Điện thoại: 0913 269 931 - Zalo: 0964 131 807 - Email: soncam52@gmail.com.
12342345456734565678
Chào mừng bạn đã đến với trang Điện tử "Văn nghệ Công nhân" của Chi Hội Nhà văn Công nhân thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam & Hội Nhà văn Việt Nam.

HÁT VÍ PHÚ THỌ


Phạm Bá Khiêm
 
HÁT VÍ Ở PHÚ THỌ
img_3677
 
          Tóm tắt: Hát Ví là lối hát giao duyên phổ biến trong các hội làng ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Hát Ví có thể hát mọi lúc, ở mọi nơi. Nội dung lời hát Ví bóng bẩy, giàu hình tượng do cảm xúc tự nhiên, chân thành, gần với thiên nhiên, với cuộc sống lao động sản xuất, đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân làng xã và chủ yếu là được sáng tác tức thì / sáng tác nhanh trong các cuộc chơi. Việc tìm hiểu nghệ thuật hát Ví ở Phú Thọ nhằm khơi dậy những giá trị văn hoá, văn nghệ dân gian đặc sắc của một loại hình dân ca dân gian vùng Đất Tổ. Đó cũng chính là sự góp phần bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.
  1. Lời mở
          Ca hát dân gian truyền thống ở Phú Thọ là một bộ phận của văn hóa dân gian, phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình và có nhiều hình thức biểu hiện. Dân ca dân gian Phú Thọ có thể chia làm 3 mảng lớn:
- Nghệ thuật ca hát sân khấu: Chèo và Tuồng.
- Các loại hình ca hát dân gian: hát Đố, hát Xẩm, hát Ca trù, hát Ví, hát Đu, hát Ống, hát Trống quân, hát Bỉ…
- Dân ca truyền thống có tính bản địa: Hát Xoan và Hát Ghẹo.
Hát Ví ở Phú Thọ phản ảnh các trạng thái tình cảm của nam - nữ thanh niên ở tuổi đang yêu. Trong chế độ phong kiến, luân lý Khổng Mạnh đã thu hẹp quyền sống, quyền yêu của lớp nam thanh, nữ tú. Việc hôn nhân, việc lập gia đình của họ đều do cha mẹ định đoạt “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Nhưng bất chấp sự ràng buộc đó, thanh niên đã vượt ra khỏi cái kỷ cương phong kiến ấy để tìm gặp nhau; họ chẳng những chỉ gặp nhau trong lúc lao động trên đồng ruộng, trong lúc hái chè trên đồi nương hoặc khi đánh cá dưới sông, mà họ còn tìm nhau ở nơi cửa đình trong không gian ngày hội. Họ tìm nhau trong cả những đêm trăng tròn hay những đêm trăng khuyết, để trao gửi tình cảm cho nhau qua những câu hát Ví.
          Hát Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu theo từng khuôn nhịp, người hát có thể co giãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào ca từ thanh bằng hay thanh trắc, ít từ hay nhiều chữ. Hát Ví còn được coi như một hình thức hát giao duyên nam nữ mang nhiều âm hưởng tự nhiên gần nhất với cuộc đời thực.
Nếu hát Ví xứ Nghệ có nhiều điệu như: Ví đò đưa, Ví phường vải, Ví phường cấy, Ví phường võng, Ví phường chè, Ví đồng ruộng, Ví trèo non, Ví mục đồng, Ví chuỗi, Ví ghẹo, Ví giận thương (giận mà thương)… hay hát Ví Kinh Bắc có nhiều nội dung: hát thơ, hát mời nước, mời trầu, mời thuốc, hay hát kết… thì hát Ví Phú Thọ cũng có nhiều loại hình phong phú; trên đồi nương có Ví đồi chè, dưới nước có Ví sông, ngày hội có Ví Đu, ở làng có Ví ống, người Mường có hát Bỉ….
          Hát Ví là hát đối đáp, có khi chỉ 2 người cũng hát; đông người cũng hát, không cần hẹn trước mà nhiều khi các cô gái đi đường gặp chàng trai cầm tay trêu ghẹo, tỏ tình, cô gái đáp lại mà cũng thành hát Ví. Hát Ví là một loại hình dân ca phổ biến mà mọi người đều có thể tham gia được. Loại hình này không đòi hỏi những điều kiện về địa điểm, về thời gian, cũng không bị ràng buộc về phong tục, lễ giáo, về môi trường diễn xướng. Hát Ví phản ánh chân thực tình cảm của con người, là lối hát giao duyên của trai gái nên có thể hát quanh năm. Tuy nhiên Hát Ví cũng có mùa. Mùa xuân thường hát vào tháng giêng, hai; mùa thu vào tháng tám, cuộc hát thường bắt đầu từ mồng mười và kết thúc vào cuối tháng tám, khi trăng muộn đã tà.
          Hát Ví không có bải bản sẵn, đòi hỏi người hát phải có tài ứng khẩu, đối đáp nhanh. Ở mỗi cuộc hát Ví đều có người có giọng hát hay và có người đối đáp nhanh. Hát Ví ở vùng Đất Tổ khá phong phú, là loại hình dân ca phổ biến, nó đã góp phần làm giầu cho vốn dân ca Phú Thọ - miền đất cội nguồn dân tộc. Việc tìm hiểu nghệ thuật hát Ví nhằm khơi dậy những giá trị văn hoá, giá trị nghệ thuật đặc sắc của nó, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của người dân Phú Thọ nói riêng và cuả dân tộc Việt Nam nói chung.
 
  1. Nghệ thuật hát Ví ở Phú Thọ
          2.1- Nhận biết
Hát Ví là lối hát phổ biến trong các hội làng ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, phản ánh khá chân thật tình cảm của con người. Hát Ví có thể hát mọi lúc ở mọi nơi. Giữa một buổi trưa hè nắng chói chang trên đồng ruộng hay khi công việc đồng áng đã xong trên đường trở về nhà, một đêm trăng trên sông hồ, hay buổi sáng sớm lên đồi hái chè, hát trong đêm hội làng ta…Bắt đầu cuộc hát, không cần thủ tục, lề lối nào cả, miễn là ở những nơi, vào những lúc đã có đối tượng chủ yếu, thành phần của buổi hát là con trai và con gái; nghĩa là có bên nam và bên nữ.
          Nội dung câu hát Ví mang nặng tính trữ tình, phản ảnh cụ thể chặng đường tình cảm của tình yêu trai gái lành mạnh, phù hợp với nhân sinh quan tích cực của người dân lao động: gặp gỡ, ướm hỏi, ngỏ lời, thề nguyền, nhớ mong, giận dỗi, oán trách, đợi chờ, tin tưởng…, được biểu hiện rất phong phú.
