Nguyễn Hồng Quang
BÓNG NÚI TRONG TIM
Ngày con chưa kịp chào đời
Cha ngã xuống trên chiến trường đánh giặc
Nước mắt mẹ khóc chồng chưa khô
Nay lại khóc thương con
Chẳng bao giờ được nhìn mặt bố…
Con lớn lên chỉ biết cha mình
Qua tấm ảnh thờ và những câu chuyện kể
Phần mộ của cha chưa có tên
Đồng đội đi tìm bao năm chưa thấy...
Con cứ hình dung một ngày nào đó
Cha sẽ về bên con
Bằng xương, bằng thịt
Không phải bằng dòng tên
Trên phần bia mộ trắng
Ngày con còn trong bụng mẹ
Mẹ bảo: Cha ru con bằng tiếng súng vọng xa
Mỗi bước hành quân là tình yêu Tổ quốc
Lối về quê nhà – thơm ngát hương xưa
Cha ơi - người sinh ra con
Mà chưa một lần được nhìn thấy hình hài của con
Chưa một lần được bế con trong vòng tay người bố
Nhưng cha ơi… con hứa…
Con lớn rồi, giữa đất trời hôm nay
Sẽ sống thay phần cha gửi lại
Sẽ bước tiếp, hiên ngang và mãi mãi
Làm người – xứng với ước mong cha
Nếu một ngày cha trở về trong gió
Con sẽ ngẩng cao đầu, mỉm cười đón cha
Cha là bóng núi trong tim con vững chãi
Hóa tiếng ru theo suốt tháng năm xa…
VẦNG TRĂNG NƠI ĐỈNH TRỜI
Mây lang thang
gió tung tăng
Cao nguyên xứ đá
vàng trăng đỉnh trời
Trăm ngàn bút đá đứng ngồi
viết lên trời biếc
muôn lời hát ca…
Tiếng khèn gọi nắng thung xa
gọi tình xuân đến
chan hòa ý thơ
Đá xưa lặng lẽ như tờ
nghe làn gió mới
từng giờ đổi thay…
Bậc thang vàng nắng chân mây
cánh ong cần mẫn
đường cày xinh tươi
Em gùi mưa nắng qua đồi
gieo mùa trăng sáng
thắm trời cao nguyên
Đỉnh trời Lũng Cú gặp em
giữa mùa hoa nở
say phiên chợ tình
Vầng trăng xứ đá quê mình
lung linh ngọc biếc
thắm tình bên nhau…
ÁNH SÁNG GIỮA ĐẠI NGÀN
Mỗi lần nhìn màn hình điện thoại hay chiếc tivi hiện đại, tôi lại nhớ đến một thứ ánh sáng khác – luồng sáng từ chiếc máy chiếu phim năm nào từng xé màn đêm giữa núi rừng biên giới. Thứ ánh sáng ấy không chỉ mang điện ảnh đến với người lính mà còn sưởi ấm những năm tháng tuổi trẻ của chúng tôi.
Đó là những năm đầu thập niên tám mươi. Biên giới phía Bắc chiến sự vẫn còn nhiều căng thẳng. Trung đoàn chúng tôi làm nhiệm vụ trên địa bàn bốn huyện vùng cao của tỉnh Hà Tuyên: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn và Mèo Vạc. Giữa trùng điệp núi đá tai mèo, cuộc sống của những người lính vô cùng gian khó. Ban ngày huấn luyện, tuần tra, canh gác; đêm xuống lại đối mặt với cái lạnh hun hút của miền biên viễn và sự khắc nghiệt của núi rừng.
Trong ký ức của tôi, điều còn đọng lại sâu đậm nhất là những đêm chiếu phim phục vụ bộ đội. Mỗi khi tấm màn trắng được căng lên giữa sân đơn vị hay trên một khoảng đất bằng dưới chân núi, cả doanh trại như bừng sức sống. Mọi người háo hức, lặng lẽ chờ tia sáng đầu tiên từ chiếc máy chiếu rọi lên màn ảnh. Tiếng máy nổ đều đều hòa cùng tiếng máy chiếu lách cách quen thuộc đã xua đi cái tĩnh lặng của núi rừng, mở ra một thế giới khác cho những người lính nơi biên cương.
Cuối năm 1982, khi khóa huấn luyện tân binh của tôi ở Mậu Duệ vẫn chưa kết thúc, tôi bất ngờ được đơn vị gọi tên. Cùng với hơn chục chiến sĩ là hạt nhân văn nghệ được tuyển chọn từ các đơn vị khác lên Trung đoàn bộ ở xóm Pả Vi, huyện Mèo Vạc để tập luyện tham gia Hội diễn văn nghệ lực lượng vũ trang tỉnh Hà Tuyên.
