vào nhưng chị ấy chỉ bênh vực cho anh thôi. Mới đầu anh Xuyền không đồng ý, mắng mỏ chị Quế, bảo muốn thành công thì phải giữ nguyên tắc. Chị Quế hỏi nguyên tắc gì? Nguyên tắc lợi nhuận phải không? Thế nguyên tắc con người anh để ở đâu? Nếu anh giữ nguyên tắc của anh thì tôi cũng giữ nguyên tắc của tôi. Anh đi đường anh. Tôi đi đường tôi. Anh Xuyền nhượng bộ nên anh mới có số tiền này. Đây, anh đọc đi xem còn sai sót gì không rồi ký vào đây” - Nói rồi đẩy cuốn sổ phía anh lại phía Lành:
“Nói đi nói lại, vẫn là những điều anh đều hiểu cả. Chẳng hóa ra nói với anh cũng bằng thừa sao? Tôi biết vợ chồng anh Xuyền cãi nhau to lắm. Tôi mới ngộ ra một điều, thì ra lòng tốt trên thế gian này là thứ hương thơm ngây ngất lòng người. Nhưng mà nó quá xa xỉ, Tân ạ. Anh Xuyền rất cay cú chị Quế. Không một người vợ nào mà không ủng hộ chồng mình. Không có người nào tốt với người dưng cả. Gia đình nào cũng biết cách bảo vệ mình, và suy cho cùng quốc gia hay dân tộc nào cũng thế cả thôi, đều muốn nuốt chửng vào bụng mình ráo cả. Các anh Chăn dựa vào người làm thuê. Họ hớt váng sữa hàng hóa trở nên no béo. Người làm thuê sống sót nhờ bán sức lao động nhưng họ biết dựa vào nhau. Chỉ có anh là không biết dựa vào đâu cả. - Phú thấy Lành im lặng ngắm nhìn bảng lương. Anh rất muốn nói nhiều, thật nhiều cho Lành hiểu. Hình như anh chỉ diễn thuyết cho mình anh nghe, và rồi anh vẫn nói tiếp như điều cần phải nói - Anh họ ạ, chị Quế Chi cũng là một người tốt và điều đó làm cho tôi vững tâm hơn. Ai cũng có lòng tốt và có nhiều người tốt quanh ta. Nhưng ai cũng giấu kín, kỹ. Phải thân thiết lắm họ mới thòi ra một ít. Thôi, tôi chỉ mong anh đừng để ai làm hại. Anh phải vứt bớt cái lòng tốt hiên ngang ấy đi. Vứt đi! Tân ạ.
Lành gật cho qua chuyện rồi cầm lấy cây bút. Ngòi bút của Lành sột soạt trên giấy nghe như tiếng động từ miền hoang vu vọng lại. Bắt đầu châm bút xuống giấy là Lành đã nghe thấy. Rừng cỏ đầm lầy, tiếng cò, diệc khản cổ lúc bay về tổ. Con đầm nước này do Trần Khánh Dư đào rộng hơn ba trăm thước, sâu mười thước, hình vòng cung bao lấy ba mặt ấp Dưỡng Hòe. Phía Bắc giáp với sông Châu Giang. Tây giáp sông Nhuệ. Con đầm chia cắt hoàn toàn phía đông, nơi có con đường thiên lý Bắc - Nam đi qua. Từ lúc trẻ con đến khi đăng lính Lành đã tắm chán chê trên con đầm già này, một ngày có khi phải tắm tới năm, bảy lần. Không hiểu sao, mỗi lần phải đặt bút ký tên, Lành đều có cảm giác thấy mình đang tắm trên con đầm rộng lớn ấy, lần nào cũng nhìn thấy Nhân Huệ Vương. Lành nhìn ông mình trần, đóng khố đang bơi trên mặt nước lập lòe hoa súng. Một chiếc thuyền gỗ hờ hững mái chèo. Le le, bồ nông, mòng két, vịt trời... bơi lặn nhởn nhơ, từng toán bay xuống, bay lên vỗ cánh ràn rạt, mồm kêu nhặng xị. Đám lính hầu mình vận khố, da trơn nhẫy như một bầy rái cá. Trên bờ có một toán lính, có cái lọng che nắng. Lành biết ông ấy sau bảy trăm năm. Triều đình cho ông ấy nghỉ hưu, ông về nơi Vua ban đất cho ông sống nốt quãng đời còn lại. Vua ban cho ông mảnh đất quanh năm lụt lội, Vua chả kiếm chác được gì cái miền đất ấy liền đem cho ông. Nhân Huệ Vương biết bụng nhà vua, sợ không dám giữ ông ở gần. Ông không thể không nghe theo nhưng coi nó là sự thử thách và bắt tay vào trị thủy con đầm già này. Ông chết rồi dân quê xây cất cho ông một chiếc mả tròn giật cấp. Nóc mộ xây bằng đá, mái cong, đỉnh hương bằng đá. Diện tích xây cất rộng hai mươi mẫu ruộng gọi là Mả Vua. Từ bao đời, dân của mấy làng do ông ấy tuyển dụng đưa về. Ông ấy là ông chủ. Ông chủ của đất vua phong là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Tổ tiên nhà Lành tuy có họ hàng nhưng vẫn là những người làm thuê cho chủ Dư. Lành làm thuê cho chủ Xuyền. Suốt mấy trăm năm nối dõi tông đường. Ông chết rồi dân quê tôn ông là vua. Ma Vua, phải gọi như thế để các quan trên khỏi xử tội làm phản. Triều đình phong ông tước Vương, dân phong ông làm vua nhưng chỉ được làm vua ma. Sau này Vương, Vua đều mất, dân tình cải gọi đúng tên Mả Vua. Ông mới chính là Vua. Vua triều đình dân không nhìn thấy, chỉ thấy Vua Dư cho mình bát cơm manh áo nên dân tôn làm vua. Ông chủ Dư xưa gọi dân lính là gà vịt. Ông Xuyền chê ông ấy thô nhưng Lành thấy ông nói đúng sự thật, bản chất thời kỳ chưa có khái niệm lao động và làm thuê. Ông chủ Xuyền gọi người lao động là công nhân, có vẻ dễ chịu, không miệt thị nhưng cho dù gọi bằng cách nào thì lao động vẫn là làm thuê, đúng như K.Max vĩ đại đã định nghĩa công nhân chính là người làm thuê. Chủ Xuyền thần tượng Trần Khánh Dư nhất là chuyện Dư bày ra chuyện bán nón để thu lợi. Nhưng dù sao Khánh Dư vẫn được người lao động chấp nhận và tôn vinh. Chủ Xuyền vừa thô vừa bỉ. Chủ Xuyền không sòng phẳng mà bộc lộ đặc điểm cướp bóc đối với lao động làm thuê ở thời kỳ mà nền dân chủ được đặt làm nền móng.
Lành cầm cọc tiền công nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi cơn mê. Hình ảnh chủ Xuyền và chủ Dư cứ lẫn lộn và anh thấy có cảm tình với Trần Khánh Dư hơn. Trước mắt Lành lại hiện ra con đầm nước. Nó bỗng nhiên xáo động, sóng nước cuộn dâng tung bọt trắng xóa. Trần Khánh Dư hiển thánh, bay vút trời cao, mặt rạng, mày ngời, miệng cười ha ha, tiếng truyền như sấm:
“Thiên định! Thiên định!”.
Lành cố gắng nhìn dõi theo nhưng phút chốc không thấy bóng hình ngài đâu nữa. Anh cúi nhìn cuốn sổ phát lương đã biến thành mười thiên can, mười hai địa chi đã an vị trong cung địa bàn. Tiếng anh Phú:
“Đang mơ gì thế? - Gõ ngón tay xuống mặt bàn - Tân... Tân... ông làm sao thế?”
Lành giật mình tỉnh giấc. Từ hôm Lành bị anh Thắm đánh thuốc ngủ rồi bỏ trong quan tài, đến bây giờ Lành thấy trong người vẫn còn ngây ngất, lúc nào cũng có thể nằm mơ được, mà toàn những giấc mơ đẹp, tỉnh dậy thấy người vô cùng thanh thản. Nói cho công bằng Lành cần nói lời cảm ơn đến hai anh. Hai anh đã giúp Lành vượt qua chính mình, còn tặng cho anh món quà là một chiếc máy nằm mơ.
*
Lành ngắm nhìn căn hộ ba tầng nhỏ nhắn, rất đẹp rồi coi kỹ lại tấm biển đề số nhà 66 một lần nữa rồi mạnh dạn bấm chuông. Một người phụ nữ thấp, đậm ra mở cửa:
“Cậu tìm ai?”
“Dạ, cháu tên là Lành, người nhà với anh Lục”.
Người đàn bà nhìn Lành một lần nữa rồi bảo đợi bà vào thưa với chủ nhà. Một lúc sau trở ra bảo:
“Anh Lục nói không có người nhà nào tên là Lành”
Nói rồi bà định khép cửa lại. Lành đưa một tay giữ cánh cửa, tay kia móc túi áo ngực đưa cho bà phong bì thư:
“Nhờ cô đưa cho anh Lục cái thư này. Thư do anh Phú, anh em với anh Lục giới thiệu ạ”.
Người phụ nữ cầm thư quay vào, một lúc quay ra mời Lành vào nhà.
