Phan Ngọc Anh
ĐÀ NẴNG, KHÚC LƯỠNG HỢP SƠN THUỶ
Tọa lạc trên con đường Di sản miền Trung, thành phố Đà Nẵng hiện lên như điểm nhấn đắt giá trên bức tranh đô thị vừa lộng lẫy, hiện đại với những công trình kiến trúc hoành tráng, rực rỡ sắc màu; vừa thâm trầm, cổ kính giữa những núi non hang động u tịch, huyền bí. Hai nửa sắc thái đối lập ấy song hành và nâng đỡ nhau, tựa như những đối cực cùng hòa hợp trong một chỉnh thể khó có thể tách rời bên bờ biển xanh cát trắng, khiến du khách trong và ngoài nước dù chỉ ghé chơi một lần cũng đã mê mẩn mà không khỏi lưu luyến khi phải chia tay. Để rồi hành trang ký ức trở về, trong lòng mỗi người sẽ lại có thêm không chỉ là những nhịp cầu quay, đầu rồng phun lửa hay một góc phố lung linh pháo hoa trên mênh mông sóng nước sông Hàn tràn trề nhựa sống mà còn có cả những buổi sớm mai tĩnh mịch, hoà mình vào tiếng chuông chùa thâm nghiêm từ non nước Ngũ Hành Sơn vọng về để thức dậy bao nỗi niềm thương nhớ một góc trời lắng hồn sông núi nơi phố biển xứ Quảng.
“Sông Hàn cứ như thuở mười tám tuổi …”
Đấy là câu thơ của Tạ Thăng Hùng: “Đà Nẵng ơi nay trở lại sông Hàn/ Nhìn dòng nước êm đềm trong nắng mới/ Sông Hàn cứ như thuở mười tám/ Nên lòng mình bối rối lắm sông ơi”. Mới chỉ nghe “Trở lại sông Hàn” vậy thôi mà người ta đã thấy toát lên vẻ tươi đẹp, trẻ trung bất diệt của một dòng sông, chiều dài chỉ có khoảng chừng hơn bảy cây số nhưng con nước lại mềm mại, dịu dàng ở nơi sơn thanh thuỷ tú đất Quảng này. Quả thực, có đến nơi đây rồi mới biết. Dòng sông không có lắm thác nhiều ghềnh để ồn ào, hung dữ mà lúc nào cũng nhẹ nhàng với dáng vẻ thanh bình, yên tĩnh trong sóng gợn lăn tăn, đêm ngày xô bờ khiến lòng người dễ cảm mến với sự thư thái, êm đềm của một miền đất. Thế đấy, tôi yêu Đà Nẵng bắt đầu từ một dòng sông với những cây cầu và các con phố sầm uất dọc bên đôi bờ, kề bên những bãi biển thơ mộng nằm nép mình bên bán đảo Sơn Trà trong những buổi chiều hôm. Ở đấy mỗi sớm mai thức dậy, tôi rất thích thú khi được thả mình xuống đường Nguyễn Văn Thoại, tản bộ ngược lên cây cầu lịch sử mang tên người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Trỗi để đón bình minh buổi sớm. Khi ấy, được hít thở một bầu không khí trong lành từ những làn gió biển thổi qua, trong tôi trào dâng một cảm giác vô cùng khoan khoái. Rồi cứ thế thoải mái thả mình thong dong trên những con đường xanh rợp bóng cây.
