Tống Ngọc Hân
ĐỌC TIỂU THUYẾT "KÍNH CHIẾU THỜI GIAN"
CỦA NHÀ VĂN HÀ PHẠM PHÚ
Nhà văn Tống Ngọc Hân
Khi đọc đến những dòng cuối cùng cuốn tiểu thuyết "Kính chiếu thời gian", mình có cảm giác bâng khuâng tiếc nuối. Tiếc vì thời gian của mình vụn quá, trong khi "Kính chiếu thời gian" xứng đáng để được đọc một mạch dù nó khá dày (350 trang khổ lớn). Trước đây, những hình dung của mình về nhà văn Hà Phạm Phú có phần đơn giản. Ông là người đa tài, đi nhiều, viết khỏe và là nhà văn trưởng thành từ quân ngũ. Nhưng đọc xong cuốn tiểu thuyết đậm chất tự truyện thì suy nghĩ của mình về ông thay đổi khá nhiều.
Cuốn tiểu thuyết có mười hai chương nhưng dung lượng của mỗi chương là rất đồ sộ. Cách tiếp cận câu chuyện của nhà văn khá độc đáo, gợi cho người ta liên tưởng đến một sự tình cờ, một cảm giác bất chợt hơn là những sắp đặt tính toán. Nhà văn bắt đầu câu chuyện bằng việc nói về những bức ảnh cũ của nhân vật Hải Phạm. Hải Phạm là người dẫn chuyện, cũng là nhân vật chính. Hải Phạm giống như vị hoa tiêu đầy kinh nghiệm trong việc dẫn người đọc đi những hành trình rất dài. Cho người đọc tham dự rất nhiều sự kiện quan trọng, cho gặp gỡ rất nhiều số phận thú vị. Kết cấu tuyến tính này, nếu không phải là một kỹ thuật tự sự điêu luyện thì người đọc sẽ cảm thấy mệt. Đó là suy nghĩ thường lướt qua đầu khi người ta chạm tay vào những cuốn sách rất dày. Thế nhưng, ngay chương đầu tiên, mình đã nhận thấy nhà văn rất chỉn chu trong việc điều tiết, phân phối dung lượng truyện qua kết cấu phân đoạn ngắn. Kết cấu này khiến người đọc không bị sốt ruột. Đường càng dài thì phải càng phải bước chậm. Vì thế tiết tấu truyện khá thong dong, nhẩn nha, không vội vàng gì cả. Người đọc cũng không có gì phải mệt. Một lần nữa mình kiểm chứng cái lối kể chuyện, cái giọng điệu rất riêng không trộn lẫn của nhà văn. Và thêm một lần nể phục. Đó là giọng văn hài hước, dí dỏm vừa độ. Dân dã, nhưng lại rất mực tinh tế, không mảy may một lần lỡ trớn suồng sã. Tuổi thơ ấu của nhân vật Hải Phạm hiện lên vô cùng sinh động trong bối cảnh, không gian không quá rộng nhưng lại rất đặc sắc. Đó là không gian trung du đầy màu sắc và hương vị chốn làng quê đậm đà thuần khiết. Những ký ức tươi ròng như suối nguồn tươi mát, tưới tắm tâm hồn người ta, khiến người ta đọc tới đâu là thèm muốn tới đó. Thèm muốn được sống lại ký ức của chính mình, thèm muốn được kể lại như thế. Tuổi thơ của cậu bé Hải Phạm tưởng như êm đềm với những cuộc trải nghiệm đó đây cùng bạn bè, anh chị, nhưng lại dữ dội trong suy nghĩ. Những suy nghĩ về thời thế mà cậu bé quan sát thấy từ sự bất thường, bất ổn của người lớn mà họ cố tình che giấu. Dẫu còn nhỏ tuổi, nhưng trong cách đối đãi với bạn bè, Hải Phạm sớm manh nha bộc lộ tư chất lãng mạn, hào hoa, nhất là trước những cô bạn gái cùng trang lứa, cùng lớp. Chính vì những trang văn đầy ắp những kỷ niệm ấu thơ đẹp đẽ ấy mà người đọc bị cuốn vào câu chuyện và kỳ vọng rất nhiều ở cậu bé.