Hà Nội là thành phố rất chật, đường ngắn, ngõ nhỏ, mạng nhện, ngoằn ngoèo sâu thẳm. Nhà Hà Nội nhỏ, cơi nới, xì xụp, thò thụt. Quá chán! Lành thấy Hà Nội là hình ảnh của một thành phố lấm láp, khổ sở. Từ ngày lên đây Lành đã quen không gian và sinh hoạt của người thành phố. Lành ngắm căn hộ rộng chừng hơn ba mươi mét vuông. Tầng một để chứa phương tiện, gian khách đủ cho bốn người ngồi, còn lại dành cho gian bếp. Lành vẫn đứng không dám ngồi xuống ghế. Có tiếng dép lẹt xẹt từ trên cầu thang và tiếng nói vọng xuống:
“Chị Oanh ơi, cho tôi ấm trà để tôi tiếp người cùng quê mình nhé!”.
Cô Oanh pha chè mang ra. Cô đưa mắt nhìn anh Lục ra hiệu cái gì đó. Anh Lục ngồi xuống rồi mời: “Ngồi đi, ngồi đi”. Lành ngồi xuống ghế. Gian khách tương đối đơn giản, cái gì cũng nhỏ nhưng đẹp. Anh Lục rót nước, thân mật hỏi:
“Cậu làm chỗ anh Phú?”
“Vâng”
“Tôi xem qua thư anh Phú giới thiệu về cậu rồi. Chúng ta vào công việc luôn nhé. - Anh Lục quay qua cô Oanh, cố nhìn vào mắt cô. - Cậu Lành, anh em đằng nhà vợ anh ấy, cũng coi là người cùng quê”
“Dạ, tôi biết rồi”.
Nói xong thì đi ra làm công việc của mình. Anh Lục hỏi:
“Cậu có bằng gì? Trước đây học ở trường nào?”
“Dạ. Em không có bằng cấp gì. Học chưa hết lớp mười thì đăng lính. Hiện giờ em xin nghỉ làm chỗ anh Phú, mong anh nể tình giúp đỡ, việc gì em cũng xin nhận”.
“Đã đảng viên chưa?”
“Dạ, chưa”
“Có hai thứ cần và đủ thì cậu đều không có. - Anh Lục thở phì một cái - Trong thư anh Phú giới thiệu cậu rất nhiệt tình trong công việc. Điểm nổi trội nhất là ở bản tính chân thực, hiếm có. Trong thư anh ấy dặn tôi bớt chút thời gian nói chuyện với cậu. Dứt khoát phải nói chuyện! Thôi được, hôm nay tôi cũng đang rỗi đây. Nhưng tôi cũng phải nói thật, thời buổi bây giờ, tư duy dùng người bây giờ khác hẳn mọi thời đại. Tốt, chân thực nhưng không có lợi nhuận thì chẳng khác nào một chiếc ba-ri-e ngáng đường. Vậy tốt, chân thực trở thành nhược điểm để cho người ta khai thác và chà đạp. Ông Mạnh Tử có nói một câu: Người có đức mà không có tài vẫn là người quân tử. Thời đại ngày nay không còn ai nhắc đến hai từ quân tử nữa rồi”.
Lành hết sức ngạc nhiên. Anh Lục phủ đầu bằng những nhận định mà Lành không hiểu. Lành không biết hết những điều anh Lục nói nhưng gợi nhớ những điều Phú đã căn dặn anh trước đấy. Những ví dụ về người có đức và người quân tử là có ý gì? Nhưng Lành hiểu những kẻ tiểu nhân thời nay chính là những kẻ ích kỷ, chỉ chăm lo thu vén cho cá nhân, nhưng cái tốt mà bị chà đạp thì Lành thấy không phải. Người tốt chỉ chịu khổ thôi. Lành chưa từng trải nhiều nhưng Lành không hẳn đã đồng ý với anh. Tốt tuy ít có lợi nhuận nhưng không bao giờ làm cho xung quanh bị rối loạn. Lành liền liên hệ với xưởng đóng quan tài. Mỗi lần đóng xong chiếc áo dành cho người tứ cố vô thân, tự dưng Lành thấy thương thương, cậu cứ nhìn những tấm ván sần sùi, mạch cưa không trùng, sơ gỗ không đứt trông nham nhở, gai góc khiến anh động lòng. Chiếc quan tài ông Xuyền chỉ cho bào nhẵn mặt ngoài. Có lần Lành đem những tấm ván ấy ra bào cả mặt trong. Anh Hồng hỏi:
“Mày làm thế để làm gì?”
“Em cảm thấy người chết sẽ bị ngứa”.
Cả xưởng cười lăn lộn, cái mồm ai cũng ngoác ra. Hai viên bi mắt ông Xuyền biến thành hai viên đá mài nước để cho cặp lông mày liếc như liếc dao. Lành cũng cười, mồm cũng ngoạc ra, nhìn mặt anh Phú làm Lành càng cười. Lành không nhận ra cái mặt mình cười trông thật bản năng. Ai cũng liên tưởng đến cái cười của kẻ đần độn. Anh Thắm đá vào đít Lành một cái:
“Mày còn cười được à? Trông cái mặt cười mà muốn nhúng nước quá à. Thôi đừng cười. Mày không biết mày đang cười mày đấy à”.
Cái miệng Lành vẫn cười sằng sặc, cậu chỉ vào anh Phú:
“Em nhìn ông Phú cười giống như mặt con chó Nhật”.
Mọi người liền đổ dồn về phía anh Phú, quả nhiên thấy lớp da mặt xếp chồng lên nhau y như chó Nhật thế là cả bọn ôm bụng cười nghiêng ngả, vừa cười vừa chỉ trỏ.
“Đúng là giống chó thật”
“Trông còn khó coi hơn mặt chó”.
Anh Phú quát:
“Đồ đần thối. Thôi không cười nữa. Ông thích bào hai mặt thì cứ bào, nhưng hết giờ mới được bào”.
Ông Xuyền cũng treo hai “con dao” lên, hai mắt tỏ ra nghiêm nghị:
“Tao cho mày thể hiện lòng tốt, nhưng phải thể hiện vào ban đêm như thằng Phú bảo”.
Lành cảm thấy mình không bị chà đạp. Những buổi tối làm thêm giờ không có đồng công thêm giờ nào nhưng Lành thấy mình ngủ ngon hơn.
Lành muốn anh Lục đừng nói về lòng tốt. Lòng tốt mà anh Lục nói chả liên quan gì đến việc Lành đang cần có việc làm, đang cần anh mở lòng thương hại. Lành suy nghĩ, anh Lục chắc muốn dặn dò mình làm việc phải có lợi nhuận. Lành hiểu, Lành cũng hiểu tốt, chân thực thì cần lắm nhưng phấn đấu làm được điều đó thì tốt và chân thực lại là kẻ thù của lợi nhuận. Muốn thành công thì phải biết khước từ lòng tốt. Xem ra lòng tốt ở cái thế giới mới này lại là một trở ngại. Lành cứ ngây người ra nghe, sốt ruột và ngóng đợi. Lục còn bảo không có một cuộc cách mạng nào đầy lòng tốt. Tốt chỉ là chiếc mũ sắt hay vòng lá ngụy trang thôi. Thật đấy! Cậu muốn sống thì hãy cất cái lòng tốt ấy đi mang về nhà mà dùng. Anh Lục bỗng hỏi:
“Để làm gì? Cậu biết không?”. Nói rồi anh lại tự trả lời:
“Chẳng để làm gì cả”.
Lành không biết nên gật hay lắc. Xem ra hôm nay Lành đến đây để cho anh Lục, một người cùng quê, một người có cước sắc, một lãnh đạo cô đơn không có bạn bè tâm sự, cả thành phố không có chỗ nào tin tưởng mà xả cặn. Lành cũng thấy lạ, Lành là cái gì chứ mà anh ấy nói cứ như hai thằng chăn vịt với nhau? Lành ngọ nguậy trên ghế. Giờ anh không quan tâm đến những điều anh Lục nói. Công việc của Lành là nín thở đợi cái gật đầu nhận anh vào cơ quan. Làm cái gì cũng được miễn là làm ở cơ quan nhà nước.
Cả đêm hôm qua Lành hồi hộp biết bao. Giấc mơ thành công nhân nhà nước cứ ám ảnh khiến Lành không ngủ được. Lành tưởng tượng đủ các kiểu. Về lý lịch thì đảm bảo. Thành phần bần nông. Bố Lành là đảng viên, là phó Chủ nhiệm Hợp tác xã. Bản thân Lành đã từng là một quân nhân có sức khỏe, có tuổi trẻ. Chỉ có điều Lành chưa có nghề. Có thể sau này khi đã thành công nhân nhà nước, Lành xin anh Lục cho mình đi học, học tự túc cũng được. Lành hy vọng rất nhiều vào nơi này. Hà Nội rộng lớn thế, đây là chỗ dựa duy nhất, là chiếc phao duy nhất trong bể cả mênh mông có hàng triệu người đang ngụp lặn.
Có một lần ở New Homs, nhân lúc giải lao uống nước chè Lành ướm hỏi anh Hồng:
“Em nghe nói thời của anh xin đi làm công nhân nhà nước dễ hơn bây giờ, phải không anh?”
