Nguyễn Đạo Vinh
CHIẾU TƯỚNG
(Trích trong “Chuyện tào lao”)
Ngồi trong hội trường, ông Tính cứ gật gà, gật gù, vì sáng nào ông cũng phải dậy sớm làm rau cho con gái mang lên chợ. Ông giật mình tỉnh giấc khi nghe thấy cô trưởng ban tổ chức nhắc đến cái tên Lương Hài. Ông dụi mắt rồi dướn người lên để nhìn cho rõ, gương mặt của người đứng trên bục.
Chăm chú nhìn một lúc lâu, ông khẳng định: “Đúng rồi, đúng là thằng Hài rồi, mặt có già hơn, người mập hơn, da dẻ trắng hơn, nhưng vẫn không thể dấu nổi cái nốt ruồi, như con đỉa trâu nằm ở dưới cằm của nó’’.
Hài đã đưa ông Tính trở về với ký ức của hơn bốn chục năm về trước. Năm 1972, nghe theo tiếng gọi của non sông, ông Tính đã bỏ lại mẹ già, vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường vào Nam chiến đấu. Do có bản tính cần cù, chịu khó, ông được cấp trên giao nhiệm vụ, trông coi kho lương thực, thực phẩm, thuốc men của bộ đội.
Vào những năm, tháng chiến tranh ác liệt ấy, để che mắt máy bay địch và sự lùng sục của bọn thám báo Mỹ, ngụy, các cụm kho được phân tán, rải rác trong rừng sâu. Lán nọ cách lán kia độ vài trăm mét. Cả cụm kho chỉ có ông và Toan người Phú Thọ canh giữ. Ngày phải chia nhau đi tuần để đuổi sóc, khỉ, vào móc gạo, hoặc cướp đi những hộp sữa, hộp thịt, thuốc men v v. Đêm đến, phải nhập hàng từ ngoài Bắc đưa vào. Có đêm ông cùng Toan phải cõng trên vai vài, ba chục tấn hàng. Công việc khó khăn, vất vả là vậy, nhưng cả ông và Toan đều cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Khi Toan bị sốt rét nặng phải đưa ra quân y viện điều trị, thì Hài được điều về bổ sung. Hài có dáng người chắc đậm, da thất bì, ở dưới cằm của hắn có một nốt ruồi to. Đó là đặc điểm duy nhất để ông Tính nhận ra Hài ngay từ những phút đầu.
Chờ cho tiếng ồn ào lắng xuống, Hài mới chậm rãi nói:
- Thưa các đồng chí! Trong không khí phấn khởi của toàn Đảng, toàn dân nhân kỉ niệm sáu mươi năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân. Để ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, tôi xin phép được kể lại câu chuyện của cá nhân mình để chúng ta thấy rõ, tinh thần và ý thức trách nhiệm của một công dân trong thời chiến.
Hài vớ cốc nước tu một ngụm rồi tiếp tục lên giọng:
- Năm 1972, giặc Mỹ điên cuồng đưa máy bay B52 ra đánh phá miền Bắc chúng ngang ngược tuyên bố: ‘’Đánh cho Việt Nam trở về thời kì đồ đá”. Chúng rải bom xuống bệnh viện Bạch Mai, khu phố Khâm Thiên, đài phát thanh Mễ Trì cùng nhiều nơi khác, làm chết bao dân thường vô tội. Chứng kiến cảnh giết chóc giã man của đế quốc Mỹ, tôi đã cùng hơn chục thanh niên trong làng viết đơn tình nguyện xin ra mặt trận chiến đấu. Mặc dù lúc đó tôi mới bước sang tuổi mười bảy.