          Hình thức, đối tượng hát Ví có thay đổi khác nhau, nhưng nội dung cuộc hát cũng không ngoài tính trữ tình, phản ánh tình yêu chân thành của người con trai và người con gái. Hát Ví ở Phú Thọ có nhiều điệu như: Ví đồi chè, Ví sông, Ví ống, Ví ở làng, Ví Đu, Ví Bỉ…
Mỗi cuộc hát Ví thường có 3 chặng: Chặng mở đầu là hát chào hỏi, mời trầu; Chặng thứ hai là hát tỏ tình, trao duyên, đố, họa; Chặng thứ ba là hát chia tay, hát xe kết. Trong 3 chặng hát này thì chặng hát tỏ tình, trao duyên, đố, họa là kéo dài nhất, sôi nổi nhất. Những người đi hát Ví không tổ chức thành phường (họ). Trai gái tự rủ nhau tham gia cuộc hát. Vào ngày hội, họ mặc những bộ quần áo đẹp nhất: nam áo cánh, quần chân què cùng màu nâu (đôi khi còn mang theo chiếc ô đen), đầu chít khăn thủ rìu màu đỏ; nữ thường mặc áo cánh trắng, váy lụa sồi, thắt lưng màu hồng hoặc tím, đầu đội khăn đen mỏ quạ. Vào cuộc hát, nếu là ban ngày hai bên trai gái đứng thành 2 nhóm ở sân đình hay ngoài bãi cỏ để hát. Buổi tối ngoài hát ở sân đình, bãi cỏ, còn hát ở sân nhà của một thành viên. Nam ngồi đối diện nữ, hát đối đáp nhau theo từng cặp. Nam làng này hát với nữ làng kia.
          2.2- Các loại hình hát Ví
2.2.1- Hát Ví ống Hiền quan
          Ví ống là loại hình ca nhạc dân gian được cải tiến về hình thức biểu diễn. Người tham gia có thể ngồi ở nhà mình hát vào ống tre được bịt kín bằng da ếch một đầu, giữa da ếch luồn một sợi chỉ dài nối với mặt da ếch của người hát đối. Da ếch phải chọn lấy từ con ếch to, già, mổ đằng lưng lột lấy bộ da căng mặt ống tre. Căng xong đem phơi ra ngoài nắng nhẹ cho khô căng như mặt da trâu trống gỗ là được.
          Khi hát, âm thanh phát ra làm mặt da ếch rung lên, truyền qua sợi dây dẫn vọng tới tai người nghe. Khoảng cách của người hát và người nghe cách xa có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy nhau (khoảng 50 - 70 m). Phía người hát, khi hát xong lại chuyển ống lên tai để nghe phía bên kia hát đối đáp lại. Dây nối giữa 2 ống tre với nhau khi hát phải căng không được để trùng hoặc chạm vào bờ tường, cành, lá cây gây ảnh hưởng tới độ trong, độ vọng của âm thanh truyền tới tai người nghe.
          Ở xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, bên cạnh những hoạt động văn hoá mang tính truyền thống trong các lễ hội hàng năm như: hội Phết, phóng lao, hát nhà tơ... còn có tục hát ống. Hát ống thực chất là hát Ví, là lối hát giao duyên, không có bài bản định sẵn, người hát phải tự ứng đối, chỉ khác là phương tiện để chuyển tải lời ca tiếng hát ấy qua 2 cái ống bằng tre hoặc nứa, dài khoảng 12 cm, đường kính rộng độ 5- 6 cm; một sợi dây chỉ tơ kết nối giữa ống của hai đầu người nghe và hát. Mỗi chiếc ống có một đầu rỗng, một đầu bịt bằng da ếch phơi khô, mặt căng phẳng, ở giữa có dùi một lỗ nhỏ  để luồn đầu chỉ vào rồi buộc bởi một đoạn tre ngắn (khoảng 1 cm), để ghim giữ sợi chỉ được căng ra ở hai đầu ống. Đầu rỗng của ống dùng để hát hoặc nghe. Lời ca tiếng hát vang vọng sẽ được truyền qua sợi chỉ tơ từ bên này sang bên kia, đủ để hai bên đều hiểu rõ nội dung cần trao đổi với nhau. Nam nữ tham gia hát ống thường chia ra nam một bên, nữ một bên, mỗi bên cử một người đứng hát, đôi khi thay đổi cho nhau, còn phần đông là người đi xem, người đứng ngoài nghe và cũng là cách để học hỏi cho mình kinh nghiệm mai sau.
          Nội dung hát Ví ống chủ yếu là xoay quanh chủ đề tình duyên nam nữ, không dung tục tầm thường, mà toát lên những tình cảm trong sáng và lành mạnh.
          + Khi thì mời chào thăm hỏi trong buổi đầu gặp gỡ
- Tuổi vừa mười tám xuân xanh
                    Trăng tròn như thể ngọc lành phẩm cao
                    Vườn xuân chưa có ai vào
                    Thấy hoa mà chẳng biết vào tìm hương
                     Nay nhờ nguyệt lão đưa đường
                     Tình cờ em mới gặp chường (chàng) ở đây
                     Em xin đưa miếng trầu này
                     Thành tâm tạm chút riêng tây mời chường.
          + Khi thì ướm hỏi thăm dò
- Đêm khuya thong thả một mình
                    Dừng chân xin hỏi chuyện tình đôi ta
                    Gì bằng nguyệt sánh với hoa
                    Gì bằng mình sánh với ta một đời
                    Gì bằng quế sánh với hồi
                    Gì bằng ta được sánh đôi với nàng
                    Gì bằng ngọc sánh với vàng
                    Mà đưa ta đến gặp nàng hôm nay.
                    - Bây giờ mình đấy ta đây
                    Xin ông nguyệt lão xe dây tơ hồng
                    Xe cho nên vợ nên chồng
                    Xe cho đào liễu, trúc thông một hàng
                    Xe cho ngọc xứng với vàng
                    Xe cho công tử với nàng thuyền quyên.
          + Khi họ hiểu nhau, yêu nhau đến nỗi để thương, để nhớ, để sầu cho nhau mỗi khi xa cách
- Vắng ai có một tuần trăng
                    Nhớ ai rầu rĩ chất bằng non cao
                    Nhớ khi mắt liếc miệng chào
                    Giọng cười duyên dáng ra vào vui chung
                    Nhớ khi đứng dựa tại phòng
                    Tiếng ngâm sang sảng mấy dòng thi ca
                    Ước gì mai trúc một nhà
                    Đêm thu trăng sáng, la đà ngày xuân
                    Nhớ ai nhớ đủ mọi phần
                    Nhớ ai lại những tần ngần về ai
                    Thôi buổi sáng, lại buổi chiều
                    Nhớ ai đã chắc gì ai nhớ mình!