“Ai bảo mày thế? Đây, có ông Phú đây. Thời của anh em mình làm gì có ai đi làm công nhân. Chỗ anh Phú thế nào tôi không biết nhưng làng tôi có mỗi một đứa được làm công nhân ở xưởng gạch, suốt ngày đi vác đất. Nhưng cũng nhất làng rồi. Có sổ gạo và tem mua thực phẩm là nhất làng rồi. Nó có ông chú làm ở phòng thương nghiệp huyện mới xin được đấy”
“Thằng Hồng nói đúng đấy. Ở thành phố này xin đi làm công nhân vá đường sắt cũng phải mất tương đương với 50 cỗ quan tài mới có giấy gọi. Mà không phải làm ở Hà Nội này đâu nhé, phải suốt đời cào đá tuyến Hà Nội - Lào Cai hay Hà Nội - Lạng Sơn”.
Lành ngồi nhẩm tính giá quan tài. Không biết quan tài loại nào, Lành không dám hỏi, Lành tạm lấy giá quan tài loại bình dân để tính thấy nó là số tiền quá lớn, tương đương với số tiền nguyên lương trong năm năm. Lành có thể cố gắng được. Lành sẽ ăn ít hơn, sẽ không uống nước chè đá, không ăn sáng, không mua xà bông, không cần đánh răng. Lành không tiêu một đồng nào. Lành sẽ có đủ tiền.
Ước mơ thầm kín ấy Lành chưa nói với ai, nhất là anh Phú, Lành càng không dám hỏi. Nếu có hỏi thế nào anh ấy cũng mắng đầu óc thiếu thực tế, nhưng có một thực tế dù có là một anh công nhân vá đường, vá chợ cũng không bị phân biệt đối xử như với những lao động làm tự do. Làm tự do luôn bị o ép đủ kiểu, không có ai bảo vệ. Biết bao gia đình đều có toan tính giống nhau, hoàn cảnh khác nhau thì lẽ sống khác nhau. Lành không muốn suốt đời lang thang. Lành muốn có một sự đảm bảo chắc chắn nhưng chưa biết làm thế nào. Từ ngày lên Hà Nội, tiền mà Lành dành dụm chưa đủ mua một cỗ quan tài. Vì thế cho nên Lành ước ao nó vô cùng, như một người chết khát, anh Lục có cả một bể nước, xin bố thí cho Lành một giọt.
Anh bỗng trở nên ân hận vì hai thứ cần và đủ thì Lành không có. Lành không hiểu tại sao Lành lại không có. Bằng cấp thì Lành không có bởi vì thời chiến tranh làm cho Lành mất đi cơ hội học tập. Vả lại trong cơ quan nào chả có dăm ba ông bảo vệ, mấy người làm lao công, làm thợ điện, máy nổ... vậy thì cần bằng cấp để làm gì? Hay anh Lục muốn sắp xếp cho mình chân kế toán? Nhưng kế toán thì chắc phải có đảng viên. Lành thở dài và cứ chờ đợi anh ban cho mình một công việc phổ thông mà không cần bằng cấp, không phải đảng viên. Nhưng anh Lục cứ nói chuyện đâu đâu. Anh chỉ nói chuyện của anh. Lành tin anh bởi những trải nghiệm giàu có của anh. Anh đem những kinh nghiệm ấy san sẻ cho Lành, là món quà quê đem tặng lại anh, với những người khác chắc chẳng bao giờ Lục nói ra. Nhưng Lành buồn. Rất nhiều nỗi buồn từ nhiều phía kéo đến. Buồn nhất là anh sẽ không có việc làm. Trong thư anh Phú viết những gì Lành không biết.
Nhớ lại lúc Lành ký vào quyển sổ phát lương, anh Phú dặn:
“Tôi lo cho anh quá! Từ nay trở đi anh phải nhớ kỹ là làm thuê cho ai, công ty hay nhà máy, công trường hay xưởng thợ... chủ lớn, chủ bé cũng chỉ mang tính thời vụ. Làm thuê mới là mãi mãi. Một người thợ tốt bụng, giỏi giang nên tránh xa những ông chủ mất dạy”.
Lành nhìn Phú chăm chăm như đánh giá xem Phú và ông Xuyền xem ai là người tử tế hơn. Phú đã biết rõ chủ Xuyền là người thế nào, tại sao anh ấy không tìm cách tránh xa như anh ấy nói. Dường như Phú biết Lành đang suy nghĩ gì, chỉ không nói ra mà thôi. Phú bảo:
“Tôi biết anh đang nghĩ gì. Thú thực tôi không phải là người tốt và cũng không muốn làm một người tốt, cho nên tôi phải tìm đến những người như chủ Xuyền. Anh thì khác. Một mặt tôi muốn anh ngóc cổ dậy nhưng đại thể thì không. Anh cứ sống tự nhiên thế. Khổ mà không biết khổ mới là người sướng! Ai bảo mình ngu đần cũng mặc kệ”.
Anh Phú muốn nói nữa nhưng dường như Lành hiểu cả. Hiểu mà không thay đổi. Phú thở dài, biết rõ những người như Lành không làm phiền người khác, nhẫn nại, chịu đựng, không bao giờ biết khổ nhưng biết nhìn cái khổ của người khác mà động lòng. Anh biết những người như Lành do trời sinh ra thế, không thể khác. Khi cái tốt bị ép đến chân tường thì những con người này vẫn chọn cách hành xử khác với những đám cặn bã khi bị dồn đến đường cùng. Khác nhau ở sự lựa chọn. Người tốt nhận chịu sự hy sinh về mình còn đám cặn bã thì không. Phú cảm thấy xúc cảm mình run lên khi suy nghĩ những điều mình nói. Thật tình anh rất ngưỡng mộ xong cũng không khỏi xót xa.
Ngừng một chút, Phú gặng hỏi Lành:
“Bây giờ anh định đi đâu? Làm gì?”
“Tôi cũng không biết”
“Lúc nãy nói với anh nhưng đó là ý của tôi. Tôi tin anh hiểu hết nhưng không làm theo. Anh đã biết rồi nhưng tôi vẫn phải nói vì thấy tiếc lắm. Giờ tôi vẫn muốn hỏi lại là anh có muốn làm thợ mộc nữa không?”
Nói đến thợ mộc là Lành sợ. Thực tình Lành không chê nghề mộc nhưng Lành sợ các lò mộc. Anh Phú dường như cũng thấy điều đó. Anh nói:
“Tôi có thằng em con bà cô, hiện nó đang làm Giám đốc một công ty ở ngành Ngoại thương. Nếu xếp được chân bảo vệ cơ quan hay một công việc tạp dịch gì đó, không biết anh có đồng ý không?”.
Lành giống như người chết đuối túm được cây chuối liền gật đầu luôn, lại khẳng định thêm quyết tâm:
“Anh cứ giới thiệu đi. Nếu được vào làm trong cơ quan nhà nước dù có đi dọn vệ sinh tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ”
“Cứt ở Hà Nội cũng có người “đăng cai” - Anh nghiêm trang nhìn, Lành biết là anh không nói đùa. - Thôi, là tôi cứ giới thiệu anh, còn lại nhờ vào may rủi vậy”.
*
Lành không biết nói gì hơn là cứ nhìn anh Lục chờ đợi. Lành biết mình không phải đứa hoạt ngôn, với lại nói những câu nịnh nọt, có cánh để bốc người nghe lên thì Lành tự thấy ngượng, không mở được miệng. Anh Lục bỗng hỏi:
Cậu làm chỗ anh Xuyền lương tháng bao nhiêu?”
“Dạ, ba trăm một tháng”
“Vậy cũng tiết kiệm được kha khá đấy nhỉ?”
“Em không biết tiêu tiền nên có ngần nào hết ngần ấy”.
Anh Lục bật cười. Anh bảo:
“Thôi đi. Tôi biết tận tổ chấy cách chi tiêu của tầng lớp lao động. Chi tiêu của người giàu mỗi lần xuất ví đều mang giá trị đầu cơ. Chi tiêu của người nghèo chỉ có một câu thần chú là tiết kiệm! Tiết kiệm! và tiết kiệm!”
“Thật tình, thời gian làm ở xưởng em không tiết kiệm được đồng nào”
“Tôi biết cậu là người thật thà nên tôi chỉ hỏi thế thôi. Cho vui! - Lục nhìn Lành với đôi mắt bí hiểm - Với lại người nghèo đôi lúc nên học cách chi tiêu của người giàu chứ!”.
Lành không biết anh Lục khuyên hay gợi ý. Đi xin việc chắc chắn là đầu cơ rồi. Lành không dám nói chuyện với anh về vụ bị phạt lương. Hiện giờ anh cũng không có tiền. Nhỡ nói chuyện này ra sẽ bị anh Lục đánh giá mình làm việc cẩu thả. Lành cứ ậm ừ không biết nói thật thế nào để anh hiểu. Anh Lục vẻ mặt có vẻ không vui, lại như tư lự, rất khó đoán. Cuối cùng anh nói rõ thêm và Lành cũng hiểu rõ ra:
“Tôi hiểu cả rồi. Tôi rất nể anh Phú, thảo nào anh Phú dặn phải nói chuyện, góp ý với cậu, vả lại chúng ta dù sao cũng là người cùng quê lên sinh sống trên đất Hà Nội. Cậu là người quá thật thà. Tôi rất muốn giúp cậu nhưng không có ai giúp tôi. Tôi nói điều này cậu hết sức thông cảm. Mọi chỗ làm việc trong cơ quan đều đã quá tải, đến mức muốn nứt cả tường. Nhiều đêm nằm nghĩ hay là đặt quả bom nổ tung cơ quan lên rồi sắp xếp lại nhưng rồi nghĩ trước sau gì nó sẽ trở về nếp cũ. Nó giống như mình ném một viên đá xuống mặt ao phẳng lặng. Dao động một lúc rồi nó lại trở về phẳng lặng như vốn có. Vậy cứ để cho nó tự sinh rồi tự diệt”.