Dừng một lát, dường như để cho mọi người chú ý, sau đó Hài nói tiếp:
- Nhiều đồng chí ở đây đã kinh qua chiến đấu trên các chiến trường B, C thì chẳng lạ gì. Nó ác liệt, ghê ghớm đến mức không thể tưởng tượng nổi, cơm không kịp ăn, mệt không kịp nghỉ, lúc nào cũng lăm lăm khẩu súng để sẵn sàng nhả đạn. Trên đầu, máy bay của giặc quần đảo, thả bom, bắn rốc két. Dưới đất, các loại hỏa lực của địch vãi đạn ra như mưa, thế mà chúng tôi vẫn phải xông lên để giành chiến thắng. Hài đưa tay lên vỗ, một số người ở hàng ghế đầu cũng đưa tay lên vố đèn đẹt mấy tiếng rồi tắt ngấm. Hài nói tiếp:
- Trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khó khăn, gian khổ là thế mà chúng ta vẫn chiến thắng. Nay trong thời bình chúng ta lại phải đương đầu với lũ giặc nội xâm. Đó là, tệ quan liêu, tắc trách, tham nhũng, cửa quyền và đặc biệt là các hiện tượng tiêu cực, lợi ích nhóm đang hoành hành dữ dội. Vì vậy mỗi đồng chí chúng ta phải phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sẵn sàng sả thân, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, để xứng đáng với danh hiệu ‘’Anh bộ đội cụ Hồ’’. Hai là, ra sức vận động nhân dân đóng góp tiền của để nhanh chóng xóa đói, giảm nghèo trong địa bàn phường ta và dứt khoát, không được để lại ai phía sau. Ba là chống mọi biểu hiện tiêu cực, tự diễn biến, tự chuyển hóa, nói và làm đều phải dựa trên các nguyên tắc mà Đảng đã đề ra.
Trên bục, Hài nói thì Hài nghe, ở dưới, tiếng xì xào bàn tán mỗi lúc một rộ lên, họ cứ nhấp nha, nhấp nhổm, tiếng xô bàn, kéo ghế kêu ken két. Hài cảm thấy khó chịu liền đưa mắt nhìn quanh, lát sau không khí trong hội trường đã tạm lắng, Hài nói tiếp:
- Cuối cùng tôi xin thay mặt Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc phường Đầm Đa, gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe và lời chào trân trọng nhất.
Sau vài tiếng vỗ tay lẹt đẹt, ông Chiến hội trưởng, Hội cựu chiến binh phường Đầm Đa lên cảm tạ, lĩnh hội ý kiến và sau cùng là những lời hứa hẹn. Cuối buổi là cuộc liên hoan thân mật của chi hội.
Hài cùng ông Chiến và mấy vị lãnh đạo phường, tay cầm chén rượu đi đến từng bàn để ra mắt mọi người. Đến bàn nào, Hài cũng làm ra vẻ thân mật, chạm cốc, zô, zô, zật, zật rồi hoan hỉ bắt tay.
Ông Tính vừa ăn, vừa quan sát, thi thoảng ông lại cúi mặt xuống cười một mình. Khi thấy Hài đi tới bàn mình, ông cứ vờ như không biết. Chỉ đến khi ông Chiến giới thiệu, chủ tịch Lương Hài tới chúc rượu, ông mới ngẩng lên.
Hài đang tươi tỉnh cười nói với mọi người, thì bỗng dưng khuôn mặt hắn trở nên, đờ đẫn, méo xệch, xám ngoét, chiếc chén trên tay rơi xuống sân gạch vỡ tan. Mọi người nháo nhác xúm quanh. Mấy bộ sậu thân cận dìu Hài vào hội trường. Người thì bảo Hài bị trúng gió, người thì cho là Hài bị say rượu. Họ xì xào một lúc rồi tiếp tục đánh chén. Chỉ riêng ông Tính cứ lầm lũi đưa thức ăn lên mồm, vì ông đã biết rõ căn bệnh của Hài.
***
Hài là một chàng trai nhút nhát, cứ nghe thấy tiếng máy bay quần đảo quanh khu vực, là hắn ta lại rúc đầu vào những chồng gạo. Ban đêm, Hài không dám đi ra ngoài tiểu tiện, hắn tè luôn ra đầu võng vì hắn sợ hổ vồ. Đêm nào phải bốc hàng, ông Tính giao cho Hài đi kiểm tra các kho, thì Hài giả vờ đi một đoạn rồi vùi đầu vào kho gạo để ngủ. Và chẳng hiểu sao, cứ dăm bữa, nửa tháng, tai của Hài lại đỏ lựng, sưng tấy. Các bác sỹ quân y viện, cứ khám đi, khám lại, vẫn không phát hiện ra bệnh của Hài. Hài cáo ốm không khuân hàng, không đi gác, công việc dồn hết lên đôi vai ông Tính.
