Vũ Đảm
LÀNG QUÊ YÊN TĨNH
Tôi hồi hộp đến nỗi phải đứng thở một lúc mới dám gõ của phòng ông Tổng biên tập, cũng phải thôi đây là lần đầu tiên sau hai năm được làm hợp đồng ở tòa soạn báo này, tôi được đích danh ông Tổng biên tập gọi lên giao nhiệm vụ mà không phải thông qua trưởng phòng phóng viên như mọi khi. Hóa ra tôi hơi lo xa, ẩn sau khuôn mặt nghiêm nghị của ông lại là một tấm lòng cởi mở. Ông rót trà mời tôi uống, hỏi han về cuộc sống của tôi rồi giao cho tôi về một tỉnh viết bài về nạn nhân chất độc da cam. Tất nhiên tôi rất vui sướng và nhận lời ngay, tôi muốn chứng minh cho ông, nhất là ông trưởng phòng già gia trưởng của tôi biết rằng, ngoài mấy cái tin ngắn tũn mà tôi được giao viết trong hai năm qua, tôi sẽ viết được những bài ký sự dài.
Theo giới thiệu của Phòng Lao động - Thương binh xã hội huyện, tôi tìm đến một ngôi làng bình yên nằm ven sông Hồng, ở đấy có gia đình người cựu chiến binh có người con trai bị chất độc da cam di truyền từ bố.
Tháng Giêng, ngày cuối tuần, hai giờ chiều, trời mưa ảm đạm, gió thổi tê buốt, điện lại mất thành ra ngôi nhà ngói ba gian của ông Tảo tối om om, ông xách hai cái ghế nhựa bảo tôi ra ngoài hiên ngồi cho thoáng rồi hỏi han gì thì hỏi. Tôi vừa bật máy ghi âm, vừa lấy cuốn sổ và cây bút ra ghi chép. Ông kể, 17 tuổi ông lên đường nhập ngũ, trở thành lính lái xe ở Trường Sơn từ năm 1970 đến khi giải phóng miền Nam thì được về xuất ngũ. Ông cưới cô bạn gái cùng làng, một năm sau, vợ ông sinh ra một người con không tai không mắt, vợ ông đã rú lên, ngất lịm khi nhìn thấy con nhưng cũng chỉ được hai tháng thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông cũng ra đi. Hai năm sau, vợ ông lại sinh ra người con gái có tai có mắt nhưng lại không có tay, rồi nó cũng lại theo anh nó ra đi sau gần một năm sống lay lắt. Thời ấy, chưa ai phát hiện ra ông và hàng vạn người lính bị nhiễm chất độc màu da cam do quân đội Mỹ rải thảm xuống những cánh rừng ở chiến trường miền Nam nên đã di truyền sang con, sang cháu, chứ nếu biết thì ông đã không sinh con nữa. Rồi vợ ông đi hết chùa này, đền nọ để khấn vái, cầu mong sinh được một đứa con lành lặn. Hai năm sau nữa, vợ ông sinh được người con trai trông bầu bĩnh, khôi ngô, vợ chồng ông vui mừng khôn xiết, đặt tên con là Đủ với cái nghĩa có đủ cả tai mắt, chân tay nhưng càng lớn lên nó ngẩn ngẩn ngơ ngơ, thỉnh thoảng lại rú lên từng cơn, từng cơn.
Tôi xúc động, rớm lệ trước cảnh đời của một cựu chiến binh, có ai ngờ trong cái làng quê yên tĩnh này, trong ngôi nhà cũng yên tĩnh này, tiếng bom đạn đã lùi xa 45 năm nhưng tiếng gào thét, tiếng lòng nức nở về hậu quả của chiến tranh thì vẫn còn đeo bám vợ chồng ông và biết bao những người lính như ông đang sống ở làng quê, thành phố.
Vợ ông về, người đàn bà có khuôn mặt đẹp nhưng hằn lên những nỗi buồn vừa đi hỏi thăm người hàng xóm bị ốm. Tôi chào bà, bà chào lại tôi và trách chồng không rót nước mới mời khách. Bà vào nhà, rót mời tôi cốc nước chè xanh hãm trong tích còn nóng hôi hổi. Tôi hỏi ông bà, người con trai đâu, tôi muốn chụp mấy bức ảnh. Bà ái ngại hỏi tôi:
- Cháu có chồng chưa?