Lành thấy Lục thất vọng, còn mình thì tuyệt vọng. Lành nghĩ rất có thể đây là cách từ chối khéo léo, có thể Lành gây khó cho anh thật, có thể anh chả có lợi ích gì việc giới thiệu người làm, có thể trong cơ quan sẽ tạo áp lực lên anh dưới mọi góc độ. Anh Lục cũng đoán được Lành đang nghĩ gì, liền nói:
“Nói thực, tôi cũng người nhà quê chân nứt, mắt toét. Tôi cũng làm thợ mộc như cậu, đi lính như cậu rồi về cơ quan công tác. Tôi chỉ may mắn hơn cậu nhưng mọi may mắn đều do cạy cục mà có. Nói cho cậu biết ở cái thành phố này, lúc thời buổi này nếu không cạy thì chẳng có cục nào mà cầm đâu. Nhiều lúc tôi nghĩ thà tôi suốt đời ở nơi chiến trường còn hơn sống trong hòa bình. Tôi nói cậu tin hay không thì tùy. Chiến tranh gây ra chết chóc, thương đau. Bi kịch do hòa bình gây ra hủy hoại tâm hồn. Thường thì sự hủy hoại tâm hồn sẽ đau khổ hơn nhiều. Ở chiến trường thì cứu sống nhau. Hòa bình rồi lại làm thịt nhau để sống. Ngoài chiến trường còn có đồng đội. Thương trường thì chả bạn bè, bố con đứa cứt nào hết! Vậy thì thương trường ác liệt hay chiến trường ác liệt hơn? Nhiều lúc tôi nghĩ, nghĩ mãi mà không hiểu được. Tôi ngồi chỗ này phải liên tục chiến đấu với những đồng đội cũ của mình. Tại sao lại thế? Nếu tôi không thế thì tôi sẽ bị người khác làm ra thế”.
Anh Lục rót nước cho Lành và cho anh rồi thủng thẳng nói tiếp:
“Không hiểu sao hôm nay tôi lại nói nhiều đến thế. Chẳng phải vì hôm nay tôi rỗi rãi, cũng chẳng phải cậu cùng quê với tôi mà vì cái mặt cậu. Nhìn vào mặt cậu là người ta muốn đổ tâm sự vào, mà tâm sự thì có phải lúc nào cũng giãi bày được đâu. Thật đấy! Tôi có thể bốc phét trước cơ quan hàng trăm con người; nhưng chuyện bộ mặt thật thì không thể bốc phét được, tội lỗi lắm! Nhìn vào mặt cậu, như gợi ý một bài toán khó. Cái mặt cậu có thần ý chăm sóc, nâng đỡ, khích lệ để cho người ta tâm sự, nói thật với lòng mình. Điều tương tự như thánh Phaolo Tông đồ miêu tả: “Tôi muốn làm điều phải điều tốt nhưng tôi không làm điều đó. Bởi vì tôi không làm điều thiện tôi mong muốn, mà làm điều xấu mà tôi không muốn”.
Lại chuyện cái mặt.
Lành rất sợ hãi mỗi lần nhắc chuyện cái mặt. Từ lâu rồi, Lành rất lo lắng cho cái mặt của mình. Nếu nó nằm ở nách thì Lành sẽ mặc áo dài tay. Nếu nó ở bàn chân thì Lành sẽ đi đôi giày vải nhưng nó lại là một phần của cái đầu, không dùng cái gì để giấu nó đi được. Cái mặt của Lành sao vậy? Anh Phú và cả làng Dưỡng Hòe đều chê cái mặt đần thối. Chị Vững bảo trông cái mặt lỳ như viên đá mài. Ông Xuyền thấy nước mặt dễ sử dụng. Anh Thắm bảo nhìn cái mặt là muốn băm. Thằng Họa khen mặt Lành tốt như mặt đường nhựa. Anh Lục lại muốn đổ tâm sự vào. Sao cái mặt Lành lại nhiều hình thù đến thế. Anh Hồng còn bảo cái mặt Lành có nhiều lớp mặt nạ. Lành bất giác đưa tay lên sờ vào mặt mình rồi lấy móng tay cạo cạo. Cảm giác da thịt cơ thể hoàn toàn là da thịt gốc, cảm nhận được, không có cái gì che phủ lên. Lành véo vào má mình thấy nó đau vào tận xương. Nguyên bản là thế. Nó vẫn chỉ có thế thôi. Lành buồn rầu. Đã bao lâu nay Lành cũng nghe phản ánh về bộ mặt mình. Lành nhiều lần tiến hành tự phê bình cầu tiến nhưng Lành không hiểu tại sao và không biết phải làm thế nào để cho nó chỉ vác trên đầu một cái mặt thật. Cuối cùng, không nghĩ được gì nữa, nhưng mong cầu sự tiến bộ của cái mặt lúc nào cũng cháy bỏng. Lành mơ có một gương mặt ưa nhìn hoặc ít nhất cũng dữ dằn kiểu râu bờm, mắt quạ nhưng thích nhất những mặt chữ điền vuông vắn, tròn trăng rằm, hình dưa hấu... những khuôn mặt đẹp, mặt xinh, tươi tắn, phúc hậu, ngây thơ, mê hồn... hoặc na ná gương mặt khả kính của các danh nhân, các chúa đất, những ông chủ các tập đoàn kinh tế... những minh tinh màn bạc, kể cả những gương mặt anh hùng cách mạng, chiến sỹ thi đua toàn quốc Lành cũng đã nghĩ tới. Nhưng rồi Lành nghĩ tất cả các khuôn mặt ấy đều không ổn, có thể vẫn bị chê. Nó không đại diện cho mọi tầng lớp và cho chính những kẻ đố kỵ, ghen ghét và cả căm thù nữa. Lành âm thầm nghĩ đến khuôn mặt của phòng lễ tân làm cho khách đến thuê nhà nghỉ vô cùng dễ chịu. Nhưng gương mặt ấy tầm thường, lễ độ giả dối! Lành muốn có một gương mặt thần tượng, mặt mầu nhiệm đầy tính kỹ thuật không chê vào đâu được. Lành chợt nghĩ ra rồi reo lên: Sấp mặt! Sấp mặt! Chỉ còn cách sấp cái mặt xuống như gợi ý của anh Thắm!
Lành mê man nghĩ đến “cuộc cách mạng” của cái mặt nhưng mắt vẫn nhìn anh Lục ngả người trên tựa ghế. Cái ghế nhà anh tựa lưng ngắn nên dễ đau lưng.
Anh kêu ái chà rồi ngồi lại ngay ngắn. Chuyện tiếp: “Trong thư anh Phú có dặn tôi cố gắng bớt chút thời gian nói chuyện với cậu. Cậu lành, ngây thơ, dễ thương lắm, nhất là cái mặt. Anh Phú khen cậu có lẽ hơi quá, cũng cần xét lại. Thời buổi này hiền lành thì được cái gì? Dễ bị người ta bắt nạt. Ngây thơ thường hay bị quả lừa. Dễ thương càng nhanh bị thương. Anh ấy bảo lòng tốt là chân lý. Làm đếch gì có chân lý. Chân lý thường do kẻ yếu hơn bày ra rồi để cho thống trị lợi dụng. Lòng tốt à? Bây giờ nó chỉ còn trên bàn giấy thôi. Đem lòng tốt mà đi kiếm tiền thì thành thảm họa. Mà làm người tốt lại vô cùng khó! Không ai dám làm người tốt một cách lộ liễu trong thời buổi này cả. Cậu thấy đấy, lòng tốt cũng như hạt giống tốt. Liệu nó có nảy mầm dưới cống ngầm thành phố không? Cậu thử hỏi lại mình xem. Anh Phú là anh em đằng vợ anh ấy nhưng anh ấy lại là anh em đằng phía nhà tôi. Anh ấy chỉ thương hại cậu thôi. Nếu anh ấy là người tốt đã không đẩy cậu đến đây? Phải không nào? Người như anh Phú tôi thấy có cả một nước. Tôi nói toẹt ra thế, chắc cậu hiểu? - Dạ, gật - Ừ, cậu hiểu rồi thì thôi. Thế là tôi cũng hoàn thành công việc anh ấy giao cho rồi. Để tôi nói nốt câu này. Cuộc đời con người suy cho cùng là một cuộc chơi tươi sống mà con bài chính là mạng sống của mình. Mỗi người chơi một kiểu. Ai muốn chơi thì cần phải thích nghi theo kiểu chơi mới, phải biết từ bỏ kiểu chơi của mình. Đây mới là chân lý
- Anh Lục nhấp miếng nước chè/chẹp/ - Cậu tưởng tôi sung sướng lắm đấy à? Anh Phú biết tính tôi từ bé. Tôi chả sợ một ai. Lớn, bé, già, trẻ chẳng từ đứa nào. Sau khi đi lính về thì hai từ lãnh đạo đã chiêu hồi được tôi. Nó như gió ấy. Cứ mỗi một trận gió, nó lại bốc tôi lên đến tận chiếc ghế này. Tôi xin nói thật, ngồi ghế này rất nặng, không biết góp gió thì nó lại quật mình xuống. Mình cùng quê với nhau, lúc đọc thư anh Phú giới thiệu thì tôi mừng lắm. Nhìn cậu, tôi thấy lại mình ngày còn trẻ cứ dửng dưng, tưng tửng. Mừng vì lòng tốt vẫn còn sống sót nhưng chỉ để dành, của để dành, quý lắm! Lòng tốt là thần tượng của muôn thời. Mong cho lòng tốt mỗi thời luôn luôn được cover. Thời này gác lại nhưng phải có người bảo tồn nó. Ở cơ quan tôi có mười cái được gọi là tốt thì chín cái là tốt giả, cái còn lại thì ngai ngái, tai tái. Tôi biết mà không làm gì được. Hôm nay nói chuyện với cậu với thân phận của một thằng phó mộc chứ không phải cái vỏ nghênh ngang, trịnh trọng của một ông Giám đốc nhưng bên trong thì thối rữa, có giòi. Lâu lắm rồi tôi không được nói tục. Nói tục sướng lắm! Nói thực, tôi chả tin vào công lý đâu nhưng lương tâm thì tôi tin”.
