Đỗ Nguyên Thương
BÀN VỀ CHẤT VĂN TRONG BÀI PHÊ BÌNH VĂN HỌC
(Tiếp nhận từ bài nói chuyện của PGS.TS, nhà LLPB Văn Giá)
Là một người yêu, say Lý luận phê bình nói chung và phê bình văn học nói riêng, tôi không biết nên hờn dỗi hay thấy đáng tự hào khi lực lượng làm công tác phê bình văn học hiện nay còn quá ít; có những Hội Văn học nghệ thuật địa phương thiếu chi hội Lý luận phê bình (LLPB) hoặc Nghiên cứu phê bình?
Viết LLPB là lối viết khó, công việc này còn được nhận định là khổ và khô. Chắc đó là nguyên nhân chính khiến ít người đam mê. Chưa kể, theo PGS.TS- Nhà Lý luận phê bình văn học (LLPBVH) Văn Giá, đáng trân trọng là lối viết có chất học thuật, lối viết này khó và kén độc giả vì khi viết, họ dựa hẳn vào một trường phái, một lý thuyết cụ thể nào đó, phê bình như một thử thách, như một sự vẫy gọi, mong cầu một nền phê bình có chất lượng.
Vậy làm thế nào để mỗi bài LLPB nói chung và PBVH nói riêng không khô khan, không nặng về lý thuyết hàn lâm hoặc cách viết gò câu, ép chữ? Làm thế nào để mỗi bài PBVH có chất văn, dễ đọc, xuôi tai và được nhiều người hứng thú tiếp nhận. Bài PBVH có chất văn phải có bố cục rõ ràng, có lối diễn đạt trôi chảy, ngôn từ trong sáng và có chọn lọc; khiến cho độc giả thấy có sức hút, bị cuốn theo câu chữ, hành văn, cuốn theo nhịp điệu và hình ảnh, cảm xúc. Vâng, quan trọng là phải thể hiện được cảm xúc của người viết, có như vậy mới “truyền lửa”, mới có sức hấp dẫn đối với độc giả…Trước đây, tôi được đọc cuốn “Thi nhân Việt Nam”, cuốn sách là hợp tuyển, vừa là nghiên cứu, phê bình về phong trào thơ mới Việt Nam. Tại đây, lối viết PBVH của Hoài Thanh- Hoài Chân khiến người đọc tiếp nhận dễ dàng và có cảm tình đặc biệt. Tiếp đó được đọc “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa. Đó là những tác phẩm dễ đọc, có tình, có lý, hấp dẫn. Tuy nhiên, ít có tác phẩm PBVH đạt được độ viết hay, khiến người đọc có cảm giác thích thú. Phải thừa nhận viết LLPB là công việc khó. Từng trải trong việc sáng tác và viết phê bình, nhà nghiên cứu phê bình Đỗ Lai Thúy từng nói: “Phê bình là con vật lưỡng thê”, tức là bài phê bình vừa có tính khoa học, vừa có tính học thuật. Khi nói: “Phê bình văn học phải có văn”, tức là nhấn mạnh vào tính nghệ thuật của bài viết. Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có nói về phê bình văn học có chất lượng là phải làm sang giá và sáng giá tác phẩm văn học mà mình tâm đắc. Tức là, cần lựa chọn tác phẩm có giá trị về nghệ thuật, về tư tưởng và quan trọng là người viết phải tâm đắc với tác phẩm thì bài viết phê bình mới có chất lượng.
Đứng trước những nhận định như phê bình chưa theo kịp sáng tác, phê bình chưa có chiều sâu… người làm công tác phê bình văn học thấy bận lòng. Còn nhớ, đại ý nhà thơ- Nhà PBVH Xuân Diệu từng nói: PBVH như cái bóng “ăn theo” cây cổ thụ. Sức vươn của tán lá cây cổ thụ càng rộng thì phê bình càng được “núp bóng”, nương theo. Thực chất đó là cách nói khiêm nhường. Tuy nhiên, cách nói đó làm nổi bật một thực tế không thể phủ nhận là có sáng tác hay sẽ là nguồn cảm hứng, là điều kiện tiên quyết cho việc có bài phê bình hay.
Hiện nay, theo PGS. TS Văn Giá, có 03 dạng phê bình thịnh hành,
Thứ nhất, Phê bình thông tấn (còn gọi là PB báo chí): Điểm sách, đọc sách, bài viết thường có dung lượng dưới 1000 chữ, giới thiệu sách, có nhận định ngắn, nhận định bước đầu, tổng quát. Các bài viết này để đăng báo là chủ yếu, nhất là báo ngày/tuần. Văn nghệ rất cần loại phê bình này. Nó giúp cho người đọc hình dung được hơi thở sống động và đa dạng của đới sống văn học.
Thứ hai, Phê bình nghệ sỹ: Người sáng tác làm phê bình là sự tự ý thức về nghề, giúp cho khả năng nhìn tác phẩm của mình như nhìn tác phẩm của người khác. Đến lượt viết phê bình về tác phẩm của người khác cũng rất thuận lợi. Sản phẩm của kiểu phê bình này có sức hấp dẫn đối với người đọc vì sự tinh tế trong lối viết, lối cảm nhận và đánh giá, rất có cá tính (tiêu biểu là Xuân Diệu).