- Dạ, cháu chưa có chồng!
- Thế thì ngại cho cháu!
- Dạ không sao, cháu là nhà báo cần phải viết sự thật, cháu không ngại gì cả.
Người cựu chiến binh dẫn tôi đến một căn phòng nhỏ được xây ở gần bếp. Cửa mở he hé, điện mất nhưng theo thói quen, ông vẫn bật công tắc điện. Ông kéo hết cánh cửa, nói với tôi, nó đấy, năm nay cũng đã bốn mươi tuổi rồi. Tôi nhìn vào, suýt nữa thì tôi đã hét lên vì kinh hoàng, trong căn phòng hôi hám, rộng chừng 5 m2 là một người đàn ông béo tốt, trần truồng, chân bị xích bởi một dây sắt. Tôi khóc nức nở, hỏi ông sao không mặc quần áo cho anh ấy, ông bảo cứ mặc vào nó xé hết. Tôi lại hỏi sao lại xích chân anh ấy, ông bảo không xích, nó nhảy xuống ao, mấy lần được người đi đường nhìn thấy truy hô chứ không nó chết đuối lâu rồi; rồi khi lên cơn, nó không chỉ gào thét mà còn vớ được cái gì là phang người cái nấy. Ông chỉ vào cái chân tập tễnh của mình, bom đạn không dám đụng đến người ông nhưng ông vẫn bị “thương binh” do con trai mình cầm dao chém. Tôi xin phép ông chụp mấy tấm ảnh, tôi không dám lấy trực diện mà chọn góc đo lấy từ phía sau, phía nghiêng.
Có tiếng còi ô tô bim bim ở ngoài đường, người đàn ông bước xuống từ chiếc xe BMW đời mới đi vào, miệng Nam mô A đi đà Phật, giới thiệu ông là doanh nhân ở Hà Nội, về nhờ thầy bói ở làng bên cúng sao giải hạn, thầy bói có giới thiệu sang đây làm từ thiện. Ông móc túi ra lấy bốn tờ năm trăm ngàn đưa cho vợ người cựu chiến binh, bảo có chút quà tặng gia đình. Ông đưa chiếc điện thoại di động nhờ tôi chụp cho kiểu ảnh ông trao tiền. Xong, ông hỏi tôi làm gì mà xinh thế? Tôi nói tôi là nhà báo ở Hà Nội về đây viết bài. Ồ thế à, có về Hà Nội thì chú cho đi nhờ. Tôi cảm ơn ông, xong việc rồi, tôi cũng muốn về Hà Nội ngay. Ông cũng vào thăm nạn nhân chất độc da cam và lại cũng nhờ tôi chụp cho vài kiểu. Ông nhoay nhoáy trên chiếc di động mới tung ra trên thị trường, chiếc Galaxy S20 Ultra có camera 108 megapixel, zoom số tới 100x với giá bán 1.399 đô la, xong đưa cho tôi xem, thì ra ông úp mấy tấm ảnh trao tiền và thăm nạn nhân lên Facebook với tiêu đề: “Thăm và tặng tiền cho nạn nhân chất độc màu da cam”. Ông hỏi tôi có chơi Facebook không, tôi đáp có, ông bảo tôi đọc nick để ông kết bạn. Lúc chuẩn bị ra về, ông nói với vợ chồng cựu chiến binh:
- Nam ô A di đà Phật! Đời đều có luật nhân quả, con anh chị chắc kiếp trước làm nghề sát sinh mổ lợn nên kiếp này bị báo oán phải trần truồng như lợn! Anh chị nên năng đi chùa, tụng kinh niệm Phật!
Tôi sững sờ trước câu nói của ông doanh nhân, còn người cựu chiến binh thì tái mặt vì giận dữ, ông thọc tay vào túi vợ lôi ra bốn tờ năm trăm ngàn ấn vào tay ông doanh nhân:
- Tôi và bao người lính đã hy sinh tuổi trẻ của mình vì dân vì nước, bị nhiễm chất độc da cam của giặc Mỹ nên di truyền cho con cho cháu chứ ăn ở thất đức gì mà nhân với chả quả? Mời ông ra khỏi nhà tôi.