Giám đốc Lục cứ thế nói, thỉnh thoảng lại văng tục. Lành tốt lắm sao? Lành thấy mình chưa tốt nhưng cũng chưa hề bị cuốn theo người khác. Lành chịu đựng nghe và thấy sốt ruột. Ngày Lành ở lính,
Lành nghĩ, từ tiểu đội trưởng trở lên là quan trọng rồi, càng lên cao càng thấy mình quan trọng hơn người, tự nhiên thấy mình đổi khác, loại khác, không muốn nói chuyện, không ngồi uống nước, không ăn thuốc lào, không ngồi cùng mâm với chiến sỹ; nhưng xem ra anh Lục muốn gì ở một thợ mộc không có việc làm? Anh Lục là thứ bậc cao sang trong xã hội, không cùng hạng lao động khiến cho Lành tự thấy mình không phải phép, không xứng liền xin phép đứng dậy. Thôi thì về tay không vậy, anh Lục nói chuyện có ý không nhận nhưng cũng chia sẻ với nhau đến mức như thế thì cũng đã là sự may mắn cho Lành rồi. Không ai tin được một ông Giám đốc lại bày tỏ ruột gan với một người xa lạ. Lý do anh ấy đưa ra là tại cái mặt của Lành. Cái mặt của Lành giống khuôn mặt của Đức cha trong những lần con chiên thống hối? Lành không hiểu được. Anh Lục đứng lên, bắt tay rồi như sực nhớ điều gì, nói:
“Gần chỗ cơ quan tôi có một khu chợ lao động. Chúng họp rải rác đến tận chân cầu Long Biên. Cậu đến thử vận may chỗ ấy xem sao”
“Dạ. Cảm ơn anh”.
Cô Oanh tiễn Lành. Cô dùng một tay đẩy cửa, rồi đưa cả hai khoanh trước ngực. Cô nhìn thẳng vào mắt Lành bằng ánh mắt dửng dưng và thờ ơ. Chờ Lành bước ra khỏi cửa mới nói:
“Cậu đến nhà người ta cũng cần có nghệ thuật tý chứ. Đi người không, sao xin được việc!”.
Lành ngẩn người ra một chút nhưng cố không để lộ nó ra ngoài. Lành như bị giội một gáo nước lạnh. Cô Oanh là người giúp việc tin cậy cho ông Giám đốc Lục. Tất cả khách đi, khách đến cô đều trao đổi với anh Lục bằng ánh mắt. Tất nhiên cô chỉ được phép nhận quà rồi ra hiệu với anh Lục bằng ánh mắt vui vẻ hay lừ lừ lạnh băng. Thế là anh Lục hiểu. Lành thấy hơi bị hụt hẫng nhưng đã đến nước này thì Lành cũng cóc cần.
Lành đứng hẳn lại, đối diện với cô rồi nói: “Cháu đi xin chứ không đi mua” “Vô duyên!”.
Nói rồi cô Oanh đóng rầm cửa lại.
*

Lành trở về nhà trọ trong ngõ hẻm sâu thẳm. Chỗ thuê này cũng do anh Phú tìm cho. Lành nằm miên man suy nghĩ. Cô Oanh nói đúng, Lành là một kẻ vô duyên, không có một kẻ nào trên đời này vô duyên hơn. Thằng Họa bảo không ai cho không ai cái gì, thiên nhiên cũng có cách trao đổi với nhau để cùng tồn tại. Tận cùng như trời với đất cũng còn thò thụt với nhau nói gì đến con người vốn do họ sinh ra? Lành rất buồn. Trong tình cảnh khốn khổ như này Lành hy vọng nhiều vào tấm chân quê. Trong lòng những người xa xứ ai cũng có thứ tình cảm bản vị kia, nhất là ở ngoài chiến trường thì càng biểu hiện rõ nét nhất. Người ta có thể bỏ quê hương ra đi nhưng không ai bỏ quê hương ra khỏi con người. Đi đâu, làm gì lúc xa nhà gặp một người cùng quê thì quý hóa vô cùng. Hoạn nạn, khó khăn chung tay giúp đỡ. Anh Lục bảo muốn ở mãi nơi chiến trường. Nơi ấy có tình thương, tình đồng đội, tình người và ấm lòng tình cảm đồng hương. Lành không sao giải thích được chuyện vừa rồi. Anh ta vừa giao giảng đạo lý, lại không tin vào đạo lý. Nói thế nhưng có phải thế hay không? Anh Lục không phải không muốn giúp nhưng vì Lành không đủ tiêu chuẩn nhận người mà thôi nhưng cô Oanh nói thế khiến Lành nghi ngờ tất cả. Lành mãi mãi vẫn chỉ là Lành thôi. Lành chỉ để cho người ta dễ sử dụng như ông Xuyền nói, nhưng nếu xem nó như một món hàng hóa thì lại trở thành thứ vô dụng.
Lành cứ trân trân nhìn lên tấm vải mưa màu cỏ úa ngăn bụi trên mái nhà. Lành cảm thấy nó thấp dần, thấp dần. Lành lại nghĩ đến ông cụ tổ nhà mình. Không dám nhận mình là con cháu họ Trần Khánh Dư. Trần Khánh Dư khí phách dám làm, dám yêu nhưng những con cháu họ Trần còn sót lại nơi ông khai phá, cải tạo đồng hoang, lụt lội như ngày hôm nay lại yếu mềm, khốn khổ. Lành cần phải học, làm quen, thay đổi như anh Phú nói. Phải học lấy thứ nghệ thuật như cô Oanh nói. Một người phụ nữ nông thôn còn biết dạy Lành cái môn nghệ thuật cuộc sống. Quả là Lành không biết nghệ thuật là gì. Cuộc đời là một trường vĩ đại dạy cuộc chơi, cứ cho ăn no đòn trước rồi tự rút lấy bài học, ngược với cách dạy chơi trong nhà trường. Nhà trường dạy chơi tốt, trung thực. Ngoài đời dạy chiêu xấu và nói dối. Anh Lục khuyên muốn chơi được với người ta, phải biết bỏ kiểu chơi của mình. Từng bước chân Lành đi qua đều phạm sai lầm. Sai lầm nghiêm trọng nhất là không chịu thay đổi, không thích nghi theo luật chơi kiểu mới. Anh Phú nói làm nghề đều có các ngón nghề của nó. Lành đều biết cả nhưng lại không thể giở ngón nghề ấy ra. Hơn hai năm làm phó nhỏ cũng giúp Lành nhận ra được những thứ phi đạo đức, lưu manh, mất dạy mà theo như anh Phú nói Lành cần phải học để lớn lên. Vậy con người phải biết chấp nhận, bái nó làm thầy; một ông thầy mất dạy để mình trưởng thành. Có thể lắm. Anh Thắm bảo Lành phải cải tiến khuôn mặt, phải biết sấp mặt để sống. Anh Phú bảo khó đấy, khó cũng phải học. Lành thở dài, úp mặt xuống gối, không biết sao nữa. Lành nghĩ đến mẹ mình ở nhà. Bà đã cho Lành tất cả, không đòi hỏi, không lấy đi thứ gì của Lành mà chỉ bồi đắp thêm. Bà đếm từng ngày dõi theo con. Bà muốn con mình ở nhà no đói có nhau. Bà lo sợ bởi những điều ông thày bói đã báo trước. Từ ngày lên Hà Nội, Lành về nhà đúng hai lần. Lành xét thấy, mỗi một lần về lại làm mẹ Lành lo lắng nhiều hơn. Lành nói dối đã học được nghề mộc, có thể đóng được tủ búp-phê nhưng chưa uốn được cánh cong. Thay vì mừng thì bà càng lo lắng hơn. Lành không hiểu được nhưng lòng mẹ thì Lành hiểu được. Từ đó, Lành không về nhà dù rất muốn, tất cả nhờ anh Phú qua lại, tin tức cho mẹ Lành biết nhưng những tin ấy có tới 80% là do anh Phú tự bịa ra cả.
Lành nằm dang cả hai chân, hai tay trên chiếc giường gỗ ọp ẹp trong căn phòng cho thuê nhỏ hẹp, vô tình đặt tay lên chiếc túi xách. Chiếc túi bằng ni lon trông rất đẹp. Lành nằm đó giơ chiếc túi lên ngắm nghía rồi đặt nó lên ngực.