Miền Trung đã bước vào mùa mưa, những chuyến hàng ra vào cũng thưa dần. Không phải bốc hàng, ông Tính lại đi kiểm tra, che chắn các kho gạo, kho muối để khỏi bị dột ướt. Có hôm phải hai, ba giờ sáng ông mới về đến lán. Hài thì cứ nằm như cái xác không hồn, thi thoảng hắn lại rên rỉ, nhiều hôm hắn bỏ bữa làm cho ông Tính hết sức lo lắng.
Có một điều lạ, cứ hôm nào ông Tính ngửi thấy mùi dầu tây là y như rằng hôm sau Hài lại bị đau tai đòi lên quân y viện để khám. Qua nhiều lần như vậy, ông Tính bắt đầu sinh nghi. Nhiều đêm ông giả vờ đi gác rồi bí mật quay lại để theo dõi. Ông phát hiện ra Hài quấn chút bông vào đầu que, nhúng vào chai dầu rối nhỏ vào lỗ tai, thì hôm sau hai tai Hài sưng vù, đỏ lựng.
Quyết không thể để một quân nhân giở trò chây ỳ, hèn nhát trước mặt mình. Ông Tính cứ giả vờ như không biết, rồi một hôm, ông rình bắt quả tang, khi Hài đang thực hiện hành vi đớn hèn đó. Ông lớn tiếng quát:
- Mày giở cái trò này ra để trốn chạy công việc? Mày định trốn chạy đến bao giờ? Mày không thấy hổ thẹn với bao nhiêu đồng đội đang chiến đấu hy sinh ngoài mặt trận, cơm không có ăn, nước không có uống, ốm đau không có thuốc. Chỉ vì sợ chết, ngại khó, ngại khổ mà mày đang tâm lường gạt mọi người như thế hả? Ông Tính quắc mắt hướng nòng súng vào Hài rồi quát:
- Đi! Tao sẽ đưa mày lên Tiểu đoàn để cho họ trị tội. Hài sụp xuống bái lạy van xin rối rít. Lúc sau Hài lắp bắp:
- A..anh… th..a ch..o.. cho em! Từ giờ em xin chừa, em không dám qua mặt anh và mọi người nữa. Em xin hứa! Em xin hứa!
Ông Tính trừng mắt:
- Thề thốt gì mày? Tao tha cho mày để rồi ngựa quen đường cũ. Mày mà sa vào tay giặc thì tổn thất sẽ rất lớn. Ai sui mày làm như vậy?
Ngẫm nghĩ một lúc, Hài mới bắt đầu kể:
- Em nghe nhiều người nói rằng vào chiến trường thì khổ lắm, chết lúc nào không hay, vì vậy, cứ đến đợt khám tuyển nghĩa vụ quân sự là em lại trốn sang làng Đề ở nhờ bà dì dăm bữa. Ở làng Đề mấy hôm thì em gặp tay Quỳ đã ra tù vào tội mấy lần, hắn bảo: ‘’Mày muốn trốn nghĩa vụ quân sự thì đưa tao mấy xèng1 tao bày cách cho, cứ hiên ngang về làng mà sống, chẳng sợ bố con thằng nào’’. Sẵn có năm hào trong túi mẹ em cho để mua quà, em đưa tất cho nó. Nó rỉ tai em ‘’Cứ thế, cứ thế.’’ Em làm theo trốn được ba đợt. Đến đợt năm ngoái, họ không đưa giấy, em sinh chủ quan. Sáng hôm đưa thanh niên đi khám, họ vào đưa giấy rồi kéo em đi luôn. Em trúng tuyển nên đành phải đi. Trong giai đoạn huấn luyện, em không thể giở trò ấy ra được vì có rất nhiều người bên cạnh.