Đó là những ngày thật sôi nổi. Sau những giờ học tập và công tác, doanh trại lại rộn rã tiếng đàn, tiếng hát, tiếng ngâm thơ, tập kịch. Dù chương trình của trung đoàn năm ấy chỉ đạt giải Khuyến khích, nhưng đối với tôi, đó là lần đầu tiên được đứng trên sân khấu lớn, dưới ánh đèn rực sáng và trước hàng trăm cán bộ, chiến sĩ. Tiếng vỗ tay của khán giả, những cuộc gặp gỡ với các đội văn nghệ đơn vị bạn đã trở thành một kỷ niệm đẹp của thời quân ngũ.
Tôi cứ nghĩ hội diễn kết thúc là mọi chuyện cũng khép lại. Không ngờ, chính chuyến đi ấy đã đưa tôi đến với chiếc micro và nghề thuyết minh phim – công việc gắn bó với tôi suốt những năm tháng còn trong quân ngũ.
Một buổi tối, trước giờ chiếu phim ở đơn vị, Ban Chính trị cần người đọc bản thông báo. Biết tôi là người từng đứng trên bục giảng trước khi nhập ngũ, nên tôi được giao cầm chiếc micro đọc vài dòng thông tin cho bộ đội. Dẫu vậy, khi tiếng nói của mình vang lên từ chiếc loa giữa khoảng sân đông người, tôi vẫn không khỏi hồi hộp. Rồi cảm giác ấy nhanh chóng qua đi. Tôi đọc chậm rãi, rõ ràng, tự nhiên như những ngày còn giảng bài cho học sinh.
Ít ngày sau, tôi lại được gọi đến để đọc lời thuyết minh cho một bộ phim nước ngoài. Tôi vẫn đọc bằng giọng tự nhiên, mộc mạc như khi đứng trên bục giảng. Sau vài lần thử, các anh trong Đội chiếu bóng quyết định đề xuất chọn tôi học nghề thuyết minh.
Người trực tiếp truyền nghề cho tôi là anh Ma Văn Lâm, quê Hàm Yên, anh đã nhiều năm làm công tác điện ảnh trong quân đội, và sắp sửa hoàn thành nghĩa vụ quân sự chuẩn bị được xuất ngũ. Không có giáo trình hay lớp học nào, anh truyền nghề ngay bên chiếc máy chiếu 35 ly, những hộp phim bằng sắt đã bạc màu và chiếc micro quen thuộc - đúng theo cách người lính vẫn gọi là "cầm tay chỉ việc".
Anh Lâm nói với tôi: "Thuyết là nói, minh là sáng. Người thuyết minh không chỉ đọc lời thoại, mà phải giúp người xem hiểu được điều bộ phim muốn gửi gắm."
Câu nói giản dị ấy theo tôi suốt những năm tháng quân ngũ. Tôi hiểu rằng người thuyết minh không chỉ đọc đúng lời, đúng nhịp, mà còn phải truyền được cảm xúc để nối màn ảnh với người xem.
Tôi nhanh chóng làm quen với công việc mới. Chỉ ít ngày sau, tôi đã được giao thuyết minh hai bộ phim nước ngoài: Trên từng cây số của Bulgaria và Cánh cửa rộng mở của Tiệp Khắc.
Hôm đầu tiên tôi đảm nhận nhiệm vụ. Khi bộ phim kết thúc, thủ trưởng đơn vị đến động viên anh em đội chiếu bóng. Mỗi người được mời một điếu thuốc lá đầu lọc. Đó chỉ là món quà rất nhỏ, nhưng trong những năm tháng thiếu thốn nơi biên giới, lại là sự ghi nhận, khích lệ khiến chúng tôi nhớ mãi.
Sau thời gian học việc, tôi cùng anh Vũ Ngọc Dầu và anh Nguyễn Văn Ba chính thức đảm nhiệm công tác chiếu bóng của trung đoàn. Anh Dầu phụ trách máy phát điện, anh Ba vận hành máy chiếu, còn tôi thuyết minh và nhận nhiệm vụ đội trưởng điều hành chung. Chúng tôi, mỗi người một việc nhưng luôn phối hợp nhịp nhàng để mỗi buổi chiếu diễn ra trọn vẹn.