Lành nhớ lúc ấy, anh đã làm xong các thủ tục thanh toán chỗ ông chủ Xuyền. Lành đứng lên định ra về thì anh Phú mới nhớ ra, mở túi hành lý của anh ấy lấy ra vật này. Anh nói:
“Suýt nữa tôi quên mất. Chị Quế Chi tặng chiếc áo len này cho anh. - Phú đặt nó lên mặt bàn. - Chị nói, chị đan chiếc áo này cho ông Xuyền nhưng ông ấy không mặc. Ông ấy chỉ thích mặc áo lông Đức. Chị Quế bảo Lành đáng được mặc chiếc áo này”.
Nói rồi anh nhìn Lành chằm chằm. Lành cũng nhìn chằm chằm vào chiếc túi và không khỏi ngạc nhiên, lúng túng. Anh Phú cười toe toét:
“Ông là người cực hên! Hên lắm Tân ạ! Đúng là ông Xuyền không đáng được mặc nó. Người như ông ấy chỉ đáng khoác bao tải”
“Sao chị ấy lại tặng nó cho tôi. Có đúng là cho tôi không?”
“Không nhầm đâu. Nhận đi. Lòng tốt của con người nhiều lúc khạo lắm, có lúc lại rất không đúng chỗ. Nhưng ông thì không. Rất đúng chỗ. Tôi làm cho vợ chồng chị ấy mười mấy năm nay, có bao giờ chị thèm để ý tới tôi đâu. Biết bao nhiêu thợ mộc ra vào cái xưởng này cũng có ai được quan tâm như thế đâu. Tiền lương của anh còn nguyên, có sứt mẻ đồng nào đâu? Chị hỏi tôi rất nhiều về ông. Tôi cảm giác lòng tốt có cái gì đó rất giống như cổ tích. Ông í. - Anh Phú chỉ vào mặt Lành nói. - Ông rất đúng với câu thánh nhân đãi khù khờ”.
“Chắc là chị ấy thương hại tôi”.
Anh Phú cười hắc hắc:
“Thương hại à? Thương hại một anh Rang à? Có thể. Nhưng chỉ là một loại thương cửa miệng thôi. Thế gian này cửa miệng vô cùng rộng lớn. Ông cũng biết mà. Thôi nhận lấy đi. Lòng tốt của chị Quế thì không nên từ chối”.
Lành cứ ấp cái túi nhỏ xinh xinh ấy vào ngực rồi quyết định mở nó. Lành ngồi hẳn dậy, lấy chiếc áo ra.
Một chiếc áo len cổ lọ màu xanh dương rất là đẹp, mềm, xốp. Nó được bọc rất kỹ bằng hai lần túi ni lông. Khi cậu mở miệng lớp túi ngoài thì trong đó có mùi thơm giống hệt mùi thơm hôm chị chở cậu đi chợ. Lành lại cho nó vào, sợ mất cái mùi thơm ấy. Có một lần anh Phú bảo Lành đi theo anh đến nhà chủ Xuyền lấy một chiếc ghế đem đến xưởng sửa chữa. Đoạn phố Huế nhà chủ Xuyền ở, bóng cây rợp như một khu rừng. Ở nhà quê cũng chẳng thấy nơi đâu đẹp như con đường này nhưng đông người quá. Mỗi một lần anh Phú đi chậm, len lỏi Lành toàn ngửi thấy mùi người, quá nhiều làm cho Lành buồn nôn. Đến nhà ông Xuyền, anh Phú hất đầu về phía cuối con đường, bảo:
“Đi một đoạn nữa là đến Chợ Giời”.
Dù ở quê nhưng Lành cũng nghe nói đến Chợ Giời nhưng chưa bao giờ Lành đến đó và cũng không muốn đến đó. Như có hẹn, một người phụ nữ ra mở cửa. Nhà chủ Xuyền mặt khá nhỏ, mở một cái cửa nhỏ ra vào. Phần còn lại bày chiếc tủ kính. Bên trong xếp đầy các cuộn len đủ các màu sắc. Anh Phú cùng người phụ nữ đó đi vào bên trong, một lúc thấy chị Quế tươi cười đi ra. Chị mời:
“Vào nhà đi em”.
Thấy Lành cứ đứng, chị lại giục:
“Vào đi, không sợ mất xe đâu”
“Mất thì anh Phú giết chết em”
Chị Quế cười, đưa mắt vào trong nhà. Người phụ nữ lúc nãy đi ra. Chị Quế nói:
“Em vào đi. Xe để chị Thu đây trông hộ”.
-Chị Thu không đi ra, chỉ cần đứng tựa vào cửa nhìn ra ngoài đường phố mênh mông người qua. Sau này Lành biết chị là người giúp chị Quế bán hàng ở nhà, phụ giúp chị cơm nước, dọn dẹp, lau rửa căn hộ luôn chân luôn tay.
Anh Phú bê chiếc ghế long mộng ra ngoài. Lành được chị Quế giữ lại trong nhà. Tường nhà, trên giá treo đầy các loại áo len được bọc trong túi ni lông. Trong khi Lành nhìn khắp lượt các dãy áo len thì chị Quế khoanh tay vào ngực mà ngắm Lành. Lành nhìn rất lâu một chiếc áo len màu xanh rất đẹp. Chị nói rất nhỏ:
“Để lúc nào chị đan cho em một cái”.
Anh Phú thò cổ vào, giục: “Đi thôi ông tướng”. Lành chào chị rồi đi ra, mùi thơm từ chị bay theo, ra đến tận đường phố đầy mùi người và mùi xe cộ.
*
Đêm hôm ấy Lành thao thức rất lâu. Ngày mai anh sẽ ra chợ người và hy vọng sẽ có người thuê anh làm một việc gì đó. Hy vọng làm công nhân nhà nước chưa hẳn đã tắt nhưng Lành biết nó vô cùng khó khăn. Thời kỳ này, một phần thế giới tan rã. Liên Xô biến động. Số lao động ở Đông Âu tràn về Việt Nam càng làm cho thị trường lao động trong nước thêm khó khăn nhưng nó cũng đem lại một luồng gió mới. Tư duy mới, cách làm việc Tây, suy nghĩ Tây, lối sống Tây. Lành cũng là người chăm chỉ đọc báo. Ở New Homs, ông Xuyền mỗi tuần lại đem một chồng báo đến, đủ loại từ báo đến tạp chí. Anh Phú bảo, ông
Xuyền lấy từ phòng Cốp. Cốp ít khi đọc báo. Ông Xuyền không đọc báo. Ông đem báo đến để gói những chiếc quan tài đã hoàn thiện. Ông bảo mọi cửa hàng Lâm sản của nhà nước bán hàng kiểu độc quyền, không coi trọng sản phẩm cũng coi thường cả khách hàng. Bán một cỗ áo quan theo giấy giới thiệu, người mua nộp tiền, lấy hóa đơn rồi xuống kho để lĩnh. Xuống kho, thủ kho cũng biết cách xoay khách hàng một ít tiền để cho họ được chọn cái tốt hơn. Ông Xuyền tuyên bố sẽ nuốt chửng các xưởng của nhà nước bằng cách chăm sóc khách hàng tốt hơn, quan tài tốt hơn, giá phải chăng hơn. Ông nhập quan tài đối ứng cho các kho Lâm sản đều bằng gỗ tươi, chỉ vài hôm là các mối ghép hở toang hoác. Các ván ghép gỗ co lại để lộ ra chỗ keo dán trộn với mùn cưa. Tất nhiên là để lộ kiểu làm ăn gian dối giữa các liên doanh. Để giết Quốc doanh, ông Xuyền cũng góp một nhát dao đâm vào lưng cơ chế.
Số báo mà ông Xuyền đem tới để bọc quan tài đã đánh véc ni, hoặc sơn PU rồi chuyển đến các cửa hàng tư nhân đã đem đến cho Lành những tin tức từ khắp mọi nơi, mọi ngành và tình hình trật tự xã hội. Anh Phú thích đọc các bài xã luận trên báo Nhân dân. Anh bảo những tay viết xã luận nhà nước nuôi cơm cũng không vô ích. Anh Hồng thích xem ảnh. Những chiếc ảnh đẹp, nhất là ảnh Tạp chí đăng các cô gái ăn mặc gợi cảm, hở hang. Anh ngắm nghía rất lâu, đưa lên môi hôn vào chỗ kín của các cô rồi cười phá lên. Anh Thắm chỉ tìm đọc các chuyên án cướp bóc và hiếp dâm. Đọc xong anh khen: “Giỏi, bọn này rất giỏi”, rồi anh chê: “Phải mất bao nhiêu người mới bắt được một đứa phạm tội. Bao giờ một công an bắt được một tội phạm thì công an mới giỏi”. Anh Phú bĩu môi:
“Mày nói dở bỏ mẹ. Công an đại diện cho pháp luật luôn luôn đứng dưới ánh sáng, còn bọn tội phạm luôn luôn núp trong bóng tối. Vì thế phải tốn nhiều công, nhiều người mới bắt được chúng. Khó lắm chứ tưởng à.”
“Thế cá chìm không phải là bóng tối à? - Anh Hồng bênh anh Thắm - Nói để cho ông Phú biết, ý thằng Thắm nói công an mà giỏi thì một bắt một.
Tiền phá án nhiều, huy động cả chìm cả nổi có khi không bắt được đứa nào. Tức là chưa giỏi, lại tốn bao nhiêu là tiền”
“Nói chuyện với hai thằng chúng mày chán bỏ mẹ. Toàn nói chày cối thôi”.
Anh Phú nói xong liền bỏ đi.