Đang nghe Hài kể, ông Tính cảm thấy có điều gì bất thường, ông liền ra hiệu cho Hài cầm súng đi theo. Đi được vài trăm mét, ông phát hiện ra ba tên thám báo đang dò dẫm tiến về phía lán, ông rỉ tai Hài:
- Cậu chốt ở đây, nếu thấy tôi bắn thì phải bắn hỗ trợ, ngắm trúng mục tiêu mà nổ súng. Hài gật gật như đã hiểu ý. Ông Tính vừa đi khỏi, Hài tụt ngay xuống khe đá nằm bất động.
Ba tên biệt kích lùng sục mọi ngóc nghách không tìm ra đối thủ. Tên chỉ huy châm lửa đốt lán, một loạt đạn AK găm vào lưng hắn. Hai luồng đạn AR15 cùng nhằm vào chỗ ông Tính đang ẩn nấp. Biết không thể chống cự lại với bọn thám báo nguy hiểm này, ông Tính vừa rút, vừa bắn để dụ địch. Ông chẳng may trượt chân ngã xuống suối, khẩu súng bị văng ra. Ngụp lặn một lúc để mò súng nhưng dòng lũ cứ ào ào đẩy ông ra xa. Ông chỉ kịp ôm chặt vào một thân cây trôi lềnh bềnh trước mặt.
Lùng sục một lúc, hai tên thám báo kéo xác đồng bọn rồi nhanh chân chuồn, vì sợ có lực lượng bộ đội đến ứng cứu.
Hài nằm bẹp dí trong khe đá, chiếc quần ướt sũng do nước tiểu của hắn vãi ra. Gần sáng Hài mới dám thò đầu lên, ngó nghiêng một lúc không thấy động tĩnh gì, Hài tính ngay đến chuyện phải rời khỏi nơi đây càng nhanh, càng tốt. Hài nhét những phong lương khô và những hộp sữa vào chiếc ba lô rồi khoác súng lên vai. Đi tới chỗ lán bị đốt tối qua, Hài dừng lại vục nắm tro bôi lên mặt rồi lầm lũi bước. Hài chẳng cần tìm kiếm xem đồng đội của mình còn sống hay đã chết.
***
Tiếng súng nổ ùng oàng làm cho ông Tính thức giấc, ông hốt hoảng đưa mắt nhìn quanh, trong đầu ông đặt ra câu hỏi: ‘’Sao mình lại nằm đây nhỉ? Mình đã bị địch bắt chăng?’’ Ông cựa mình thử xem, tay, chân, có bị trói không? Ông bất chợt nhìn thấy những bộ quần áo bộ đội phơi ngay bên cạnh, ông nghĩ ‘’Đây là vùng ta đang kiểm soát’’. Ông cố gắng gượng hết mức mà người cứ nặng trịch không thể ngồi dậy được, ông lại thiếp đi. Khi tỉnh dậy, ông hồi tưởng đến trận đấu súng đêm qua. Ông lo cho Hài ‘’không biết giờ này Hài đang ở đâu, nó còn hay đã mất? Liệu nó có bị bọn biệt kích bắt đi không? Nếu nó rơi vào tay giặc, thì hậu quả sẽ như thế nào?’’ Đang mải nghĩ ngợi, ông Tính giật mình khi nghe tiếng ai đó hỏi:
- Đồng chí đã tỉnh rồi à? Người đó tiến lại gần rồi nói tiếp:
- Tôi là Liên thuộc quân của Sư 320 đang đóng chốt ở đây. Sáng nay dậy sớm ra suối lấy nước thì phát hiện ra đồng chí nằm bên mép nước. Tôi hô anh em cáng về, đốt sưởi, xoa dầu, thay quần áo cho đồng chí. Cứ nằm nghỉ đi, khi nào khỏe tôi sẽ làm việc với đồng chí! Nói xong ông ta bỏ đi.