Đứng trên cây cầu là chứng nhân lịch sử của thành phố này, hướng tầm mắt về phía biển Sơn Trà, tôi thấy ánh ban mai nhuộm vàng cả con đường đi bộ, nhẹ nhàng thả những sợi kim tuyến lấp lánh xuống dòng sông. Rồi nhìn về phía đôi bờ, sông Hàn chia đôi thành phố và hiện lên trong mắt tôi giống như dải lụa uốn lượn mềm mại, vắt ngang bờ vai tròn trịa của cô gái đang tuổi xuân thì. Trong men say sóng nước như thế trí tưởng tượng trong tôi bỗng ngược dòng thời gian, trở về với cái ngày liên quân Pháp – Tây Ban Nha bắn quả đại bác đầu tiên vào vùng biển này, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của người Pháp. Ngày ấy, sông Hàn đâu đã có cây cầu nào để nối nhịp đôi bờ như hôm nay. Có lẽ, Ngoài thành Điện Hải đang gồng mình trong lửa đạn, những toà tháp hiện đại như M Landmark Residences, The One Tower, Landmark Tower Đà Nẵng, Masteri Rivera Danang … bên bờ Tây và Peninsula Da Nang, Sun Cosmo Residence, Sun Symphony Residence, Marina Complex, Khu đô thị Thuận Phước, The Legend Danang … bên bờ Đông vẫn chỉ là một vùng cửa sông sơ khai với những cồn cát trắng xoá dọc bên bờ biển và thấp thoáng đâu đó chỉ là những ngôi nhà mái tranh vách đất bên mấy lối mòn của ngư dân đi biển trong dăm ba làng chài nhỏ bé nằm nép mình dưới những bụi tre, rặng dừa. Chỉ bấy nhiêu thôi người ta cũng đủ thấy thành phố trẻ này đang cuộn trào một sức sống mãnh liệt biết nhường nào!
Chỉ một thoáng hương xưa trong ký ức tưởng tượng mà thôi còn thực tại náo nhiệt trên đường Bạch Đằng và đường Trần Hưng Đạo bên đôi bờ sông Hàn và dòng người xe đang tấp nập đi lại trên những cây cầu hiện lên trong tầm mắt khiến tôi trở lại ngay với thực tại. Ngay bên cạnh cây cầu tôi đứng là cầu Trần Thị Lý, người con gái Điện Bàn, nổi tiếng anh hùng trong bài thơ “Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu hiện lên rất thơ mộng. Cây cầu bê tông cốt thép được thiết kế như một cánh buồm no gió hướng ra biển Đông. Nhìn cây cầu thanh thoát mà đầy kiêu hãnh trên dòng sông bất giác tôi lại liên tưởng tới một ý chí mạnh mẽ cùng khát vọng vươn ra biển lớn của người xứ Quảng. Đưa mắt ra xa hơn về phía hạ lưu, nơi cửa biển Sơn Trà, tôi lại nhìn thấy cầu Rồng. Một cây cầu nổi bật với chú rồng sơn màu vàng, đầu quay về phía biển, đuôi cách điệu như bông sen tinh khiết, lưng uốn lượn như bay với ba khúc vồng lên mềm mại. Theo lịch cố định, hằng tuần, vào thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ nhật, lúc hai mươi mốt giờ, sẽ có màn trình diễn nghệ thuật độc đáo: rồng phun lửa, phun nước. Khi phun lửa, rồng hừng hực vươn mình ra phía sông Hàn, lúc phun nước, rồng trào bọt trắng giữa đêm tối lung linh. Có thể nói, cầu Rồng là một điểm nhấn nghệ thuật trên dòng sông thơ mộng. Nó không chỉ là cây cầu phục vụ giao thông mà còn là một thông điệp cầu mong may mắn, khát vọng vươn mình ra biển lớn nhưng vẫn giữ cốt cách truyền thống chứ không để hoà tan. Phía sau cầu Rồng là cầu sông Hàn và cuối cùng, giáp vịnh Đà Nẵng là cầu Thuận Phước, một cây cầu du lịch nổi tiếng của phố biển với thiết kế dây võng. Với một bên là biển mênh mông sóng nước và một bên bán đảo Sơn Trà bạt ngàn cây núi nhấp nhô, cây cầu là thiên đường chek-in đầy mê hoặc của những người mê sống ảo. Nhìn ngược lại về phía thượng lưu là cây cầu Tiên Sơn, tuyến đường huyết mạch vận chuyển hàng hoá ra cảng Tiên Sa. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất trong sáu cây cầu bắc trên sông là cây cầu tôi đang đứng. Đó là cây cầu có lịch sử lâu đời nhất trên dòng sông. Cây cầu chỉ dành cho người đi bộ. Nhiều người nói với tôi, cây cầu này là món quà của lịch sử vô giá mà đương thời cố Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh đã quyết tâm dành lại cho hậu thế.