Khác với các anh, Lành thường đọc tất. Thượng vàng, hạ cám đều đọc. Anh quan tâm nhiều nhất các báo viết về những người công nhân, những điểm sáng trong kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Thời gian này, thỉnh thoảng Lành có đọc được các bài viết về kinh tế tư nhân và báo giới cũng gọi nó là điểm sáng, có khi tác giả còn vui tay viết rằng kinh tế tư nhân sẽ là động lực, tác động và lôi kéo kinh tế nhà nước. Điên. Ở đâu không biết nhưng vai trò cá nhân là vô hiệu. Vai trò tập thể mới là chính thống. Thắng cùng hưởng, thua cùng chịu. Lành nghĩ thế. Anh Phú thấy Lành chăm đọc và hay để ý đến các bài báo viết về lĩnh vực kinh tế. Anh dặn đừng bao giờ tin thằng tư nhân. Chúng chỉ nghĩ đến lợi nhuận thôi. Lành nghĩ New Homs cũng là mô hình kinh tế tư nhân. Nhưng Lành thấy rờn rợn. Ngày còn trong quân đội Lành rất thích nghe chính trị viên Đại đội nói chuyện. Ông thường hay trích dẫn câu nói của triết gia người Đức: “Khi bạn cứ nhìn chằm chằm vào vực thẳm, vực thẳm sẽ nhìn lại bạn”, rồi ông lấy luôn một trong mười bốn điều răn của Phật “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” ghép luôn vào câu nói của Nietzsche để giải thích. Lành không nghĩ như thế. Có thể Lành không nhìn thấy kẻ đối đầu trong mình là ai. Lành không nhìn thấu được cái bên trong mà chỉ thấy những hình ảnh thực, ba chiều. Lành cứ nhìn chằm chằm vào các công ty của nhà nước, về “những ánh sao đêm” của các thợ hàn. Lành yêu công việc của người thợ như người nhạc sỹ yêu âm nhạc và yêu cuộc sống này. Nhưng các công ty cũng im như vực thẳm, không có tiếng động, sâu thẳm, cô độc, tàn nhẫn, kỳ bí và chết chóc. Một cái vực rỗng không và Lành cũng tan biến vào cái trống không ấy. Nhìn lâu quá, hy vọng quá khiến cho Lành thất vọng như ngày hôm nay vậy. Anh Lục chấm một dấu chấm hết của biết bao hy vọng, của cả một đêm dài thao thức trằn trọc cái mong ước giản dị, bé nhỏ, phổ thông nhưng có thể sánh với những công trình vĩ đại nhất, văn minh nhất của loài người. Các kiến trúc ba chiều đổ vỡ không cho Lành bất kỳ một hy vọng mong manh nào như một mình giữa đại dương hay tận cùng đáy vực sâu thẳm đến vô cùng.
Hy vọng. Thất vọng. Rồi lại hy vọng. Lành cứ nằm như thế. Anh ôm chiếc áo vào ngực. Mùi thơm từ những khe hở li ti thăng hoa. Lành sợ chúng bay đi hết anh liền nằm úp lên chiếc áo. Tự nhiên anh không còn thấy gì ngoài sự liên tưởng với những điều có thực. Anh hoàn toàn nghĩ đến chị Quế. Chiếc áo này nếu bí tiền, Lành có thể đem bán nó. Vừa nghĩ đến đấy Lành liền lấy bàn tay vả vào má mình đau rát. Một suy nghĩ tầm thường vụt đến khiến cho Lành xấu hổ và cả khổ tâm nữa. Nếu phải chết đói, Lành sẽ ôm trọn chiếc áo này vào trong lồng ngực. Không, Lành sẽ mặc nó vào người, lần đầu, mới tinh và nhẹ nhàng bay đi.
Lành cũng muốn mặc thử chiếc áo một lần, thử thôi rồi lại cởi nó ra. Lành muốn xem kỹ từng đường kim với lực căng đều xem chúng có như nhau cả không. Lành chắc các lỗ xâu mũi kim chặt chẽ như nhau, nhỏ xíu, đều đặn như mắt chiếc dần sàng cám mà mẹ Lành ở nhà thường dần gạo. Lành nhớ lại từng cử chỉ của chị. Con gái Hà Nội nhỏ nhẹ và tinh ý vô cùng. Lành hiểu chị mang nét văn hóa đặc biệt, khác với những nét văn hóa riêng biệt của những vùng văn hóa khác nhau. Lành hâm mộ chị. Văn hóa nào thì đạo đức ấy nhưng chị vẫn giữ được cái nét đặc sắc ấy, không bị bào mòn, không dễ bị đánh đổi mà nó uyển chuyển thích ứng nhưng vẫn toát ra cái thứ mùi thơm của Hà Nội. Chị gái Lành nhận xét Hà Nội đã bị đồng hóa hết rồi. Lành nghĩ văn hóa Hà Nội nghìn năm còn ít mà nó còn mãi muôn đời. Chị gái Lành bảo con gái Hà Nội bây giờ để cả giầy đi ngủ không cần rửa chân. Lành nghĩ nước Hà Nội sẽ làm cho những bàn chân ấy dần trở nên sạch sẽ. Lành tin cốt cách của Hà Nội là thứ văn hóa tinh hoa, một thứ tôn giáo luôn được sùng kính như Chúa lòng lành. Đất ở đây, nước ở đây lại thấm dần vào mọi con người đến từ mọi vùng miền như một thứ đức tin, dù họ vẫn giữ phẩm cách văn hóa bản địa, làm cho văn hóa Hà Nội càng phong phú thêm lên. Lành ôm chiếc áo vào ngực, hai mắt nhắm lại. Lần đầu tiên Lành ước ao được mơ thấy chị Quế, một cuộc mơ mất dạy như của anh Thắm, và Lành mơ thật. Lành mơ phải một cuộc rượt đuổi kinh hoàng. Lành bị một con chó ngao đuổi cắn. Lúc tỉnh dậy, toát cả mồ hôi và lúc ấy thấy xấu hổ trong lòng.
*
Lành khát nước, dậy tìm nước uống. Không có nước. Lành nhớ ra đã qua một ngày anh không ăn gì. Mọi khi, mỗi lần đi ăn cơm, quán cơm bình dân đầu ngõ chủ yếu dành cho những người lao động, Lành xin một ít nước, đóng vào chai nhựa đem về để uống. Lành không đi ăn cơm, cũng không có nước để uống. Đói bao giờ cũng đi theo với khát. Cơn khát hành hạ khổ sở hơn cả đói. Có lúc Lành nghĩ sang căn phòng trọ bên cạnh xin ít nước nhưng không nghe thấy tiếng động, không có biểu hiện người có nhà. Anh tụt người xuống, mở cửa rồi bước vào nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh chỉ đủ cho chiếc bồn cầu nên các thao tác đều phải đứng mà chỉ đứng được một nửa. Nửa phía sau phải khom người xuống, không khéo sẽ đội đầu vỡ tấm bro-xi-măng lợp dốc xuống. Anh không thể nào cúi xuống vòi nước lắp phía dưới, cũng không thể cúi xuống vớt nước trong lòng bàn tay đưa lên để uống. Lành quay lại giường lấy chiếc chai nhựa rồi đứng ngoài thò tay qua vặn chiếc van bằng đồng gỉ xanh lè. Lành uống no bụng cho thỏa cơn khát nhưng nước không thể chống đói được mà chỉ làm cho anh thêm mệt. Người anh rã ra, các cơ bắp cũng mềm nhũn ra. Lành ngước nhìn túi mì tôm cân treo lủng lẳng sát tường vách chống lũ chuột. Lũ chuột ngang nhiên và cũng thật tự nhiên chạy đi chạy lại bên dưới chân anh. Một con còn ngang ngược đứng lại nhìn anh chằm chằm, đưa hai chân trước lên vuốt chiếc mõm nhọn như muốn khiêu khích anh, cười khẩy. Lành giơ chân lên đuổi nó. Mày là khách không mời. Đồ con chuột. Cút! Con chuột không thèm chạy như muốn cà khịa với anh, như muốn quát vào mặt anh. Này! Anh kia, thanh niên trai tráng gì mà đến tranh giành nhà của chúng tôi. Lành nhìn con chuột bỗng nhiên thấy thú vị. Phải, tao là thanh niên. Tao là trai tráng nhưng tao có hơn gì lũ chúng mày, thậm chí còn đói bụng hơn chúng mày. Đây là nhà tao thuê. Tao trả tiền. Nó là nhà của tao. Cút! Lành co chân lên định giẫm thẳng vào con chuột thì nó nhanh hơn, lủi mất dưới gầm giường, vừa chạy vừa chí chóe chửi giả.