          + Khi do nói năng chưa khéo léo hoặc kiêu kỳ khiếm nhã thành ra nghi ngờ, hiểu lầm, hờn rỗi, trách nhau
- Từ khi Tần Tấn hẹn hò
                    Thuỷ chung son sắt bao giờ dám sai
                    Bây giờ nàng đã nghe ai
                    Chữ đồng nỡ bẻ làm hai sao đành
                    - Trách chàng sao nỡ bạc tình
                    Nào em có dám phụ mình chi đâu
                    Nỡ đem gán buộc cho nhau
                    Nỡ nào lại cắt nhịp cầu đang đi
                    Nỡ nào phân rẽ chia ly
                    Nỡ nào vàng ngọc phân chia hỡi chàng
                    Đã thôi, thôi thế thì thôi!
                    Trên trời chẳng thiếu gì người tài hoa.
+ Thế rồi tất cả những gì là nghi ngờ, là giận rỗi, là ghen tức đố kỵ sẽ lại qua đi với thời gian. Cái duyên là thế và họ đã thông cảm với nhau, yêu nhau hơn để đi đến hứa hẹn kết tóc xe tơ với nhau một cách hồn nhiên và giản dị:
- Yêu em tóc bỏ đuôi gà
                    Yêu em ăn nói mận mà có duyên
                    Yêu em má lúm đồng tiền
                    Yêu em nhan sắc, dịu hiền đoan trang
                    Anh đây xin quyết cưới nàng
                    Để cho nam nữ xóm làng đưa dâu.
                    - Yêu chàng thẳng thắn chân tình
                    Yêu chàng ngọc đá hoa đành tốt tươi
                    Yêu chàng đức độ vẹn mười
                    Yêu chàng có chí, con người hào hoa
                    Yêu chàng ăn nói hiền hoà
                    Nụ cười tươi nở như hoa trên cành
                    Yêu chàng chưa có gia đình
                    Hôm nay đã quyết thì mình lấy ta.
          + Xung quanh chủ đề tình cảm nam nữ thông qua những bài họa, ta thấy hát Ví ống đã toát lên tình yêu đất nước, yêu thiên nhiên núi sông, mây gió, trăng sao... rất sâu sắc đậm đà. Đó chính là những gì hàng ngày gần gũi, gắn bó không thể thiếu được trong cuộc sống đời thường của họ:
          Đố:              - Núi gì cao nhất tầng mây
                              Núi gì ở tỉnh Sơn Tây rành rành
                              Núi nào ba đỉnh xanh xanh
                              Núi nào ở tỉnh Ninh Bình nàng ơi.
          Giải:             - Phan Xi Păng cao nhất tầng mây
                              Ba Vì ở tỉnh Sơn Tây rành rành
                              Tam Đảo ba đỉnh xanh xanh
                              Tam Điệp núi ở Ninh Bình chàng ơi...
+ Lượng kiến thức chứa đựng trong nội dung hát Ví ống cũng rất phong phú và sâu đậm. Điều đó chứng tỏ ông cha ta ngày trước không chỉ sống lam lũ một nắng hai sương mà luôn có ý thức học hỏi tìm tòi những hiểu biết rất cần thiết trong cuộc sống của họ. Vốn kiến thức ấy được thể hiện trên nhiều mặt qua những bài họa đối đáp, trong đó phải kể đến những kinh nghiệm nhận biết về thiên nhiên, khí hậu, thời tiết...
+ Cái hay, cái quí của hát Ví ống còn là tính tập thể trong mỗi cuộc hát. Có thể là mỗi bên chỉ một người hát, song bên cạnh họ là bao nhiêu người đứng nghe, đứng xem. Thực chất không phải họ chỉ có mục đích đến để thưởng thức, để vui hay để giải trí mà phần đông là đến để học hỏi cho mình, để sau này đến lượt họ nối tiếp hoặc đây cũng là nơi để họ gặp gỡ bạn bè giao tiếp tình cảm với nhau. Trong số những người đến hát phải kể đến một số người có trình độ văn hoá, am hiểu văn học, có khả năng sáng tác, ứng đối giúp người hát ngay tại chỗ, đôi khi họ còn phải tự thảo sẵn từ trước ở nhà hoặc phải là những người đã từng trải tham gia nhiều cuộc hát, đi đây đi đó, có một số vốn hiểu biết phong phú hoặc thuộc nhiều câu hát để có thể ứng đối được.
          Tính tập thể còn thể hiện ở chỗ đối tượng tham gia là quần chúng rộng rãi, không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng xóm mà còn mở rộng, vượt ra khỏi luỹ tre làng. Hội hát Ví ống Hiền Quan hàng năm có bạn hát đến từ Gia Áo, Gia Dụ (Tam Nông) hoặc còn có cả người từ Kẻ Mè (thị xã Phú Thọ), từ làng Dòng (Xuân Lũng, Lâm Thao) qua sông sang hát.
          Hãy gạt bỏ đi những hạn chế do hoàn cảnh xã hội, lịch sử và nhận thức của con người chi phối thì nội dung hát Ví ống Hiền Quan sẽ còn lại giá trị vô cùng quý báu, thực sự là một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá lành mạnh ở nông thôn. Hát Ví ống đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa ở làng quê, được đông đảo người dân chấp nhận, tham gia. Người đi hát ngoài thanh niên còn có cả trung niên và cả những người ở nhiều độ tuổi khác nhau. Họ đi, họ đến một cách tự nguyện, tha thiết, say sưa vượt ra ngoài những quan điểm lạc hậu, bảo thủ và lễ giáo phong kiến khắt khe, hẹp hòi của xã hội cũ. Nhiều hôm khuya mới về nhà, nhưng ai cũng vui vẻ thoải mái, họ coi đây là một nguồn vui để giải trí và thư giãn sau những ngày lao động mệt nhọc.
          2.2.2- Hát Ví sông bến Hạc
          Sách “Lĩnh nam chích quái” đời nhà Trần, thế kỷ XIII chép: “Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây Chiên Đàn, cành lá rậm rạp, có chim Hạc trắng làm tổ ở trên, nên gọi đất ấy là Bạch Hạc”. Ngã ba sông Bạch Hạc là nơi hợp lưu của ba dòng sông lớn: sông Thao, sông Đà và sông Lô. Vùng đất này có địa thế “sơn chầu, thủy tụ”, dồi dào “khí thiêng sông núi”. Do thế đất thuận lợi có núi, đồi và đồng bằng xen kẽ nên được người Việt Cổ chọn làm nơi cư trú: nước ngập thì lên đồi núi kiếm ăn, mưa thuận gió hòa thì xuống đồng bằng gieo cấy. Nơi đây đã được Vua Hùng chọn làm đất xây dựng kinh đô của nước Văn Lang.