Cây cầu được Hãng thầu RMK của Mỹ xây dựng những năm 1960, gồm 14 nhịp, thiết kế theo kiểu kiến trúc vòm, bằng giàn thép Poni, một trong những cây cầu hiếm hoi tại Việt Nam. Ban đầu cầu mang tên Jean de Lattre de Tassigny - một vị tướng người Pháp, ra đời với mục đích chuyên chở khí tài quân sự từ cảng Tiên Sa vào nội đô Đà Nẵng, phục vụ cho bộ máy chiến tranh khốc liệt tại khu vực miền Trung. Giờ đây, cây cầu đã trở thành một chứng nhân lịch sử. Trải qua thời gian, nó gắn liền với những thăng trầm của phố biển trong những năm tháng chiến tranh và hoà cùng nhịp sống mưu sinh của người dân thành phố sau ngày đất nước thống nhất và hội nhập phát triển. Đứng trên cây cầu, có lúc tôi vẩn vơ nghĩ, nếu không có sông Hàn thì Đà Nẵng sẽ ra sao? Nếu những cây cầu kia cũng chỉ đơn giản là những khối bê tông cốt thép với lan can dọc bên hai thành cầu như bao cây cầu khác thì sông Hàn trông sẽ như thế nào? Nghĩ rồi lại tự tìm câu trả lời. Có lẽ Đà Nẵng và dòng sông sẽ như một ai đó đã từng ví von: “giống một cô gái với gương mặt xinh xắn nhưng không hề có tóc, trụi lủi, trơ khấc, kém duyên”. Và sau khi tìm được lời giải đáp cho những câu hỏi vớ vẩn của mình, tôi thích thú, ngắm nhìn dòng sông với đôi bờ sông tấp nập trong nỗi niềm thương mến. Rồi đâu đó trong lòng bỗng vẳng lên những vần thơ chất chứa yêu thương về dòng sông của tác giả lời ca trong bài hát “Hành khúc ngày và đêm”: “Cái dòng sông này thương nhớ lắm/ Ai đến rồi đi phải nặng lòng/ Mảnh đất chưa mưa mà đã thấm/ Vẫn đợi người về nơi bến sông” (Thơ cho bạn từ sông Hàn - Bùi Công Minh). Cái nỗi niềm ấy phải chăng đâu chỉ mình tôi? Có lẽ còn là của biết bao người đã từng đặt chân đến miền đất này.
“Bụi trần chút sạch như không có gì”
Đến bên cửa vịnh ta sẽ thấy, nếu sông Hàn thướt tha, mềm mại như một nàng thơ lấp lánh giữa lòng thành phố thì núi Ngũ Hành kỳ vĩ, trầm mặc như một tráng sĩ can trường che chắn bão giông giữa muôn trùng sóng gió. Dường như dòng sông và ngọn núi sánh đôi bên nhau trước bãi biển Mỹ Khê thơ mộng, quyện cùng dáng hình xanh biếc của bán đảo Sơn Trà chính là một tuyệt tác kỳ công của tạo hoá. Núi sông ấy song hành bên nhau mà tạo nên một không gian “sơn thuỷ hữu tình”. Bao đời nay, trong tâm thức của người dân đất Việt, cặp đôi này tương thông với nhau để làm thành một cặp âm dương. Núi tĩnh thì nước động. Núi vững chãi nước lại mềm mại. Núi cần có nước bao quanh để tụ khí. Cho nên sông Hàn quấn quýt bên Ngũ Hành Sơn không chỉ là một sự cân bằng sinh khí tạo nên “non xanh nước biếc” mà còn tương khắc tương sinh làm thành thế đất “toạ sơn hướng thuỷ” mang lại bình an và thịnh vượng muôn đời cho thành phố cùng những con người sinh sống trên mảnh đất này.