Ông Tính định bật dậy để hỏi han mấy câu, nhưng người cứ nặng trĩu, đầu nhức như búa bổ, ông nằm xuống đánh một giấc tới khuya. Nửa đêm ông tỉnh hẳn, bụng cồn cào, sôi lên ùng ục. Ông vùng dậy ngó nghiêng xung quanh, ăng gô cơm cùng tô canh được đặt trên chiếc ghế tre. Ông ngốn ngấu một chặp. Ăn xong thấy người khỏe lại, ông định ra ngoài nhưng lại sợ vi phạm kỉ luật, hoặc đá phải mìn thì mất mạng như chơi.
Sáng hôm sau người chỉ huy đến nói chuyện, hỏi han một số vấ đề, rồi biên chế ông Tính vào một đơn vị chiến đấu.
Ngày 30/ 4/ 1975 ông Tính cùng đồng đội tiến vào dinh Độc lập. Cuối năm, ông ra quân, trở về làm ruộng tại quê nhà.
***
Hài mới đi được dăm cây số thì tay, chân đã mỏi nhừ, hắn đặt ba lô xuống rồi vứt đi gần nửa số lương khô. Trong đầu Hài luôn nghĩ ‘’ Phải chuồn khỏi đây càng nhanh, càng tốt’’ vì thế hắn ra công cố sức bước tiếp. Qua hai ngày vất vả, Hài ra đến bìa rừng, hắn va phải một đơn vị bộ đội đang hành quân vào. Người chỉ huy yêu cầu Hài khai báo, Hài nói rằng, mấy hôm trước đánh nhau với thám báo nên bị lạc đơn vị.
Hài được đưa về một trạm thu dung. Ở đó được vài ngày, Hài lại giở thủ đoạn cũ, cứ dăm bữa, nửa tháng, tai hắn lại sưng vù. Hài được đưa ra Bắc điều trị rồi được ra quân.
Hài vênh vang về làng với cái giấy chứng nhận bệnh binh trong tay.
***
Lão Khuê, trưởng phòng tổ chức chính quyền huyện Đinh Điền như đang ngồi trên đống lửa. Bởi đứa con gái lão năm nay mới mười sáu tuổi, đang học cấp ba mà đã mang thai. Chuyện này mà vỡ lở, thì lão mất toi cái chức huyện ủy viên, không cẩn thận lão còn bị cho thôi việc. Đang lúc bấn loạn, bức bối, chưa biết tính sao thì Hài xuất hiện.
Sau khi xem xong hồ sơ xin việc của Hài, Lão Khuê rủ Hài ra quán nước gần đó. Lúc trở về phòng, cả lão Khuê và Hài đều mang bộ mặt tươi tỉnh. Lão Khuê ngã giá với Hài là: ‘’Nếu Hài đồng ý lấy con gái lão, lão sẽ sắp xếp cho Hài làm nhân viên quản lí chợ Tây Đô, có biên chế hẳn hoi’’. Ngoài ra lão cho thêm Hài năm chỉ vàng và một chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới toanh.
Nghe xong lời đề nghị của lão Khuê, Hài nghĩ trong đầu ‘’Chẳng biết hay dở ra sao, thôi cứ tạm thời chấp nhận rồi tính sau. Biết đâu, số mình lại gặp may thì sao?’’
Buổi trưa hôm đó, lão Khuê đưa Hài về nhà để cho hai đứa giáp mặt làm quen. Vừa nhìn thấy Thanh con gái lão Khuê, Hài đã tớn mắt lên. Thanh có dáng cao gầy, mắt bồ câu, mặt trái xoan, ngực nở nang tròn trịa, mái tóc đen nhánh buông ngang hông. Hài nghĩ trong đầu: ‘’Nhuận sắc thế này thì thằng nào chẳng muốn xơi’’. Hài cứ xoắn vào Thanh làm cho cô ta có vẻ sợ sệt đôi chút.
Đám cưới của Hài và Thanh, con gái lão Khuê được tổ chức ngay sau đó vài ngày. Sau đám cưới, Hài nghiễm nhiên trở thành cán bộ huyện Đinh Điền. Đúng là ‘’Chuột sa chĩnh gạo’’.