          Ngã ba Bạch Hạc nổi tiếng bởi một vùng sông nước hữu tình, sầm uất trên bến dưới thuyền. Mỗi buổi chiều tà khi mặt trời đỏ ối lặn sau dãy núi Ba vì, thì trên mặt sông các thuyền chài thả lưới đánh cá trong tiếng vọng vang của những làn điệu dân ca tạo cho Bạch Hạc trở nên một thắng cảnh nên thơ.
Theo dòng lịch sử, danh xưng Bạch Hạc được hình thành dưới đời vua Lê Quang Thuận (1460 - 1469). Ngày 5 tháng 6 năm 1957, Chính phủ ra Quyết định số 240- TTg, cho sáp nhập Bạch Hạc với phố Việt Trì để thành lập thị trấn Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Ngày 4 tháng 6 năm 1962, Chính phủ ra Quyết định số 65 - TTg thành lập thành phố Việt Trì. Bạch Hạc là vùng hợp lưu ngã ba sông nước Đà giang, Thao giang, Lô giang (còn gọi là Thanh giang); là nơi sản sinh ra những câu hát Ví mà trong dân gian quen gọi là hát Ví sông bến Hạc. 
Hát Ví sông bến Hạc gắn với con đò, ánh trăng và bến nước mênh mang sóng vỗ. Hàng năm vào dịp giữa mùa thu, trong những đêm trăng, từng tốp thanh niên nam nữ trên những con thuyền khác nhau, họ cùng ngồi gõ mạn thuyện, hát ví đêm trăng. Thuyền bên nam có trống và trước khi hát thì lại rung trống lên. Nam hát trước rồi nữ hát sau:
          Nam             - Sông kia nước chảy xuôi dòng
                              Kỳ này anh quyết làm quen với nàng.
Nữ:              - Cá xuôi, cá ngược tung tăng
                              Biết đâu cái, đực thả câu để tìm.
Nam:            - Nẻo xa thấp thoáng bóng trăng
                              Càng mong nhờ gió cát đằng xe dây.
Nữ:              Sáng trăng sáng cả đêm rằm
                              Nửa đêm sà xuống, trăng bằng ngọn tre,
                              Yêu anh yêu trọn câu thề
                              Để anh lơ lửng ngồi kề bóng trăng
                              Sự tình anh có thấu không
                              Tương tư ấp ủ trong lòng bấy nay...
          Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thì hát Ví sông bến Hạc phong phú về nội dung, lung linh về hình thức, đa dạng về ngôn từ. Đó là kết quả của sự lưu truyền rộng rãi, lâu dài trong đời sống tinh thần của nhân dân. Họ là chủ thể của di sản, là người sáng tác, người trình diễn, lại là người thưởng thức, lắng nghe và thẩm định.
Lời ca Ví sông không có tiếng than thân, trách phận mà chỉ có tiếng hát trao tình gửi nghĩa, là tiếng chim “gọi đàn”, lời mời “kết bạn”, là phương tiện nối dải đồng tâm của những người lao động, một nắng hai sương với bến sông, đồng ruộng.
Về ngôn ngữ nghệ thuật, nó phản ánh tính đa dạng khi sử dụng tiếng Việt và các thể thơ dân tộc, tiêu biểu là thơ lục bát. Ví sông bến Hạc gắn con đò, sông nước với ánh trăng và trời xanh, mây trắng. Nó là thơ, là nhạc, là tình đời và tình người ở vùng kinh đô Văn Lang xưa:
- Nhác trông đám Ví vui thay
Ai đem nam nữ đến đây kết nguyềnhatrangpt
Em chào ông hơn tuổi ngồi trên
Em chào chúng bạn đôi bên mạn đò
Em chào các bác nam nhi
Đôi bên nam nữ ta thì ngồi chơi
Trên dưới em đã chào rồi
Còn chàng quân tử ngỏ lời thở than.
- May chân bắt gặp một người
Răng đen cánh dán, miệng cười như hoa
Hỏi đường trung hiếu mẹ cha
Đã ai cất gánh hay là còn không
Gặp đây xin hỏi đào đông
Đã ai ngỏ ý chung lòng hay chưa?
- Sáng trăng tỏ lắm anh ơi
Xin phép thầy mẹ ra chơi ngoài này
Cùng nhau trò chuyện giãi bày
Trăm năm ắt hẳn có ngày sánh đôi.
- Hỡi cô mà đứng bên rương
Mắt cô lúng liếng như gương bên tầu
Để anh trông mãi nhớ lâu
Biết rằng quê quán nàng đâu mà tìm?
- Hai tay nâng lấy đọi đèn
Bấc này ta tạm làm quen với dầu
Nhẽ thì không dám thế đâu
Vải xô bọc lấy nhiễu Tầu nên chăng
Nhiễu Tầu bọc lấy giá gương
Cả chàng cùng thiếp ta thương nhau cùng.
- Một mừng ai mở hội này
Hai mừng ta gặp nhau đây tự tình
Ba mừng vào đền, ra đình
Bốn mừng bác mẹ sinh thành đẹp đôi
Năm mừng giao ước một lời
Sáu mừng duyên phận bởi trời xui nên
Bẩy mừng gặp một bạn hiền
Tám mừng đôi tấm thề nguyền thuỷ chung
Chín mừng gặp khách quần hồng
Mười mừng kết nghĩa loan phùng từ đây
- Chàng ở trên ấy làm chi
Xung quanh là núi tứ vi là đồi
Chàng về Bạch Hạc cùng tôi
Sớm thì đi học, chiều chơi đánh cờ.
- Thử vàng, thử lửa, thử than
Chim khôn thử tiếng, người ngoan thử lời
Lạ lùng ta thử nhau chơi
Họa là cá nước chim trời gặp nhau
Chim trời như thể miếng cau
Cá nước như thể lá trầu hỡi ai
Thử nhau vì nết vì tài
Ai thử hú họa vật nài vu vơ
Hỡi người quân tử thẩn thơ
Đừng thấy cá nước lại vơ chim trời.
- Một mình ăn hết bao nhiêu
Mà đi cấy sớm, cấy chiều cho đen
- Mình em ăn hết chẳng nhiều
Nhưng em cấy sớm cấy chiều nuôi anh…
Hát Ví sông bến Hạc được tồn tại bằng truyền miệng. Khó khăn lớn nhất hiện nay là loại hình nghệ thuật dân gian này rường như đã bị mai một từ lâu. Những người còn tâm huyết với hát Ví không nhiều và hầu hết lại là người cao tuổi, trí nhớ bị mai một, sức khỏe hạn chế. Mặt khác công nghệ số ngày càng phát triển, thế hệ trẻ ít quan tâm đến loại hình nghệ thuật dân gian này. Rất cần những kết quả nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa, trong xu thế hội nhập toàn cầu và đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công nghệ 4.0; 5.0 để bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.