Từ những bức ảnh cũ mà soi vào đó người ta thấy cả một gia tộc, một xã hội nông thôn vùng trung du, cụ thể là làng Hạ Đan tổng Đan Hạ Thượng nằm bên tả ngạn sông Thao trong một thời đại có quá nhiều biến cố lịch sử. Khuôn mặt làng hiện lên rõ ràng, khắc khổ, nhưng lại thơm thảo tình nghĩa. Cái cách họ tự nguyện hy sinh những ruột thịt máu mủ cho cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc không chút tư lợi hay vẩn vấy toan tính càng khiến người ta xót xa. Cả những sự bắt bớ, tra tấn, những cái chết, những uẩn ức, oan khuất từ cuộc cải cách ruộng đất, những éo le kiếp phận...tất cả được kể bằng giọng điệu của một cậu thiếu niên thông minh lanh lợi và tâm hồn vô cùng nhạy cảm. Vì thế, tất cả cứ hiện rõ mồn một mà không có bình luận, triết lý, xét đoán hay kết tội ai cả. Những bi thương cứ tự phơi bày ra đến dửng dưng, đến lành lạnh. Như thể cậu bé chỉ dẫn người ta đi đến đó, chỉ cho thấy, chứ cậu không có nhiệm vụ phải phân tích hay minh chứng gì cả. Mọi chuyện to nhỏ ở làng, dù là thâm cung bí sử hay chuyện sinh hoạt cộng đồng, đều được kể theo kiểu đan lưới. Tức là những mạch truyện dan díu nhau, tạo thành một tổng thể khép kín hoàn hảo nhưng lại chứa đầy những ô trống, dành cho sự suy ngẫm của người đọc. Cái sự nhỏ như trốn vé xem chiếu bóng thì Hải Phạm gọi là "chuyện tày đình thế mà không ai biết". Bởi vì dối trá, gian lận, trong con mắt trẻ thơ vốn là chuyện tày đình. Còn cái sự to như những cái chết oan khuất hay sự ra đi tức tưởi vì danh dự của một "bậc thầy" trong cuộc thi thố đi cà kheo, thì Hải Phạm kể rất nhẹ. Như thể cậu bé cho rằng, cái chết ấy là sự lựa chọn của chính họ. Kỹ năng tô màu vào bức tranh hiện thực của nhà văn ở một đẳng cấp mà người ta cảm thấy rất rõ nhưng khó lòng mà bắt chước. Bất cứ câu chuyện nào cũng lôi cuốn người ta đi như bị thôi miên, ấy là bởi cái sự dẫn dắt tài tình. Xen kẽ giữa những đoạn văn tự sự ấy là những bài thơ, áng văn của cổ nhân được trích dẫn và cả những câu thơ rất ngộ nghĩnh của chính nhân vật. Từ thuở học sinh, cậu bé Hải Phạm đã bộc lộ khả năng làm báo, làm thơ nên mọi cái nhìn của cậu bé không chỉ trong trẻo mà còn rất logic, đa chiều, khiến người đọc dễ hình dung thấy và một mực tin tưởng. Tin tất cả những gì thuộc về Hải Phạm đều là sự thật. Sự thật mà Hải Phạm kể ra là sự thật duy nhất. Tác giả không ngại kể về những sự kiện lịch sử, những tổ chức chính trị như cuộc cải cách ruộng đất, Việt Nam Quốc dân Đảng, hiệu ứng của phong trào Thơ Mới, tư tưởng tiểu tư sản...Kể rất kỹ mà chỉ như điểm qua. Khoét rất sâu mà chỉ như chạm nhẹ. Đau buốt thế nào cũng ngay lập tức lại được xoa dịu. Chất gây tê ấy chính là lối hành văn nhuần nhuyễn và cách sử dụng ngôn từ, các phép tu từ tài tình. Có đoạn, người đọc cảm thấy nóng mặt, thấy lo lắng, nhưng không, tác giả không để cho người đọc phải sợ sệt thay mình. Ông kịp thời rẽ câu chuyện sang hướng khác, như thể, ta còn con đường khác, rất nhiều con đường khác để đi tới đích, không nhất thiết cứ phải đi trên con đường có đầy những chông gai, vật cản. Những cú bẻ lái, thoát hiểm tinh quái và ngoạn mục đưa người đọc khám phá bằng hết mọi chân tướng sự việc.