Núi Ngũ Hành nằm bên dòng sông Hàn và Biển Đông. Ngược dòng lịch sử, miền đất này từng là của người Chăm. Hãy còn đó trên dãy Hoả Sơn là những dấu tích đền tháp với những mảng phù điêu trên đá còn lưu lại, giống như một linh địa của người Chăm. Và truyền thuyết của người Chăm cũng từng kể, Ngũ Hành Sơn được sinh ra từ các vỏ trứng của Rùa Vàng. Trước khi có tên là Ngũ Hành Sơn, núi này từng được gọi là Non Nước; danh xưng này đã đi vào ca dao xứ Quảng từ rất lâu rồi: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà/ Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa”. Có lẽ tên gọi Ngũ Hành Sơn cũng mới chỉ có từ thời nhà Nguyễn, đời Minh Mạng, năm 1837. Thời kỳ Pháp xâm lược, núi này từng được người Pháp gọi là “những ngọn núi cẩm thạch”. Đó là những núi đá vôi gồm có năm màu được phân chia theo từng ngọn núi. Đá ở núi Thuỷ Sơn màu hồng, Mộc Sơn màu trắng, Hoả Sơn màu đỏ, Kim Sơn màu thuỷ mặc, Thổ Sơn màu nâu. Những ngọn núi ấy song tồn trong một không gian khoảng chừng hai cây số vuông và tạo thành một kiệt tác của tạo hoá từng làm mê hoặc lòng người biết bao đời nay, đặc biệt là các bậc quân vương và những cao tăng, tao nhân mặc khách. Tương truyền, khi xưa, năm 1471, trên bước đường thân chinh mở cõi về phương Nam, vua Lê Thánh Tông đã từng dừng chân tại đây, cảm khái trước sự biến đổi kỳ diệu của tạo hóa và cổ nhân sau này khi đến hành hương nơi đây cũng đã cho khắc vào bia đá để ca ngợi cảnh sắc non nước núi Ngũ Hành: “Nhất thiên niên tiền nhất hải đạo/ Nhất thiên niên hậu nhất danh sơn” (nghĩa là: Một nghìn năm trước là một đường biển/ Một nghìn năm sau là một ngọn núi có danh). Bây giờ, đến thăm danh thắng nơi này tôi cũng đã nhìn thấy không ít dấu tích của người xưa hiện vẫn còn lưu trên các vách núi, hang động. Người xứ Quảng gọi các tác phẩm thơ văn cổ khắc trên núi ấy là ma nhai. Ngắm nhìn các ma nhai ấy tôi như chạm vào từng lớp trầm tích thời gian và rất xúc động khi được biết những di sản đá ấy cũng đã từng được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đến đây, bất chợt tôi lại nhớ đến những vần thơ Nôm trong bài “Vịnh Ngũ Hành Sơn” của nữ sĩ Bang Nhãn: “Cảnh trí nào hơn cảnh trí này/ Bồng Lai âu hẳn cũng là đây/ Núi chen sắc đá phơi màu gấm/ Chùa nức hơi hương khói lẫn mây/ Ngư phủ gác cần ngơi mặt nước/ Tiều phu chống búa tựa lưng cây/ Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách/ Khen bấy thợ trời khéo đắp xây” (câu cuối cũng có bản chép: Vút mắt Trường Sơn ác xế tây). Ngắm nhìn sông Hàn và Ngũ Hành Sơn, tôi bị mê hoặc trước sự hòa quyện tuyệt vời giữa cảnh sắc kỳ vĩ của thiên nhiên và những tầng sâu lịch sử văn hoá Chăm - Việt cùng kho tàng ma nhai trên các vách đá. Chỉ bấy nhiêu thôi, một vùng sơn thuỷ hữu tình của non nước xứ Quảng này mãi là niềm tự hào kiêu hãnh của người dân đất Việt.