Lành đứng tần ngần nhìn gói mì tôm trần truồng, thứ mì tôm không đủ tiêu chuẩn đóng gói. Nó được đóng chung vào một bịch lớn và là thứ mì kí yêu thích của cánh lao động. Lành rất thích ăn thứ mì tôm có mùi khét của dầu. Thỉnh thoảng anh mua một túi về ăn sống. Cái vị ngầy ngậy và cái mùi gây gây của mì tôm sống làm cho anh gây nghiện. Lành tần ngần muốn gỡ nó xuống tổng kết nhưng rồi anh nghĩ mình chịu khó nhịn. Nếu ngày mai chưa có việc làm anh sẽ cần đến nó. Bây giờ đang là buổi tối. Giấc ngủ sẽ ru ngủ cái đói, cho nó ngủ yên không đòi hỏi, kêu gào, tranh đấu đòi quyền được no bụng. Anh nằm xuống giường, không cả buông màn. Anh nghĩ mình phải liên tục nghĩ để quên đi cái đói, quên anh Lục đi, quên công nhân nhà nước đi. Anh sẽ mãi là công nhân tự do, muốn làm cái gì thì làm, không ai ép buộc. Vực thẳm nhìn anh. Anh nhìn anh. Mình còn căng tràn sức trẻ, thời gian còn dài lắm, chỉ là xã hội không biết dùng nó thôi, bỏ phí nó trong phòng trọ rẻ tiền này. Trẻ, sức trẻ... con chuột... thanh niên trai tráng... Lành chìm vào trong giấc ngủ, có thể là anh mê đi hơn là giấc ngủ đằm sâu. Anh đang nằm giữa mấy triệu người Hà Nội. Mấy triệu người Hà Nội cũng đang nằm trong lòng anh, giống như vực sâu nhìn anh. Anh không nhìn thấy kẻ thù của chính mình như lời của Đức Phật mà cái vực thẳm vô hình kia mới chính là cái anh cần chinh phục, bắt nó phải nhìn anh, thấy rõ việc nó cần phải làm để sao cho mỗi con người không có hố vực, không tác động, không làm phiền, không phải là hai, không bên ngoài nhau.
Một tiếng nổ bục. Lành tỉnh người và thấy đau nơi ổ bụng. Anh đưa tay sờ vào nó thấy nó nổi cục và đang chuyển động. Anh vuốt nhẹ, từ từ như dỗ dành, cảm thông với bộ ruột rỗng. Nó cũng như Lành, nó cũng cần ăn, cần làm việc. Nó làm việc cần mẫn suốt 24 giờ/ngày, không ngưng nghỉ. Nó cần được làm việc, đó là công việc tự nhiên lập sẵn. Nó cất tiếng và phản ứng lại trước những bất công dành cho nó. Lành vuốt nhè nhẹ, êm mượt như ru giống như bàn tay xoa lưng của mẹ Lành, như có phép màu cũng như không có phép màu nào xảy ra, chỉ có sự tin tưởng, sự an tâm và an toàn nhất khi nằm trong lòng mẹ.
Không có một tiếng động nào xung quanh. Chỉ nghe tiếng ì ì hòa chung rất nặng của thành phố nhưng nó xa hơn nhưng nghe rõ hơn lúc nào hết. Là những tiếng động của công trường, nhà máy đang làm ca đêm, có cả tiếng ngáp dài của gió trong con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo. Tiếng căng công suất phát thành tiếng ro ro của những ngọn đèn đường soi tỏ những bước chân ai còn lạc bước đi trên đường phố khuya khoắt. Tiếng xe máy cô đơn của những người thức chuẩn bị hàng cho thành phố lúc rạng đông. Tiếng phì phò thở của những con tàu vừa về nhà nó là ga Hàng Cỏ. Lành lắng nghe tất cả những âm thanh ấy. Vui buồn lẫn lộn.
Anh tiếp tục mê đi trong giấc ngủ mà như anh đang thức. Anh nhìn thấy chị Quế Chi. Chị đang làm gì ở đây? Lành thấy chị đang đứng trước một căn nhà bếp ốp lát bằng gốm sứ cao cấp. Kệ bếp lắp bằng đá hoa cương lấp lánh. Chị đang đứng trước chiếc bếp cũng bằng sứ. Chị đang xào nấu một món ăn nào đó, mùi thơm Lành không nhận ra nhưng nó rất thơm và rất thèm. Chị vặn bếp cho nhỏ lửa rồi dùng chiếc muỗng mạ bạc múc từ trong nồi, đưa lên miệng thổi cho nguội, từ từ quay lại.
Lành thấy chị tươi cười nhìn Lành. Ánh mắt như hai vì sao trong một đêm hè. Gió mát đầy mùi thơm của gió. Chị đưa muỗng cho Lành nếm thử. Anh ngập ngừng hé miệng mắt vẫn không rời chị Quế. Lành húp nước trong lòng môi. Một thứ nước ngậy, ngọt và rất thơm nhưng nó thấm rất nhanh trong miệng Lành. Nó như một chút nước vãi xuống một biển cát trắng khô nóng. Lành kêu lên ngon quá! Chị Quế cũng đưa chiếc muỗng lên miệng của mình hớp nốt phần nước dính trong lòng môi. Chị gật gật có vẻ thỏa mãn. Chị quay lại bếp, với chiếc lọ, dùng ngón tay dài và trắng đập đập lên đít chiếc lọ. Lành không biết chị rắc thứ gia vị đó là gì. Trong người anh bỗng cuộn lên một thứ tình cảm rất kỳ lạ. Có vẻ như trong anh vừa thay vào một thứ máu mới, hoàn toàn mới và khác lạ. Anh không thấy mình là một đứa trẻ so với chị mà ngang hàng với chị. Lành định ôm lấy ngang lưng thì chị nhẹ nhàng dịch ra, xoay hơi nghiêng người lại nhìn Lành, khóe miệng khẽ mở. Một nụ cười nghiêng nghiêng thoát ra không một tiếng động. Tim anh dập dồn như sóng va vào vách đá. Những nhát tim đập hồi hộp đầy hưng phấn không còn chút e ngại. Lành muốn ôm lấy chị. Anh ôm trọn chị vào lòng lắng nghe hơi thở của chị. Cảm giác da thịt tiếp xúc sẽ làm cho anh mê đi, cũng giống như một vết thương đau giờ không còn đau nữa, khoan khoái khỏe mạnh đến kinh ngạc. Cảm giác này cũng không bằng, và hoàn toàn không giống với cảm giác va chạm của người khác giới; có thể coi nó như luồng điện, một thứ điện không giống như dòng điện thắp sáng căn phòng. Lành không biết tả nó thế nào mà thấy ngập tràn hạnh phúc trong lòng. Chị Quế nói mình ăn cơm thôi. Lành nghe rõ tiếng “mình” êm ái, như một chiếc công tắc ấn vào nút ON và đem đi sự hưng phấn cũ nhưng lại đem đến một niềm vui mới, dễ chịu vô cùng.
Chị nhẹ nhàng lướt đi bên chiếc bàn ăn dọn ra rất nhiều món ăn mà Lành thích. Lành cố gắng ăn một cách chậm rãi, từ tốn và lịch sự nhưng anh không thể nào kiềm chế được sự vội vã, liên tục gắp thức ăn và nhai. Chị Quế không ăn, chị ngồi gắp thức ăn cho Lành như ngày nào, như cái bữa cơm một lần, duy nhất tới tận bây giờ mà Lành không bao giờ quên. Lành ngước nhìn chị rồi khẽ hỏi:
“Sao chị biết em ở đây mà tìm?”.
Chị Quế không trả lời, khẽ đưa mắt sang chiếc ghế để không ở đầu bàn. Lành nhìn theo bỗng nhiên thấy Nhân Huệ Vương đang ngồi ở đó. Lành giật mình không hiểu chuyện gì xảy ra. Chị Quế nói tiếp đó là do Ngài chỉ cho chị đó. Nhân Huệ Vương nhìn Lành bằng ánh mắt nghiêm nghị. Ngài nói:
“Con nhìn xem. Các món ăn mà chị Quế làm đều được chế bằng mì tôm cân. Con phải ăn đi, đừng nhịn đói. Nếu không ăn con sẽ sinh lười biếng, ỉ lại. Khi không còn cái gì để ăn buộc người ta phải đi kiếm để ăn”.
Lành nhìn xuống bàn ăn thấy các thứ chị Quế dọn ra giờ chỉ có mì tôm. Những sợi mì tôm vàng, xoăn lại và mùi mì tôm là của mì tôm. Mùi thơm khi nãy không còn và chị Quế bỗng dưng biến mất. Lành ngẩn ngơ trong lòng. Mới cách đây ít phút, chị còn ngồi đó. Lành ăn no rồi sẽ xin phép chị nằm gối lên đùi chị mà ngủ, giống như trận mơ trước, cái lần Lành bị hai anh bỏ vào quan tài Lành đã mơ thấy chị, ngủ trên đùi chị, lắng nghe tiếng lòng của chị và mùi thơm từ chị ngan ngát bay cùng mây trắng, đưa Lành đi khắp mọi nơi, lên xứ sở phiêu đãng, chỉ có hai người đàn ông và đàn bà trong khu vườn thánh.
Tiếng của Nhân Huệ Vương vang lên:
“Khi Chúa sáng tạo ra loài người, Người rất vụng do hà tiện. Eva được tạo ra bởi xương sườn Adam. Đàn bà sẽ mãi thuộc về đàn ông. Giá như hai người đừng ăn táo mà chỉ hít khí trời để sống thì hệ tiêu hóa của con người ngày nay sẽ khác. Chúa vụng về đã không nghĩ tới. Giờ ta là người chép sử ngược. Ta chép sử hiện đại. Người hiện đại chép sử cổ đại. Thế giới này cứ xuôi xuôi, ngược ngược đan bện vào nhau không gỡ ra được. Ăn đi! Hãy ăn hết phần mì tôm còn lại. Ăn hôm nay là để tạo sức mạnh cho ngày mai”.
Lành ngơ ngác. Anh đã tỉnh hẳn và không biết mình đã nhổm dậy từ khi nào. Anh đứng lên, tháo túi ni lông, bẻ từng miếng mì tôm cho vào miệng. Trong lúc nhai, tiếng mì tôm giòn, vỡ ra như tiếng kèn vang lên thôi thúc. Vang khắp cơ thể. Râm ran.
(Còn nữa)