Ông doanh nhân lại Nam mô A di đà Phật, gọi cậu lái xe đang đái tòm tõm xuống ao, mở cửa xe đưa ông về Hà Nội, bỏ quên cả tôi, khiến tôi phải nhờ một bác hàng xóm chở ra phố huyện, bắt xe khách về Hà Nội.
Tôi tưởng ông doanh nhân đã quên tôi nhưng không, ba ngày sau, khi tôi đã viết xong bài ký sự về nạn nhân chất độc da cam thì ông nhắn tin tôi trên Facebook, mời tôi đến công ty Xây dựng - Bất động Thiên Văn của ông chơi. Tôi không ưa gì loại người trưởng giả học làm sang như ông nên từ chối. Ông lại nhắn thế báo tôi có quảng cáo không, đến ông ký cho vài số. Cái này thì tôi đành nhận lời ông, tòa soạn báo tôi là báo ngành, tự hạch toán, trước sự bùng nổ của báo mạng và các trang mạng xã hội đã làm cho báo in ngày càng ít người đọc vì vậy tài trợ, quảng cáo là nguồn sống quan trọng của tờ báo.
Phòng làm việc của ông doanh nhân thật sang trọng, cái gì cũng mua từ châu Âu, ông Tổng biên tập báo tôi có nằm mơ cũng không bao giờ có được. Xem xong báo giá, ông bảo tôi viết vào hợp đồng đi, ông sẽ cho tôi mỗi tuần một cái quảng cáo chạy trong ba tháng liền, mỗi cái cho giá cao nhất in ở bìa cuối. Tôi chưa hết ngạc nhiên vì bất ngờ, vì sự hào phóng của ông thì ông lấy cái phong bao đặt vào tay tôi, bảo thưởng riêng cho tôi hai ngàn đô.
- Cháu có chồng chưa?
- Dạ chưa!
- Nhưng chắc có người yêu rồi chứ
- Dạ rồi nhưng chia tay hơn năm rồi ạ!
Ông hỏi tôi tại sao chia tay, tôi trả lời vòng vo, ông bảo người như ông mà không tin thì còn tin ai. Tôi nể ông mới nói thật là người yêu cứ đòi hỏi tôi phải dâng hiến nên tôi chia tay. Ồ, ông thốt lên vẻ thú vị, rồi đi lại tủ, lấy thêm đô la, ngồi cạnh tôi:
- Thưởng thêm cho cháu tám ngàn đô nữa vì sự trong trắng! À, mà lương cháu bao nhiêu một tháng nhỉ?
- Dạ, thu nhập của cháu gần bốn triệu một tháng.
Ông doanh nhân bảo chả đủ tiền ông uống cafe suông, ông hỏi tôi nếu thích ông sẽ nhận về đây làm thư ký riêng cho ông, trả lương gấp mười lần. Tôi chưa kịp trả lời thì ông đã lùa tay vào váy tôi. Tôi giận dữ hất tay ông ra:
- Chú làm cái trò gì thế?
- Ồ, cô bé nhà báo, ở đời không ai cho không ai cái gì cả!
À, ra thế, tôi đã hiểu được bộ mặt thật của ông, hợp đồng quảng cáo, phong bao thưởng riêng cho tôi là nhằm múc đích lên giường với ông. Tôi vứt lại chiếc phong bao, xé toang tờ hợp đồng quảng cáo rồi đi như chạy ra khỏi phòng ông.
Đêm ấy, tôi thức trắng vì căm giận, vì buồn, vì thất vọng vào một gã doanh nhân miệng lúc nào cũng nam mô A di đà Phật. Một kẻ như lão thì chỉ có thể làm giàu bất chính, dùng tiền lấy đất của dân, đền bù với cái giá rẻ mạt mà thực chất là cướp đất của dân rồi san nền, xây nhà bán với giá cao ngất ngưởng. Tôi lôi máy tính xách tay ra đọc đi đọc lại hàng chục lần bài ký sự về nạn nhân chất độc da cam, càng đọc càng thấy có cái gì đó không ổn. Sáng hôm sau, tôi lên gặp ông Tổng biên tập:
- Chú cho cháu xin rút lại bài ký sự.
Ông tổng biên tập trợn tròn mắt:
- Bài và ảnh của cháu rất thật, rất xúc động cơ mà?