Chỉ sau một thời gian làm nhân viên quản lí, Hài đã kiếm ngay được miếng đất rộng sát chợ. Vài năm sau, Hài xây lên đó một căn nhà ba tầng. Dần dà, Hài mua sắm, xe máy, ti vi, tủ lạnh cùng mọi thứ đồ dùng trong gia đình. Hài đã trở thành tấm gương sáng về cách làm giàu trong huyện, trong tỉnh.
Khi huyện Đinh Điền tách ra làm hai để thành lập quận, Hài được bố vợ đưa về làm phó chủ tịch ở một phường ven đô. Làm việc ở đó mới được hơn năm, Hài đã dính vào vụ án cấp đất trái phép, ăn hối lộ v v. Nhờ có sự che chắn của bố vợ, Hài chỉ bị cảnh cáo rồi bị giáng xuống làm phường đội phó để chờ ngày nghỉ hưu.
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nạn tham nhũng quyền lực, tham nhũng đất đai ở các địa phương càng ngày càng gia tăng. Để khắc phục được các vấn nạn đó, cấp trên đã đưa ra chủ trương luân chuyển cán bộ, nhằm chấm dứt việc đưa người nhà vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt ở phường, ở xã và từng bước đẩy lùi tình trạng tiêu cực, lợi ích nhóm đã tồn tại trong nhiều năm qua.
Chủ trương luân chuyển cán bộ được đưa ra áp dụng. Nhờ vào vị thế trước đây của bố vợ, cộng với việc mang tiền đi, chạy chọt, biếu xén các cửa, Hài lại được điều động sang làm chủ tịch phường Đầm Đa.
Sau khi nhậm chức chủ tịch lâm thời phường Đầm Đa vài ngày, Hài tổ chức ngay một bữa tiệc tại nhà hàng Sơ Mít. Buổi ra mắt hôm ấy có đầy đủ các cán bộ từ lớn đến nhỏ của các tổ dân phố trong phường. Qua cuộc rượu này, Hài đã bắt rễ, sâu chuỗi được với hầu hết các tổ trưởng, tổ phó, các tổ dân phố.
Trong phường, hễ có người ốm đau qua đời, Hài lại dẫn theo một đoàn vào phúng viếng, thăm hỏi. Ngoài ra, Hài còn công đức mấy chục triệu cho việc tôn tạo đình, chùa và cho sửa sang lại nghĩa trang của phường.
Qua các việc làm như vậy, Hài đã nhanh chóng lấy lại được vị thế ở một địa bàn mới. Việc bầu bán chức chủ tịch phường sắp tới chỉ còn là hình thức, bởi, trên đã sắp đặt, thì dưới chỉ việc thi hành. Còn ‘’Dân đen đâu biết chi điều gian ngoan’’.
Hài được bầu vào Hội đồng nhân dân, trúng cử chức chủ tịch phường Đầm Đa một cách dễ ợt, bởi, làm gì có ai được phép tranh, đua với Hài.
Từ thằng đang mang án kỉ luật, mà lại nhảy tót lên làm chủ tịch phường, thì còn có cái sung sướng nào hơn. Nhưng khốn nạn thay, cái nốt ruồi to trần trẫn dưới cằm cứ phơi ra làm cho Hài thiếu tự tin. Hài đã nhiều lần muốn cắt bỏ, nhưng các bệnh viện đều từ chối, bởi họ cho rằng, ở đó có động mạch chủ và là nơi tụ họp của các đầu dây thần kinh.
Do mặc cảm với bản thân về cái nốt ruồi ấy, nên Hài dặn kĩ, những nhân viên là trưởng các bộ phận trong phường: ‘’Chỉ khi nào cấp trên về kiểm tra thì mới được gọi hắn. Những giấy tờ nào cần thông qua chủ tịch, thì cứ gom lại, cuối buổi Hài sẽ xem xét’’.