Chưa bao giờ mình đọc một cuốn sách mà thấy nhà văn lại công phu đến thế. Để đứa con khôi ngô tuấn tú của mình khai sinh một cách thuận lợi, không gặp phải sự cản trở đáng tiếc nào cả, nhà văn, suốt một hành trình dài phải liên tục "đấu trí". Đấu trí với một thế lực kiểm soát vô hình nhưng gắt gao và phi lý. Để rồi, việc truyền dẫn những thông điệp cốt lõi của cuộc đời cầm bút đến được với độc giả, ở lại với hậu thế một cách trót lọt. Mình đọc xong cuốn sách mà thở phào. Mắt rưng rưng.
"Gương thời gian" là một bộ bách khoa về kiến thức mà nếu ai đó đã đọc, sẽ mừng vui, giống như ngày xuân đầu năm lên chùa hái lộc và vừa bước ra cổng đã được một vị đại gia tặng cho bao lì xì rất dày. Về nhà, mở ra, bỗng chốc mình trở nên giàu có. Đọc xong năm chương ( 5,6,7,8,9) mình cảm giác như vừa được nhà văn tặng cho, thừa kế cho một kho tri thức. Có bao giờ, trong trường học, môn lịch sử dạy cho bạn hiểu chân tơ kẽ tóc về cuộc chiến tranh biên giới? Bạn có biết vì sao từ chỗ người láng giềng tận tình giúp đỡ nước ta đánh Mỹ rồi quay ngoắt choảng cho một trận tơi bời. Từ một học sinh ưu tú được quân đội tuyển chọn đi học ở Nga rồi đột ngột đưa về rồi lại chuyển sang học viện pháo binh Nam Kinh, đôi bàn chân thư sinh của chàng trai Hải Phạm đã đi khắp những vùng chiến địa sục sôi. Kể cả những mảnh đất tưởng như yên ả thanh bình, mơ mộng thì cũng sục sôi những mưu đồ, toan tính và rắp tâm. Nghe lời người anh, chàng phải học cách nhận diện, ngửi mùi chính trị để bảo toàn tính mạng, tiếp tục nhiệm vụ học tập tiếp thu kỹ thuật thiết kế pháo 57mm. Tận mắt chứng kiến sự hỗn loạn, những cuộc thanh trừng, thanh toán nhau của các phe phái chính trị như Hồng vệ binh, Chủ nghĩa xét lại, Quốc dân Đảng...Nơi mà ngay cả bố con ruột còn đứng trên hai chiến tuyến, con bỏ tù bố, thì mạng sống của một lưu học sinh trong bối cảnh ấy lấy gì đảm bảo. Mỗi lần đặt chân đến một miền đất trong quá trình học tập, thực tập, tác giả lại tranh thủ viện dẫn, chú giải, đối sánh và tóm lược lịch sử vùng đất ấy để người đọc nhìn rõ chiều sâu thăm thẳm của nó, bao gồm cả lịch sử giao tranh, đô hộ, chiếm đóng, mưu đồ đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Hoa đối với nhau và đối với lãnh thổ, nhân dân Việt. Nếu không phải là người chăm đọc cổ thư và đam mê lịch sử, thì không thể có những đoạn văn giàu kiến thức đến như thế. Để không khí truyện bớt căng thẳng, những bóng hồng thoáng qua cuộc đời chàng lưu học sinh cũng được kể bằng giọng văn trìu mến, tha thiết pha lẫn một chút tiếc nuối mơ hồ. Tiếc nuối ấy là, giá như đừng có chiến tranh, đừng có đảng phái. Giá như những cô gái ấy chỉ đơn thuần là những cô học sinh, kỹ sư hay nhân viên văn phòng. Thì tình cảm giữa chàng và họ, có thể sẽ dung dị hơn, thành thật hơn. Những người con gái ấy được mô tả là những cô gái rất đẹp, rất thông minh và khéo léo, đủ để gánh vác những trọng trách mà thời đại giao phó. Nên, ngay cả những nụ hôn vội vàng, len lén, cũng được xem như là cử chỉ ngoại giao, dùng để ngoại giao. Rút cục họ đều là công cụ của đảng cộng sản Trung Hoa trong chiến lược thâu tóm và kiểm soát quyền lực. Nhà văn kể về những tiết học, những buổi đàm đạo với thầy chủ nhiệm, những nhắc nhở của đàn