          2.2.3- Hát Ví đồi chè
          Hát Ví đồi chè là loại dân ca đặc biệt của vùng dân trồng chè, một đặc sản nổi tiếng của Phú Thọ tại 2 huyện Thanh Ba và Hạ Hòa. Những dãy đồi như bát úp giăng hàng, những vạt chè trải rộng trên sườn đồi qua các xã Thái Ninh, Đông Lĩnh, Đồng Xuân, Ninh Dân, Thanh Vân huyện Thanh Ba, tới vùng đồi huyện Hạ Hoà, nơi trai gái lên nương hái chè. Ở đây phong cảnh trữ tình, lòng người dào dạt, để những bài hát Ví cất lên. Khi hát, thường là một bên nam, một bên nữ, “từ gò bên này tới gò bên kia”. Hát Ví đồi chè đã trở thành điệu hát giao duyên độc đáo của nam thanh, nữ tú vùng chè.

- Gặp đây anh nắm cổ tay
                    Anh hỏi nhời này nàng nói làm sao
Cái gì mà sắc như dao
                    Mà rộng như biển mà cao như trời.
- Mắt anh thì sắc như dao
                    Miệng rộng như biển trán cao như trời.
- Tam Sơn, tứ hải, nhất phần điền
                    Anh mà giảng được em liền theo không.
                    - Tam Sơn là núi, tứ hải là sông
                    Phần điền là đồng, theo không là nàng.
- Anh ơi, yêu nhau quả ấu cùng tròn
                    Ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông.
- Biết nhau từ thuở buôn thừng
                    Trăm chắp ngàn nối ta đừng quên nhau.
- Gặp đây anh nắm cổ tay
                    Anh hỏi nhời này nàng nói làm sao
                    Núi kia ai đắp lên cao
                    Sông kia, bể nọ ai đào nên sâu
                    Nhịp kia ai bắc nên cầu
                    Sông kia nước chảy về đâu hỡi nàng?
                    - Cổ tay vừa trắng vừa tròn
                    Mó vào mát lạnh như hòn tuyết đông
                    Đôi ta xứng đáng vợ chồng
                    Duyên trời đã định, tơ hồng đã xe
                    Dù ai khuyên dỗ nàng chớ có nghe
                    Ông tơ, bà nguyệt đã xe ta rồi
                    Dù ai khuyên đứng dỗ ngồi
                    Thì nàng cũng nói một lời thuỷ chung.
- Bên kia có lũ đứng đông
                    Đứng lẫn đứng lộn, đàn ông đàn bà
                    Các bác đứng dịch chân ra
                    Để tôi đối địch với ba cô này
                    Được thời ăn đĩa trầu cay
                    Thua thời cởi áo, giang tay ra về.
- Lạ lùng em mới đến đây
                    Lạ rừng, lạ đất, em nay lạ nhà
                    Ba anh, em lạ cả ba
                    Bốn anh lạ cả bốn, biết là quen ai.
- Cất lên một tiếng cho xinh
                    Cho Loan nhớ Phượng, cho mình nhớ ta
                    Mình nhớ ta như cà nhớ muối
                    Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng
                    Mình về có nhớ ta chăng?
                    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
                    Năm quan mua lấy miệng cười
                    Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen
                    Răng đen ai nhuộm cho mình
                    Để duyên mình thắm, để tình ta say.
- Thấy tiếng mà chẳng thấy người
                    Như đứng chỗ dột, như ngồi chỗ mưa.
- Bên kia gò, bên này cũng gò
                    Có phải nhân ngãi thì dò sang đây
                    Bên kia nương, bên này nương
                    Có phải nhân ngãi, tìm đường sang chơi.
- Lạ lùng ta mới tới đây
                    Thấy chè thì hái, biết cây ai trồng
                    Chè đâu thơm lạ thơm lùng
                    Thơm cả người hái, người trồng cũng thơm.
- Rủ nhau lên núi hái chè
                    Hái dăm ba mớ, xuống khe ta ngồi
                    Lạ lùng ta mới tới đây
                    Thấy gốc chè mạn, thấy cây chè chồi
                    Thấy em được nết, được người
                    Cho nên anh quyết ở đời với em.
- Thấy nàng thoăn thoắt hái chè
                    Anh đây nhất quyết tìm về chơi xuân.
- Vì chàng em mới tới đây
                    Vì gốc chè mạn, vì cây chè chồi
                    Khi xưa anh đứng em ngồi
                    Thiên hạ hàng xứ đồn đôi vợ chồng
                    Bây giờ không lại hoàn không
                    Thiên hạ hàng xứ đồn dông đồn dài.
- Xa gì bên ấy, bên này
                    Mà anh chẳng dám bớt ngày sang chơi
                    Sang chơi anh nhớ hẹn ngày
                    Để em ngắt ngọn chè tươi bắc cầu
                    Chè tươi chưa bắc được cầu
                    Thì anh xe chỉ bắc cầu em sang.
- Em là con gái nhà ai
                    Thắt lưng nhiễu tím, đôi tai hoa trầm
                    Sang đây anh hỏi thực nàng
                    Chè xanh anh sánh với trầm nên chăng?
- Cái kim xỏ sợi chỉ đen
                    Dịp này anh quyết làm quen với mình
                    Ăn gỏi phải đánh dấm thanh
                    Ta phải luỵ mình lăm lắm mình ơi!
- Tìm nàng sáu bẩy hôm nay
                    Tỉnh Nam, tỉnh Bắc, tỉnh Đoài, tỉnh Đông
                    Tìm nàng như phượng tìm rồng
                    Như cá tìm nước, như rồng tìm mây.
- Mình nhớ ta như cà nhớ muối
                    Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng.
- Hôm nay mới lại gặp chàng
                    Xin chàng trả lại khăn hồng cho em.
- Khen ai khéo cắt vuông tròn
                    Khéo khâu chỉ tím, khéo luồn chỉ xanh
                    Khăn này mới thực của anh
                    Ở giữa thêu bướm, bốn vành thêu hoa
                    Khăn này khăn ái khăn ân
                    Ai mà mượn mất trong lòng xót xa.
- Chợ Ẻn, một tháng sáu phiên
                    Cái nón em đội thực tiền anh mua
                    Chẳng tin anh tháo lấy tua
                    Anh tháo lấy móc, anh luồn lấy thao
                    Nàng về nàng nghĩ làm sao
                    Để anh trả nón quai thao nàng về.