- Vâng vì nó rất thật nên bạn đọc và nhất là những người lính Mỹ năm xưa họ sẽ không thể tin nổi chất độc màu da cam lại gây ra những hậu họa khủng khiếp như thế!
Ông Tổng biên tập gật gật đầu, quả là khủng khiếp. Tôi nói tiếp có những sự thật, cần phải khép lại để hướng về tương lai nhưng cũng có những sự thật cần phải được công khai, còn nếu bị bao che, đàn áp thì sẽ gây nên những hậu quả thảm khốc. Ví như đại dịch viêm đường hô hấp cấp ở Vũ Hán - Trung Quốc do virus Corona chủng mới gây ra, nếu như chính quyền cho mời bác sĩ Lý Văn Lượng - một trong những người đầu tiên cảnh báo về loại virus chết người này cho đồng nghiệp qua mạng - và các chuyên gia lên để biết sự thật rồi tìm cách chữa bệnh, cách ly bệnh nhân và những người tiếp xúc với các bệnh nhân ngay rồi báo cáo về tỉnh, về trung ương thì đã không gây ra thảm họa cho Trung Quốc và thế giới, khiến cho hàng triệu người bị tử vong và hàng trăm triệu người nhiễm bệnh; không những thế gây tổn thất hàng tỷ tỷ đô la cho kinh tế các nước đặc biệt là Trung Quốc.
Ông Tổng biên tập đồng ý sẽ không in bài ký sự chất độc da cam nữa, ông còn bảo ông già mất rồi, cũ mất rồi, vì ông luôn coi tôi chỉ là cô bé sinh viên báo chí mới ra trường nên vẫn còn non nớt. Năm tới ông xin về nghỉ hơn sớm vài năm để thế hệ trẻ lên thay. Tôi đề đạt với ông, công đoàn cơ quan vận động cán bộ, phóng viên, biên tập viên quyên góp tiền mua tặng gia đình người cựu chiến binh chiếc điều hòa hai chiều để lắp vào căn phòng của người con cựu chiến binh, như thế mùa hè thì mát mà mùa đông thì ấm. Ông Tổng biên tập khen sáng kiến hay, sẽ cho triển khai ngay. Kết quả không những mua được chiếc điều hòa hai chiều loại tốt mà còn dư hơn bốn triệu ủng hộ gia đình người cựu chiến binh. Hai vợ chồng ông vui mừng lắm, tôi cũng xin lỗi ông về bài báo viết rồi nhưng không đăng, ông bảo không sao.
Từ ngày tôi và ông Tổng biên tập về trao tặng chiếc điều hòa cho gia đình người cựu chiến binh, không hiểu sao, tôi hay nằm mơ thấy căn phòng nhỏ, nơi có người con trai của người cựu chiến binh trần truồng bị xích chân, tôi thấy anh nhìn lên chiếc điều hòa, lúc thì bảo ấm quá, ấm quá, khi thì nói mát quá mát quá, hẳn là ấm vào mùa đông, mát về mùa hè đây. Tôi muốn xem giữa giấc mơ và đời thực có giống nhau không, liền gọi điện hỏi thăm. Vợ chồng người cựu chiến binh không có điện thoại để bàn cũng không có di động, tôi gọi điện về Phòng Lao động - Thương binh xã hội hỏi thăm gia đình ông, hỏi thăm về chiếc điều hòa nếu có gì trục trặc thì được bảo hành mười hai tháng. Chị Phó phòng cho tôi biết được, gia đình người cựu chiến binh ấy đã tặng lại chiếc điều hòa cho Trung tâm điều dưỡng thương bệnh binh của tỉnh. Tôi bàng hoàng:
- Tại sao gia đình không lắp điều hòa cho người con nhiễm chất độc da cam, nó rất thiết thực cơ mà?
- Cô ơi, ông ấy không có lương hưu, chỉ có tiền trợ cấp nạn nhân chất độc da cam của hai bố con và phụ cấp trông nom con của người vợ, tất tật được hơn bốn triệu đồng mà đủ thứ nhòm ngó vào, nào tiền ăn, tiền thuốc, tiền điện, tiền ma chay cưới xin ở làng, sống còn không đủ thì lấy đâu ra để trả tiền điện điều hòa.
Tôi lặng người đi, chao ôi cái thực tế đơn giản thế mà sao tôi chả nghĩ ra?
V.Đ
Người gửi / điện thoại