Gọi là Ngũ Hành Sơn nhưng kỳ thực nơi đây có sáu ngọn núi, riêng Hoả Sơn có hai ngọn, gọi là Dương Hoả Sơn và Âm Hoả Sơn. Trong những ngọn núi này, tôi thấy Thuỷ Sơn là ngọn núi lớn và đẹp nhất. Núi Thuỷ có ba đỉnh, gọi là Thượng Thai (cao nhất), Trung Thai (ở giữa) và Hạ Thai (thấp nhất). Tôi cũng đã không ít lần lên ngọn núi này ngắm cảnh. Trên đỉnh núi cao hơn một trăm mét, người xưa từng cho làm hai đài quan sát. Vọng Hải Đài (ngắm biển) nằm ở sườn Đông của đỉnh Hạ Thai. Vọng Giang Đài (ngắm sông Cổ Cò) nằm trên đỉnh Thượng Thai. Ngọn núi Thuỷ Sơn này cũng là nơi được các đấng quân vương nhà Nguyễn thường xuyên lui đến để vãn cảnh, nhìn ngắm mây trời sông nước. Trước đây, đứng trên Vọng Hải Đài, tôi có thể phóng tầm mắt ra muôn trùng khơi xa nhưng nay trở lại tầm nhìn ấy đã bị che khuất. Sừng sững bên bờ biển, trước mặt Vọng Hải Đài là những toà nhà chọc trời, ngất ngưởng. Đứng trên Vọng Hải Đài, không ít du khách ngơ nhác nhìn nhau hỏi xem biển ở phía nào? Một vùng đất địa linh, một danh thắng nổi tiếng, một Di tích quốc gia đặc biệt trước cơn lốc kinh tế thị trường cũng phải ngậm ngùi, tủi phận; bất lực trước những khối bê tông cốt thép vô tình. Ngoại trừ những đài quan sát bị che khuất tầm nhìn, những công trình tâm linh và hang động trên núi Thuỷ Sơn dường như vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn. Trên ngọn Thượng Thai có chùa Tam Thai, chùa Từ Tâm, động Hoa Nghiêm, động Huyền Không, động Linh Nham. Ngọn Trung Thai có Cổng Trời, động Vân Thông, động Thiên Long, động Thiên Phước Địa. Ngọn Hạ Thai có chùa Linh Ứng, tháp Xá Lợi, động Tàng Chơn. Đường lên vãn cảnh và đến các chùa chiền, hang động trên ngọn Thuỷ Sơn, trước đây, tôi thấy chỉ có hai lối. Đường đi phía Đông, qua một trăm linh tám bậc đá lên chùa Linh Ứng và đường đi phía Tây, qua một trăm năm mươi sáu bậc đá lên chùa Tam Thai. Lần này trở lại tôi thấy có thêm lối đi bằng thang máy. Xưa, các nhà thiên văn nhìn ba đỉnh núi trên ngọn Thuỷ Sơn xếp hình giống như ba ngôi sao trong chùm sao Đại Hùng Tinh, dân gian gọi là Sao Cày. Sự trùng hợp giữa đất và trời như thế nên ngọn núi này được xem là nơi hội tụ linh khí của đất trời. Có lẽ với niềm tin ấy mà vua Minh Mạng ba lần hành hương đến tận nơi này và cùng các bậc cao tăng không ngừng hưng công dựng chùa, tạc tượng để biến nơi đây trở thành một trong những trung tâm của Phật giáo với những quốc tự khá bề thế.
Vãn cảnh Thủy Sơn, tôi thấy trên đỉnh Thượng Thai có động Huyền Không rất đẹp. Vẻ đẹp ấy xứng đáng để suy tôn là “Trung thiên đệ nhất động”. Một vẻ đẹp tuyệt mỹ tựa như chốn bồng lai. Đến đây không ít người lầm tưởng là một trong phân cảnh phim trường của tuyệt tác điện ảnh: “Tây Du Ký”. Lòng động Huyền Không rộng như một ngôi nhà lớn. Đứng ở trong động, ngửa mặt nhìn ngược lên trời, tôi thấy hang sâu thăm thẳm, giống hình quả chuông khổng lồ úp xuống mặt đất. Trần động có những vòm đá mở ra các khoảng trống lớn, thông với bên ngoài, giúp người đứng bên dưới có thể nhìn rõ cả bầu trời ban ngày lẫn ánh trăng ban đêm. Ban ngày ánh sáng tự nhiên của mặt trời xuyên qua lỗ hổng tạo thành những vệt sáng long lanh kỳ diệu. Những vệt