- Nón em em đội trên đầu
                    Chàng mà lấy mất em về sao đang
                    Chàng ơi trả nón em xin
                    Để em lấy nón khi đi khi về.
- Em về thu xếp việc nhà
                    Anh lo chẳng được anh hoà chẳng xong
                    Làm chi dở đục dở trong
                    Để dạ anh nhớ, để lòng anh thương.
- Trầu nhạt thời bởi tại vôi
                    Duyên ta chểnh mảng tại người dèm pha.
- Đêm qua đêm lạ đêm lùng
                    Anh đem áo vắn đắp cùng nàng ơi
                    Thấy áo mà chẳng thấy người
                    Như đứng chỗ dột, như ngồi chuồng chim
                    Nhớ em chẳng dám đi tìm
                    Thương em chẳng dám gửi tin về nhà.
- Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng
                    Công anh gắn bó với nàng từ lâu
                    Bây giờ nàng lấy chồng đâu
                    Để anh xin giúp trăm cau nghìn vàng
                    Năm trăm thì gửi cho nàng
                    Còn năm trăm đốt, giải oan lời thề.hatranghatvi
- Chim khôn đậu nóc nhà quan
                    Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng
                    Chim khôn mắc phải lưới hồng
                    Anh mà gỡ được đền công lạng vàng
                    Đền vàng anh chẳng lấy vàng
                    Anh mà gỡ được thì nàng lấy anh.
- Đương khi trời nắng chang chang
                    Xa cây, xa bóng, xa làng, xa dân
                    Nàng cho anh mượn cái nón làm ân
                    Xa xôi lắm lắm có gần đâu ai
                    Phòng khi giã trúc mưa mai
                    Cậy nàng chẳng được, anh biết cậy ai bây giờ
                    Duyên kèm cái ngãi tình cờ
                    Nàng cho anh mượn cái nón từ giờ đến mai.
          2.2.4- Hát Ví làng Lâu Thượng
          Làng Lâu Thượng nay là xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Làng chia làm 7 thôn, mỗi thôn có một ngôi đình nên Lâu Thượng còn gọi là “Bẩy đình làng Lâu Thượng”. Từ xa xưa, làng Lâu Thượng có tục hát Ví. Hát Ví được hát ở 7 đình làng. Cũng như các loại hình văn nghệ dân gian khác, hát Ví làng Lâu Thượng là hình thức thỏa mãn nhu cầu giao lưu văn hoá, văn nghệ; giao lưu tình cảm của người lao động một cách ý nhị và thuận lợi nhất. Nó trở thành món ăn tinh thần, bổ dưỡng tâm hồn, tình cảm của những người lao động bình dân, sau những ngày lao động vất vả, người ta thường mượn ánh trăng, dòng nước, sân đình để thả hồn sang với bạn.
Hát Ví không khó bởi lời hát chủ yếu được phát triển trên nền tảng gốc là ca dao nhưng để có điệu hát Ví hay cần sự sáng tạo thông minh và khả năng đối đáp linh hoạt, nhanh trí của người hát. Là thể loại hát đối đáp nên ngoài việc tập kỹ năng ca hát, người yêu hát ví còn thường xuyên học hỏi, tích lũy vốn văn thơ dân gian cũng như văn thơ bác học (nhiều câu hát ví được trích ra từ Truyện Kiều, từ các điển tích, điển cố…). Để có được các câu hát phong phú, đa dạng hơn về nội dung, người hát Ví phải có một số vốn nhất định thì mới có thể đối đáp được nhanh, được đúng ý của bạn hát. Có thể nói vốn liếng này phần lớn nằm trong Truyện Kiều. (Truyện Kiều có 3254 câu. Nguyễn Du đã dành cho Kim Trọng và Thuý Kiều buổi đầu gặp gỡ 425 câu, cuối Kiều tái hồi Kim Trọng có 510 câu. Cộng là 935 câu, chiếm khoảng 23% của truyện). Ngoài ra còn có những câu viết về mối tình của Kiều - Thúc Sinh, Kiều - Từ Hải. Vì vậy những người tham gia hát Ví phải đọc và học thuộc nhiều câu Kiều của cụ Nguyễn Du. Hát Ví làng Lâu Thượng thường có các chặng hát: chào hỏi, mời trầu, hát đố, hát họa, xe kết.
+ Hát chào hỏi: là hát chào hái, giới thiệu về tên tuổi, gia thế:
          Nữ:              - Gặp đây tính mới hỏi tình
                              Hỏi chàng quê quán quý danh là gì?
                              Xuân xanh bao tuổi đương thì?
Vợ anh đã có, con thì bao nhiêu.
          Nam:         - Quê anh xóm Nội gần thôi
                              Thường thường anh vẫn sang chơi chốn này
                              Tình cờ anh gặp em đây
                              Thuỷ chung như nhất là hay trăm đường
                              Tên anh là Vũ Lộng Chương
                              Tuổi vừa hai bốn, chưa đường thất gia (gia thất)
                              Mong sao sum họp một nhà
                              Để thầy mẹ biết để ta yên lòng.
          Nữ:              - Quê em vốn ở thôn Nam
                              Tuổi vừa mười tám làm quen việc đồng
                              Em nay là gái chưa chồng
                              Đêm nằm thao thức những mong cùng chờ
                              Hôm nay gặp bạn tình cờ
                              Mong sao kết tóc xe tơ cùng chàng.
          Hoặc:           - Số em là số đào hoa
                              Thấy chàng lịch thiệp em ra đây chào
                              Nhà anh mấy vị anh hào
                              Mấy người tài sắc, mấy người sắc phong.
          Nam:            - Thấy em là gái tài ba
                              Anh xin bày tỏ để mà em hay
                              Nhà anh ba vị anh hào
                              Bốn người tài sắc, năm người sắc phong
                              Sáu người đô đốc quận công
                              Bẩy người tiến sĩ hoặc phong tú tài
                              Tám ngài chánh tổng quan cai
                              Chín người anh rể, mười người chị dâu
                              Đền chùa, miếu mạo không đâu
                              Nhà anh Chín quán, mười cầu trong dân
                              Phần anh gia thất kể rồi
                              Phần em, em kể cho tôi được tường.
          Hát chào hỏi thường mở đầu bằng cặp từ “Đêm qua” hoặc “Lắng nghe”.
- Đêm qua mở cửa chờ ai
Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim
- Đêm qua em nằm nhà ngoài
Em têm chục mốt chục hai miếng trầu
Chờ chàng chẳng thấy chàng đâu
          Để cau long hạt để trầu long vôi.