anh và cả những linh cảm của bản thân. Tất cả đều là những kiến thức cần thiết và bổ ích như một thứ cẩm nang gối đầu, để chàng học viên kỹ thuật pháo binh trưởng thành và thoát hiểm. Sau này, khi về nước, giảng dạy tại Đại học kỹ thuật quân sự, đôi lúc, những đoạn ký ức khi còn ở xứ người chưa từng kể ra lại bất chợt hiện về. Vì thế, ta như thấy hai mạch truyện song hành. Một mặt là nhà văn kể về cuộc đời Hải Phạm qua những dấu mốc lớn có tính bước ngoặt. Một mạch là Hải Phạm tự sự, tự kể chi tiết về cuộc đời bôn ba và khá nhiều sóng gió của mình.
Nằm giữa hai mạch truyện ấy là một khoảng vừa độ cho những giá trị tâm linh thoắt ẩn thoắt hiện. Khiến người ta tin rằng, Hải Phạm là nhân vật không chỉ sở hữu một thế giới nội tâm vừa phong phú vừa sâu sắc mà anh còn được tổ tiên, tiền nhân độ trì cho. Tổ tiên như mách bảo anh nhìn xa hơn về con đường anh đang đi, cảnh báo anh về những hiểm nguy anh có thể gặp phải. Tất cả những sự bí ẩn ấy thôi thúc Hải Phạm tìm cho mình một lối rẽ thay vì tiếp tục bước tiếp trên con đường sự nghiệp mà anh đã dày công học tập nghiên cứu. Và rồi, sau những khó khăn, đùn đẩy, Hải Phạm cũng toại nguyện, anh chuyển sang nghề làm báo cho đúng với sở trường của mình. Đi đến đâu, ở môi trường nào, con người ấy cũng nỗ lực hết mình với công việc nhưng thứ nhận về thì vẫn cơ bản là sự ban phát, phân bổ dè dặt và một khuôn khổ lạnh lẽo như sắt đá vô hình chụp lấy.
Những trang văn viết về chiến tranh của nhà văn đọc thấy cay mắt. Nó khốc liệt hơn cả sức tưởng tượng của con người hậu chiến. Dẫu chẳng nói gì nhiều, vì câu nói "chính quyền sinh ra từ họng súng" vốn từ lâu đã như một chân lý. Nhưng trong trái tim của một tri thức, một nhà báo, đâu đó cứ thống thiết vang lên những trăn trở, kêu gọi. Mà người ta vẫn thường nói đó là dấu vết của tư tưởng phản chiến.
Đất nước sau thống nhất thì lâm vào khủng hoảng kinh tế. Chế độ tem phiếu trong giới công viên chức ở thành phố và hợp tác xã ở nông thôn là hai mảng màu loang lổ trên bức tranh mà nhà văn đã khiến người đọc khóc cười mếu máo. Cái cảnh Hải Phạm thay vợ xếp hàng mua thịt lợn ăn tết đến chùng chân mỏi gối, vợ phải mang bánh bao ra để tiếp tế. Vẫn chưa mua được. Đến lượt vợ ra xếp hàng thay, nhích từng bước chân. Cuối cùng thì tiếp cận tấm bảng "hết thịt". Hay cái cảnh dân làng vận động nhau tham gia hợp tác xã để được cùng làm cùng hưởng với một niềm tin sắt đá về viễn cảnh đại đồng bình đẳng. Hay cái cảnh Thệ giết ân nhân của cha con mình chỉ vì đến vay tiền ông ta không cho vay còn sỉ nhục. Cả một thời gian dài nhân dân quay cuồng trong gian khó, lao đao, được tái hiện vô cùng sinh động. Về sau, khi nhà báo Hải Phạm nghỉ hưu, được các con cái đón sang Czech chơi một chuyến. Ông một lần nữa tranh thủ để trải nghiệm tuyệt đối và chiêm nghiệm sự đời. Hành trình đi đến nhiều thành phố châu Âu để gặp gỡ người thân và bạn bè đã cho ông có thêm nhiều những ngỡ ngàng vể chính đồng bào của mình và rồi ông kết luận một cách tưng tửng, dù ở đâu thì người Việt vẫn là người Việt. Cái sự thay đổi lớn nhất của cuộc đời họ chính là sự chọn lựa cuối đời. Họ chọn ở lại vùng đất họ đã đến chứ không chọn hồi hương. Vì sao? Ông Hải Phạm không lý giải cái sự ấy.