Mỗi chuyến đi, chúng tôi mang theo hai máy chiếu 35 ly, máy phát điện bốn kỳ làm mát bằng nước, loa, tăng âm, phông màn và những hộp phim bằng sắt nặng trĩu. Có nơi xe không vào được, cả ba cùng bộ đội thay nhau gùi máy, khiêng thiết bị vượt những con đường đá tai mèo lởm chởm, những con dốc dựng đứng để đến các điểm đóng quân. Mỗi lần vượt dốc, mồ hôi thấm ướt lưng áo. Nhưng chỉ nghĩ đến buổi tối anh em lại được xem phim, ai cũng quên hết mệt nhọc
Đến nơi, chúng tôi cùng đơn vị chọn địa điểm dựng màn, vừa bảo đảm thuận lợi cho việc chiếu phim, vừa giữ bí mật, an toàn. Những năm ấy, biên giới vẫn còn nhiều căng thẳng. Mỗi buổi chiếu đều có lực lượng cảnh giới làm nhiệm vụ. Anh em ngồi xem phim nhưng khẩu súng vẫn đặt ngay bên cạnh, sẵn sàng nhận lệnh khi cần.
Tôi nhớ lần đầu xuống phục vụ Đại đội 17 Công binh đóng quân ở xóm Tả Đú, cách Trung đoàn bộ chừng bốn cây số. Nghe tin đội chiếu bóng đến, anh em chiến sĩ vui như có hội, người giúp dựng màn, người kéo dây điện. Anh nuôi còn bảo tối nay sẽ đãi đội chiếu bóng món thịt bò với bắp cải hộp - một bữa ăn khá thịnh soạn thời ấy.
Nhưng đúng lúc mọi việc đã sẵn sàng thì trời đổ mưa. Chiếc máy phát điện cũ kỹ lại dở chứng, nổ được ít phút rồi tắt lịm. Ba anh em cặm cụi sửa chữa trong màn mưa lạnh. Khi máy hoạt động trở lại thì đã quá muộn, chúng tôi đành xin hoãn buổi chiếu sang tối hôm sau.
Không chỉ máy phát điện, những cuộn phim sau nhiều chặng đường vận chuyển cũng thường xuyên bị đứt. Muốn nối phim phải có a-xê-tôn, nhưng giữa vùng cao biên giới làm gì có thứ hóa chất ấy. Chúng tôi đành dùng nhựa cây trẩu dán từng đầu phim rồi hơ khô để tiếp tục buổi chiếu. Có lần đường dây loa bị đứt ngầm, chúng tôi phải cắt từng đoạn để thử, không có băng keo cách điện, ba anh em lại lấy nhựa cây sa mộc bọc kín các mối nối để máy tiếp tục hoạt động. Mỗi buổi chiếu kết thúc khán giả đã trở về nghỉ ngơi, còn chúng tôi lại lặng lẽ thu dọn, kiểm tra toàn bộ máy móc. Nhiều đêm xong việc, đồng hồ đã sang ngày mới.
Những ngày trong quân ngũ, chúng tôi đã phục vụ hàng trăm buổi chiếu phim, nhưng có hai đêm đến nay tôi vẫn nhớ như mới vừa hôm qua.
Một lần, đội chiếu bóng được giao phục vụ tại Bộ Chỉ huy tiền phương của tỉnh đóng ở xã Sính Lủng. Ngoài bộ đội còn có giáo viên, học sinh, nhân viên trạm y tế, công nhân làm đường và bà con quanh vùng. Nghe tin có chiếu phim, ai nấy đều náo nức kéo đến rất đông.
Tối hôm đó, chiếc máy phát điện nổ đều, máy chiếu hoạt động ổn định, hình ảnh trên màn ảnh trong trẻo hơn mọi lần. Bộ phim màu, rất mới với nhiều ca khúc hay nhanh chóng cuốn hút người xem. Khi giai điệu Nha Trang mùa thu lại về cất lên qua giọng hát của nghệ sĩ Thái Bảo, cả khoảng sân như lặng đi. Giữa núi đá Đồng Văn, hình ảnh biển xanh, cát trắng và thành phố phương Nam xa xôi khiến bao người say mê dõi theo màn ảnh.
Nhưng bộ phim mới đi được quá nửa thì âm thanh bỗng rè lên rồi tắt hẳn. Chúng tôi vội kiểm tra máy chiếu, bộ tăng âm, đường dây... Cuối cùng mới phát hiện chiếc loa phóng thanh duy nhất của đội đã bị cháy. Không có loa dự phòng, càng không thể tìm đâu ra một chiếc khác giữa vùng cao heo hút. Bộ phim vẫn tiếp tục, nhưng chỉ còn những khuôn hình sáng trôi qua trong im lặng.
Điều khiến tôi xúc động là không một ai đứng dậy bỏ về. Hàng trăm con người vẫn ngồi yên, chăm chú dõi theo màn ảnh. Có người khe khẽ hát theo những ca khúc mình từng nghe, có người tự đọc lời thoại cho bạn bên cạnh. Cả khoảng sân như cùng nhau hoàn thành nốt bộ phim còn dang dở. Chính trong đêm ấy, tôi hiểu rằng sự đồng cảm của người xem còn quý hơn bất cứ lời khen nào dành cho những người làm công tác chiếu bóng.