- Lắng nghe lời nói hữu tình
                              - Lắng nghe lời nói ngọt ngào
                              - Lắng nghe tiếng hát đâu đây
                              - Lắng nghe tiếng hát xa xa…
+ Hát mời trầu: tạo tình cảm thân mật trong buổi đầu gặp gỡ
- Miếng trầu để đĩa bưng ra
Chẳng ăn cầm lấy giao hoà cùng nhau
- Miếng trầu là miếng trầu cay
Làm cho tình ái bên đầy bên vơi
Miếng trầu têm để trên cơi
Nắp vàng đậy lại đợi người tri âm
- Miếng trầu têm để bên Nam
Đem sang bên Bắc mời nàng hôm nay
Miếng trầu xanh rõ như mây
Hạt cau đỏ dọi như dây tơ hồng
Miếng trầu như trúc như thông
Như hoa mới nở, như rồng mới thêu
Miếng trầu uốn éo trăm chiều
Như là thuốc dấu, bùa yêu mặn mà
- Trầu lộc ăn với cau dừa
Thoang thoảng dưới gió dưới mưa ầm ầm
Yêu nhau nước chắt nên trong
Em dốc một lòng chờ đợi lấy anh
- Miếng trầu tươi tốt xinh sao
Miếng trầu mua ở chợ nào lên đây
Cau nào cau ở trên cây
Khen ai vun đắp cau này tốt tươi
Ăn trầu lại nhớ tới vôi
Khen ai nung nấu cho vôi đậm đà.
+ Hát đố
- Gặp đây anh nắm cổ tay
                    Anh hỏi nhời này nàng nói làm sao
                    Cái gì mà sắc như dao?
                    Cái gì phơn phớt lòng đào hỡi em?
                    Cái gì trong trắng ngoài xanh?
                    Cái gì soi tỏ mặt anh mặt nàng?
                    Cái gì xanh, đỏ, trắng, vàng?
                    Cái gì ăn phải dạ càng ngẩn ngơ?
                    Cái gì năm đợi tháng chờ?
                    Cái gì mà đội phất phơ trên đầu?
                    Cái gì sắc như dao cầu?
                    Cái gì tiễn chũm cho nhau ăn cùng?
                    Một quan là mấy trăm đồng?
                    Một mối tơ hồng là mấy trăm dây?
                    Một cây là mấy trăm cành?
                    Một cành là mấy trăm nhành bông hoa?
                    Đố nàng mà giảng cho ra
                    Để ta kết ngãi, giao hoà Trần Châu”.
- Mắt anh thì sắc như dao
                    Trứng gà phơn phớt lòng đào đó anh
                    Tre non trong trắng ngoài xanh
                    Gương Tầu soi tỏ mặt anh mặt nàng
                    Chỉ ngũ sắc xanh, đỏ, trắng, vàng
                    Bùa yêu ăn phải dạ càng ngẩn ngơ
                    Yêu nhau năm đợi tháng chờ
                    Ba vuông nhiễu tím chàng đội phất phơ trên đầu
                    Con mắt chàng sắc như dao cau
                    Cau non tiễn chũm cho nhau ăn cùng
                    Một quan là sáu trăm đồng
                    Một mối tơ hồng là sáu trăm dây
                    Một cây là sáu trăm cành
                    Một cành là sáu trăm nhành bông hoa
                    Em ngồi em tính đã ra
                    Thì anh kết ngãi giao hoà cùng em.
+Hát họa:
Hát họa cũng thường đi đôi với nhau từng cặp “yêu, thương; mưa, nắng”.
                    - Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương người ấy có duyên chăng là
Năm thương má thắm như hoa
Sáu thương người đẹp cho ta phải lòng
Bẩy thương em chửa có chồng
Tám thương ta quyết một lòng yêu nhau
Chín thương sắp chỉ gieo cầu
Mười thương ta quyết Trần Châu đỏ vàng.
- Tháng giêng là tháng mưa xuân
Tháng hai mưa bổi tần ngần mưa xe
Tháng ba lập trận mưa rào
Tháng tư mưa giã lọt vào động tiên
Tháng năm là tháng mưa liền
Tháng sáu mưa lớn cho tiên gội đầu
Tháng bẩy là tháng mưa ngâu
Bước sang tháng tám mưa dầu tốt tươi
Tháng Chín là tháng mưa rươi
Tháng mười, một, chạp mưa thời sang đây (?)
Mưa phùn, gió bấc lạnh lùng
Hỏi ai có thấu nỗi lòng chăng ai?
- Mưa thì anh đã hoạ rồi
Nắng đến em hoạ cho anh bằng lòng.
Tháng giêng nắng ít mưa nhiều
Tháng hai nắng đã có chiều ấm hơn
Tháng ba mưa nắng chập chờn
Tư, năm nắng hạ nóng hơn mọi mùa
Tháng sáu nắng cũng vừa vừa
Nhường cho tháng bẩy là mùa mưa ngâu
Tháng tám nắng lại bắt đầu
Làm cho trái bưởi xém đầu kém tươi
Tháng chín nắng đã dịu rồi
Tháng mười, một, chạp là thời nắng đông
Nắng thì em đã kể xong
Có gì sai sót mong anh sửa giùm.      
+ Hát xe kết
- Bao giờ cho hương bén hoa
Khăn đào bén túi cho ta bén mình
Thuyền không đậu bến Lan Đình
Ta không, ta quyết lấy mình mà thôi.
- Đôi ta như bạn chăn trâu
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng
Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho trăng bén gió cho nàng bén anh…
- Ra về tay nắm lấy tay
Mặt nhìn lấy mặt, lòng say lấy lòng.
2.2.5- Hát Bỉ ở bản Mường
          Trong kho tàng ca hát dân gian, người Mường ở Phú Thọ có hình thức ca hát giao duyên, đó là hát Bỉ. Bỉ tiếng phổ thông là Ví, đây là hình thức đối ca nam nữ. Ví giao duyên là tiếng nói tâm tình của trai gái đang xuân, thông qua lời ca tiếng hát mà nói lên tiếng nói tình cảm của tâm hồn và không ít cặp nam nữ đã mượn câu hát nói lên tâm tình trong sáng và chân thực để rồi đi đến hôn nhân.
Ở vùng Mường Thanh Sơn, đồng bào hát Bỉ bằng tiếng phổ thông. Các câu hát cho tới thể thức hát cũng không khác câu Ví giao duyên của người Kinh. Buổi hát chia thành các bước: Chào hỏi, mời trầu, xe kết rồi chia tay; cũng có các chặng hát lề lối như than trách, hát đố và cũng có đố hoa, đố quả, đố chim... Có thể hiểu rằng Bỉ người Mường biểu hiện sự giao thoa văn hoá giữa hai nhóm Kinh - Mường. Người Mường thường hát Bỉ trong các ngày vui như lễ cưới, hội còn, chơi đu hay cuộc mỡi và ở những phiên chợ lớn…
          + Hát chào hỏi:
- Gặp đây mận mới hỏi đào
Vườn hồng có cổng ai vào hay chưa?
- Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có cổng nhưng chưa ai vào.
- Ở nhà anh mới ra đây
Chân ướt chân ráo chân dầy bùn khô
Hỏi đây ba bốn cụ đồ
Mận non ăn được hay chờ đào tiên?
- Mận non ngọt lắm anh ơi
Đào tiên chín rũ nó rơi ven đường.
Đào tiên ăn phải mất tiền
Mận non ăn phải kết duyên Châu Trần.
- Xin hỏi cô mận, cô đào
Vườn xuân đã có ai vào hay chưa?
- Anh hỏi thì em xin thưa:
Vườn xuân đã có nhưng chưa ai vào.
+ Hát mời trầu:
- Gặp đây ăn một miếng trầu
Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng
Trầu này trầu phượng trầu rồng
Từ vua đến chúa cũng dùng nữa ta
Trầu này têm tối hôm qua
Dấu cha, dấu mẹ đem ra đây mời.
- Đôi ta bắt gặp nhau đây
Lấy gì làm bạn ngày rầy kết duyên
Vắng chàng dạ ủ lòng phiền
Khăn trầu trong túi mở liền trao ra
Xin chàng chớ vội về nhà
Mời chàng xơi tạm trầu hoa em này.
+ Hát xe kết:
- Tình ở xứ Bắc, Tính ở xứ đông
Ai đem Tình Tính giao thông một nhà
Tính với Tình đường xa chớ ngại
Tính với Tình kết ngãi phu thê
Tình còn đây sao Tính vội về
Ai làm cho Tính say mê vì Tình
Tính với Tình đêm ngày rầu rĩ
Tính với Tình biết nghĩ làm sao
Ai đem mận đến hỏi đào
Ai đem Tính đến buộc vào Tình đây..
- Chia tay, trăng đã xế tà.
Chia tay anh nhé, nhà xa em về.
+ Hát Ví chúc (Chúc nhau ngày tết, ngày hội...)
- Em đi đến đây em chúc nhà ông này
Mùa thu thời cấy, mùa đông thời cày
Được mùa ta lại ơn trời
Tháng Chín gặt đoạn hòm vơi lại đầy
Em đi đến đây em chúc nhà ông này
Nước lộc nước tài, quan sang hầu hạ
Từ ngày bẩm sinh
Bố mẹ anh ăn ở hiền lành mới sinh ra anh hiền
Sinh ra con rể bằng tiền
Ông bà tăng thọ một nghìn trăm năm.
+ Hát Ví đồn (Khi gặp gì, nghe đồn đại...)
Đồn rằng nhà anh có quạt có cờ
Có võng có lọng, giường thờ có ngai
Đồn rằng nhà anh có đài
Có giá đũa bát đến vài ba trăm
Có hũ bịt bạc để đựng rượu tăm
Màn che, trướng rủ đúng trăm ngàn vàng.
+ Hát Ví đêm trăng:
Ai trồng trầu là giầu
Ai trồng trăng là giăng
Trầu nở bông bạc trắng
Trầu đơm bông lá dầy
Đường này là đường em qua, hay đi
Ai trồng cây si  làm gì
Chỗ này là chỗ em qua hay ngồi
Em qua đan đôi quạt xẻ
Mạch nước này là mạch nước em qua hay uống
Đựng nước bằng lá giầu
Cầu này là cầu em qua hay sang
Ai hay qua đón đợi
Em qua đã cầm miếng trầu quả cau
Đợi ai từ hôm qua không thấy hôm qua
Đợi ai từ hôm nay không thấy hôm nay…
                           (Theo bà Đinh Thị Tiên, dân tộc Mường, huyện Tân Sơn hát lại)
  1. Lời kết
          Hát Ví được hình thành trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hát Ví Phú Thọ được tồn tại bằng truyền miệng. Khó khăn lớn nhất hiện nay là loại hình nghệ thuật dân gian này rường như đã bị mai một từ lâu. Những người còn tâm huyết với hát Ví, hát ống không nhiều và hầu hết lại là người cao tuổi, trí nhớ bị mai một, sức khỏe hạn chế, như chuối chín cây. Công nghệ số ngày càng phát triển, thế hệ trẻ hiện nay ít quan tâm đến loại hình nghệ thuật dân gian này. Rất cần những kết quả nghiên cứu về sự biến đổi của văn hóa, trong xu thế hội nhập toàn cầu và đặc biệt là trong thời đại bùng nổ công nghệ 5.0 để bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc.
Sự góp mặt của hát Ví làm cho kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian thêm phong phú và đa dạng, không chỉ là nét bản sắc văn hóa của người dân Phú Thọ mà đang đặt ra cho các nhà hoạt động văn hoá giàu tâm huyết, các cơ quan chức năng và mỗi người dân luôn trân trọng, bảo tồn và phát huy những giá trị nhân văn để loại hình văn hoá phi vật thể này được khôi phục, đồng hành cùng dân tộc trên con đường hội nhập và phát triển./.
 
* Tài liệu tham khảo:
  1. Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003.
  2. Địa chí Vĩnh Phú - Văn hóa dân gian vùng đất Tổ. (1986), Sở Văn hóa & Thông tin Vĩnh Phú xuất bản.
  3. 3. Nguyễn Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  4. Dương Huy Thiện (2015), Dân ca đất cội nguồn. Tập tư liệu.
  5. Phạm Bá Khiêm (2018). Lễ hội vùng Đất Tổ; NXB VH các DTVN.
  6. Tổng tập VNDG Đất Tổ (2000- 2005). Hội VNDG Phú Thọ.
  7. Kinh đô Văn Lang (2006); Sở văn hóa thông tin & thể thao Phú Thọ xuất bản.
  8. Việt Trì xưa và nay (2001). Hội VNDG Phú Thọ xuất bản.
  9. Tài liệu kiểm kê DTLSVH tỉnh Phú Thọ các năm 1964; 1997.
                                                                            
                                                                            Tháng 5 / 2025
                                                                                              P.B.K
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 21
Trong ngày: 316
Trong tuần: 2073
Lượt truy cập: 887032
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN CÔNG NHÂN
Điện thoại liên hệ: 0913 269 931 - 0964 131 807
Email liên hệ: Nhà văn Cầm Sơn: soncam52@gmail.com 
 
ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VÀ TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
- Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Lê Tuấn Lộc - Chi hội trưởng.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn Cầm Sơn - Trưởng Ban Truyền thông