sáng ấy quyện vào với khói hương tạo nên một khung cảnh mờ ảo tựa như khung cảnh Linh Tiêu Bảo Điện của Ngọc Hoàng hay Đại Hùng Bảo Điện của Đức Phật. Vách động cũng nhốm màu thời gian với những thạch nhũ muôn hình vạn vẻ, uốn lượn sinh động tựa như cung mây. Ở nơi lưng chừng và dưới nền động có các bệ thờ, trên đặt tượng thần, tượng phật. Từ ngoài cửa vào bên trong động, tôi thấy bên phía ngoài, gần cửa động có ông Thiện và ông Ác như đang đứng trông giữ chốn tôn nghiêm cửa phật. Phía bên phải là ngôi chùa nhỏ, gọi là Trang Nghiêm Tự, có ba gian, chính giữa thờ Phật Quan Âm; gian bên trái thờ Quan Công, Quan Bình, Châu Xương tượng trưng cho đức hạnh, trí dũng, lòng trung thành, gian bên phải thờ Ông Tơ, Bà Nguyệt để các đôi nam nữ đến cầu duyên. Sát vách, trên lưng chừng động có tượng Phật Thích Ca, phía dưới chân tượng Phật Thích Ca là bàn thờ Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát... Đặc biệt, trong động Huyền Không còn có tượng Thiên Y A Na (còn gọi là Bà Mẹ xứ sở) của người Chăm. Nghe kể, khi xưa, có rất nhiều người đến đây xin thiên ân, cầu tự từ bà. Tôi mải mê ngắm động trong ánh sáng mờ ảo phản chiếu làn khói hương nhè nhẹ bay lên mà thấy nơi này hiện lên như một không gian thoát tục, một thế giới của huyền thoại. Trong cái thế giới huyền diệu ấy tôi lại nhớ đến chuyến du hành của thi sĩ Tản Đà đến Ngũ Hành Sơn mà ông từng kể trong “Giấc mộng lớn”. Đó là, năm 1927, Tiên sinh từng lên Vọng Hải Đài rồi vào động Huyền Không dùng bữa. Đứng trước không gian linh diệu thoát tục này nhà thơ đã tức cảnh sinh tình mà để lại thơ rằng: “Rủ nhau lên động Huyền Không/ Bụi trần chút sạch như không có gì”.
Dải đất miền Trung có rất nhiều cảnh đẹp. Sông Hàn và núi Ngũ Hành tất nhiên không nằm ngoài những danh thắng ấy. Chúng hợp sức, cùng nhau tô điểm và làm phong phú vẻ đẹp của thành phố Đà Nẵng. Nhưng có lẽ, nếu chỉ dừng ở góc nhìn duy mỹ đối với cặp núi sông xứ Quảng này thì hẳn còn chưa đủ. Ở một khía cạnh khác, trong góc nhìn của các nhà dịch học, sông Hàn và núi Ngũ Hành chắc còn ẩn chứa nhiều điều kỳ bí. Tôi vốn không am hiểu về lĩnh vực này nhưng đâu đó đã có lần đọc được một ý khá thú vị: ở nước ta có mấy nơi ứng với dịch học. Phía Bắc có Ba Vì, Tam Đảo ứng với số ba; Trung cung có Ngũ Hành Sơn ứng với số năm, phía Nam có Thất Sơn ứng với số bảy; tổng là mười lăm, số của Lạc Thư. Trải tấm bản đồ hình chữ S, nếu nhìn Ngũ Hành Sơn như một hồng tâm năng lượng, ta sẽ ngỡ ngàng nhận ra dáng hình đất nước chính là một bức Thái cực đồ khổng lồ, nơi đường bờ biển uốn lượn chia đất liền và biển Đông thành hai nửa âm dương lưỡng hợp. Ngẫm kỹ, bao đời nay, sông Hàn và núi Ngũ Hành song hành, quấn quýt bên nhau. Dòng nước uốn lượn, ôm chặt thế núi vào lòng, non cao lại soi bóng xuống mặt gương xanh biếc, sừng sững che chắn cho dòng sông êm đềm xuôi chảy. Cứ vậy mà thấy cái thế “sơn bao thuỷ bọc” đi qua năm tháng và trở thành nơi tụ hội địa linh tú khí của khúc ruột miền Trung. Đấy là vùng đất vô cùng linh thiêng. Đi qua hàng ngàn năm, thế đất Đà Nẵng ấy là nơi lắng đọng của hồn cốt sông núi và chắc chắn mạch ngầm ấy sẽ còn chảy mãi đến muôn đời sau.
P.N.A