Hôm nào cũng vậy, mở cửa phòng xong, Hài lủi ngay xuống phòng bảo vệ để hút thuốc lào vặt. Nhiều hôm Hài chui tọt vào phòng ngủ của bảo vệ rồi giở chiếc điện thoại Aifon ra xem, mặc cho dân tình chờ đợi.
Hài bỏ mặc cho đám nhân viên muốn làm gì thì làm, chẳng cần kiểm tra đôn đốc. Vì thế những nhân viên dưới quyền Hài tha hồ nặn bóp. Xin cái giấy khai sinh, xin chuyển nơi ở cũng phải qua tay Cò, phải nôn đủ số tiền mà Cò yêu cầu. Xin cấp sổ đỏ đất ở, hoặc xin cấp phép xây dựng nhà ở cũng phải nôn ra dăm, bảy, chục triệu, có khi phải nôn ra hàng vài trăm triệu mới xong.
Số tiền đó bọn họ gom lại để biếu xén cấp trên, còn đâu chia nhau theo cấp bậc, thứ hạng. Vì thế cho nên, cán bộ công chức phường, dù có vi phạm lớn đến đâu, cũng vẫn có người đứng ra để lấp liếm, bao che.
Việc phải nôn tiền ra cho cán bộ công chức phường Đầm Đa khi người dân nhờ cậy, đã trở thành luật bất thành văn. Muốn được việc thì anh phải đút lót, phải hối lộ là lẽ đương nhiên. Cái lệ ấy đã tồn tại trong hơn một thập kỷ qua, làm cho nhiều hộ dân trong phường điêu đứng, bức xúc. Trước mặt thì người dân khúm lúm bẩm thưa, nhưng sau lưng thì họ thường gọi những người lãnh đạo phường là thằng này, con nọ.
Các ngôi nhà xây trên đất canh tác, xây trên đất công, cứ mọc lên như nấm, làm tắc nghẽn hầu hết các hệ thống tiêu thoát nước. Mưa xuống đường làng như một dòng sông, những cột nước đen ngòm từ các hố ga phun lên tràn vào những ngôi nhà ở vị trí thấp. Ngoài cánh đồng thì rau thối, cây chết, chẳng có lãnh đạo nào dòm ngó quan tâm.
Tâm lí sợ sệt, ngại va chạm trong mấy thập niên trước đây, đã làm cho người dân phường Đầm Đa mất hết ý chí đấu tranh. Họ không dám đề cập, đòi hỏi bất cứ việc gì, kể cả những việc có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ. Vì thế cho nên, bọn cơ hội càng ngày càng làm càn, chúng không từ một thủ đoạn nào để vơ vét, biển thủ công quỹ, biến của công thành của riêng.
Hầu hết sân của các nhà văn hóa trong phường trở thành điểm trông giữ xe ô tô, chẳng còn nơi vui chơi cho trẻ em và nơi tập thể thao cho nhân đân trong vùng. Người có lá gan to lắm mới dám đứng lên phản ánh những bức xúc cùng nguyện vọng chính đáng của dân. Khi đó, Lương Hài lại thay mặt lãnh đạo phường, cung kính nhận lỗi và đưa ra những lời hứa hẹn trước dân. Nhưng vẫn chỉ là những lời hứa xuông, bởi thi thoảng, Hài lại được các tổ trưởng của các Tổ dân phố, biếu xén và mời đi đánh chén.
Đôi khi cao hứng, Hài còn nói với bạn bè rằng: ‘’Thời buổi này mà không để cho bọn họ làm như vậy, thì sớm muộn gì mình cũng sẽ bị bật bãi’’. Ngẫm câu ‘’Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã’’ của người xưa, quá đúng trong thời buổi này.
Hài bị chiếu tướng, bị bóc mẽ, đúng vào thời điểm trong phường có nhiều dự án, nhiều màu mỡ nhất. Cú sốc hôm đó đã làm cho Hài bị đột quị, hắn không còn đứng trên bục để phét lác, rêu rao và cũng chẳng còn sức, để vơ vét thêm được nữa. Đó cũng là cái kết dành cho những kẻ, tham lam, tắc trách, đặc quyền, đặc lợi.
N.Đ.V