Chuyện đông chuyện tây, chuyện Á chuyện Âu. Đôi bàn chân đi khắp nơi từ Nga sang Trung, từ Pháp sang Đức, đến Tiệp...quay trở về chuyện làng Hạ Đan, về lại chái nhà xưa cũ với cái cối xay lúa, nơi lưu giữ những phút ân ái chồng vợ. Những yêu thương vụng trộm trao nhau giữa khuya khoắt khi con cái, cha mẹ đã ngủ hết. Những trang viết về người bạn đời của Hải Phạm là những trang văn đẹp đẽ lãng mạn và thân thương máu thịt. Ông trân trọng đến kính trọng người bạn đời của mình dẫu chồng nơi vợ ngả mấy mươi năm. Ông dành cho mẹ của các con mình, người đàn bà đã hy sinh rất nhiều cho gia đình một lòng biết ơn và ngưỡng mộ sâu sắc.
Càng về cuối cuốn sách, những câu chữ dẫu là có lúc đanh thép lạnh lùng như nòng súng 57mm, có lúc mềm như lụa Hàng Châu, nhưng phủ lên đỏ là một nỗi buồn thăm thẳm, như nước ngôi giếng làng Hạ Đan xưa. Làm được bao nhiêu điều trong sự nghiệp của mình, nhưng nhà báo, nhà văn Hải Phạm khiêm tốn nhận mình chưa làm được điều gì tấm món. Thậm chí, với sự nghiệp văn chương của mình, ông đem một câu nói trong bản tuyên ngôn của chủ tịch Hồ Chí Minh ra để so sánh và kết luận. Cái kết như tiếng thở dài thẫn thờ, như lời cảnh tỉnh. Và đó cũng là đoạn kết cho cuốn tiểu thuyết hơn 300 trang khổ lớn. Đọc xong rồi vẫn mãi ngẩn ngơ.
"Trong cuộc đời sống nhờ cây bút, để kiếm đồng tiền nuôi con, ông Hải Phạm đã viết bao nhiêu bài báo, không nhớ nữa, nhưng hầu hết tuổi thọ của chúng chỉ một vài ngày, chẳng có bao nhiêu giá trị. Lẩn thẩn, có lúc ông định tập hợp những bài kí viết cho báo đăng nhiều kì, in thành sách, cuối cùng đành từ bỏ. Chẳng có cóc khô gì có thể truyền lại cho người đọc, ngoài nhiều bịa đặt và giả trá. Giá mà ông viết được một câu văn, thậm chí một từ như ngài Thomas Jefferson. Đó mới đích thực là văn chương. Cụ Hồ Chí Minh khi viết bản Tuyên ngôn độc lập đã mở đầu bằng một câu văn được viết ra cách đấy hơn một thế kỉ rưỡi, nhưng vẫn tươi rói, nóng rãy sức bùng nổ.
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Ông Hải Phạm đặt tay lên ngực mình, bên trái, nói to lên thành tiếng. Con người sinh ra mặc nhiên được hưởng những quyền đó, tròn vành rõ chữ nhé, chứ không phải ai đó, nhóm người nào đó ban cho một cách ngọng nghịu./.".
T.N.H