Nếu buổi chiếu ở Sính Lủng để lại trong tôi niềm xúc động thì đêm giao thừa tại sân vận động huyện Mèo Vạc lại trở thành một kỷ niệm không thể nào quên.
Theo kế hoạch, đội chiếu bóng của trung đoàn được giao phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân tại thị trấn Mèo Vạc. Từ rất sớm, sân vận động đã đông kín người. Những người lính xa quê, cán bộ các cơ quan, bà con các dân tộc và cả những nam thanh nữ tú từ các bản làng quanh thị trấn đều háo hức tìm chỗ ngồi trước màn ảnh.
Bộ phim được chọn là Cánh đồng hoang. Vì là phim Việt Nam nên tôi chỉ giới thiệu chương trình rồi lặng lẽ lui về bên chiếc máy chiếu. Khi tia sáng đầu tiên hắt lên tấm phông trắng, cả sân vận động dần chìm vào tĩnh lặng. Trước mắt tôi là hàng trăm khuôn mặt chăm chú dõi theo từng khuôn hình. Trong màn sương mỏng của đêm cuối năm, luồng sáng từ máy chiếu cắt ngang màn đêm như một dải lụa bạc. Hòa trong không gian ấy là mùi khói thuốc của những người lính, hương thơm dịu nhẹ từ mái tóc các cô gái xuống phố đón xuân và cái lạnh đặc trưng của vùng cao nguyên đá.
Đêm ấy, ngoài những chiến sĩ làm nhiệm vụ cảnh giới, mọi người đều được hòa mình vào một buổi sinh hoạt văn hóa hiếm hoi giữa miền biên viễn. Trước giờ chiếu, nhiều chiến sĩ trẻ đã làm quen với các cô giáo, y tá và những cô gái người Mông từ các bản đi xuống.Trong không khí ấy, dường như mọi khoảng cách đều tan biến, chỉ còn lại tình quân dân ấm áp giữa núi rừng biên cương.
Khi bộ phim khép lại cũng là lúc giao thừa cận kề. Theo đề nghị của lãnh đạo huyện, chúng tôi chưa vội tắt máy phát điện mà tiếp tục thắp sáng sân vận động để mọi người cùng đón năm mới. Bánh kẹo, mứt Tết được mang ra, những lời chúc xuân rộn rã vang lên khắp nơi. Ở một góc sân, các chàng trai, cô gái người Mông bắt đầu những trò chơi ngày xuân, trong đó có tục "vỗ mông" mà lần đầu tiên tôi được chứng kiến. Tiếng cười, tiếng nói và những lời chúc đầu năm hòa vào nhau, làm vơi đi nỗi nhớ nhà của những người lính trẻ lần đầu đón Tết xa nhà.
Hết thời hạn quân ngũ. Tôi trở lại với nghề dạy học, tiếp tục gắn bó với bục giảng. Anh Ba về địa phương, được bà con tín nhiệm tham gia công tác tại xã. Anh Dầu ở xa nên chúng tôi chưa có dịp gặp lại nhau.
Hơn bốn mươi năm đã trôi qua. Những chiếc máy chiếu 35 ly năm nào có lẽ đã nằm lại đâu đó trong ký ức, những cuộn phim cũ cũng đã phai màu theo thời gian. Nhưng tôi tin rằng, có những thứ ánh sáng không bao giờ tắt.
Đó là ánh sáng từ chiếc máy phát điện có bánh sắt giữa đêm đông biên giới; là tiếng máy chiếu lách cách vang lên trong căn hầm dã chiến; là những cuộn phim nhiều lần bị đứt được chúng tôi kiên nhẫn nối lại bằng nhựa cây trẩu vì không có a-xê-tôn; là ánh mắt háo hức của những người lính tại các đơn vị
Ánh sáng ấy từng soi lên tấm phông trắng giữa đại ngàn, nó đã soi sáng một quãng đời đẹp nhất của chúng tôi – quãng đời của tuổi trẻ, của tình đồng đội, của những con người bình dị đã cùng nhau vượt qua gian khó nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Có thể hôm nay, giữa những màn hình hiện đại và những công nghệ nghe nhìn tiên tiến, người ta khó hình dung được niềm vui của một đêm chiếu phim ngày ấy. Nhưng với tôi, chỉ cần nhắm mắt lại, tôi vẫn nghe thấy tiếng máy nổ thình thịch trong đêm, tiếng máy chiếu quay lách cách, và thấy một luồng sáng quen thuộc như dải lụa bạc đang xuyên qua màn sương nơi cao nguyên đá.
N.H.Q