Thứ ba, Phê bình học thuật: Phê bình của những người nghiên cứu, được đào tạo và thủy chung với nghề, nói như cố Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, “Phê bình đi ra từ nền đại học”. Tiêu biểu cho lối phê bình này là hàng loạt các giáo sư, các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp như Hoàng Ngọc Hiến, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử, Lã Nguyên…
Phê bình học thuật thực ra cũng cần tích hợp nhiều khuynh hướng phê bình để làm nên giá trị cho mỗi áng văn phê bình. Và, đã làm phê bình, đọc phê bình, cũng cần biết các dạng phê bình khác nữa:
Phê bình tiểu sử: Dựa vào tiểu sử của nhà văn để khám phá tác phẩm (còn gọi là phê bình tri âm), người phê bình dựa vào các chi tiết tiểu sử trong cuộc đời của nhà văn để cố gắng hiểu cho hết, cho sâu tư tưởng mà nhà văn đặt vào tác phẩm. Trước 1945, tiêu biểu cho lối phê bình này là những tác giả Trần Thanh Mại, Lê Thanh. Sau này, trong nền văn học cách mạng, một số cây bút phê bình cũng coi trọng dạng phê bình này.
Phê bình ấn tượng: Tiểu biểu cho lối viết này là Hoài Thanh với nguyên tắc: “Lấy hồn tôi để hiểu hồn người”. Hoài Thanh đạt đến độ điêu luyện về ngôn từ, đẩy bài phê bình thành một áng văn khi viết “Thi nhân Việt Nam”, khiến người đọc khi đọc bài phê bình còn được thưởng thức chiều sâu và sự tinh tế của tiếng Việt. Bên cạnh đó là Thiếu Sơn với “Phê bình và cảo luận”, Trương Chính “Dưới mắt tôi”.v…v…
Phê bình dưới góc nhìn văn hóa: Bất cứ nhà văn nào cũng thuộc về một nền văn hóa nào đó, ví dụ truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn biểu đạt rất nhiều hàm lượng văn hóa. Và tâm đắc với truyện ngắn Nguyễn Hữa Nhàn, PGS TS. Văn Giá có bài viết “Truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn dưới góc nhìn văn hóa”, Nguyễn Xuân Khánh có “Mẫu thượng ngàn”, “Hồ Quý Ly”, “Đội gạo lên chùa”… Nguyễn Hữu Nhàn đặt ra vấn đề: Con người trở nên có phẩm giá người, con người đầy đặn các giá trị hơn lên khi có văn hóa; và dân tộc muốn phát triển thì cần phải bắt đầu từ/bằng văn hóa.
Bất cứ phương pháp phê bình nào cũng có sở trường, sở đoản riêng. Ví dụ, dòng họ và phong tục là của truyện Mảnh đất lắm người, nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường); văn hóa nông thôn, văn hóa dân tộc thiểu số, nhất là của người Dao đỏ làm nên truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn… Người viết phê bình phải tìm ra được phương pháp tương thích cho đối tượng thích hợp bởi thực tế, không có phương pháp nào vạn năng. Đỗ Lai Thúy thành công nhất là phê bình phân tâm học, nhưng anh cũng dùng nhiều đến lối tiếp cận của phê bình tiểu sử, phê bình văn hóa…
Cũng theo Nhà LLPB Văn Giá, tiềm thức có một sự chi phối khá mạnh mẽ đến sáng tác của mỗi tác giả. Không thể phủ nhận sự sáng tạo trong nghệ thuật không chỉ bằng năng lực ý thức, mà còn bẳng cả tiềm thức. Người phê bình giỏi là người phát hiện ra khả năng nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm văn, thơ. Bởi vì khi sáng tác văn, thơ, người sáng tác đã viết từ tri thức, từ ý thức mạch lạc, sáng sủa; đồng thời còn sáng tác bằng phần vô thức, tiềm thức, mơ hồ, thầm kín và không kiểm soát được. Trong thơ, đó là thi sỹ Hoàng Cầm khi viết Lá diêu bông, Cây tam cúc…; trong văn xuôi đó là Thạch Lam, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng…Vì vậy, phê bình cần phải khám phá cái phần tiềm thức, vô thức trong các tác phẩm văn học để thấy chiều sâu và vẻ đẹp bí ẩn của nghệ thuật.
Để nâng tầm viết phê bình, nhất định phải lựa chọn được tác phẩm độc đáo, từ nội dung tư tưởng đến nghệ thuật của tác phẩm có giá trị thì mới tạo được niềm yêu thích, mê say cho người viết phê bình. Từ cái cốt, cái nền là tác phẩm văn học có giá trị, người viết phê bình hình thành cho mình cái tứ, tiếp đó là hệ thống ý, rồi đến sự thăng hoa của câu chữ; tất nhiên sự thăng hoa chỉ có được khi người viết phê bình có cảm xúc sâu sắc với tác phẩm mình lựa chọn.
Phê bình rất cần sự sáng tạo, cần sự trau chuốt ngôn từ để bài viết thực sự là một áng văn, có sức hấp dẫn đối với độc giả. Và để đạt được điều đó, người viết phê bình cần có năng lực quan sát sâu rộng, có khả năng lựa chọn để tìm ra “điểm sáng” trong nghệ thuật, nội dung của mỗi tác phẩm cần bàn. Sống với từng chi tiết của truyện ngắn, ám ảnh từng chữ thần, câu thần (xuất chúng, nổi trội) trong mỗi bài thơ để khai thác, sao cho việc đánh giá, bàn luận, khen chê có cơ sở, có lý, có tình, khiên tác giả và độc giả chấp nhận, yêu thích.
Ngày nay, khi bão táp thông tin có thể được khai thác mọi nơi, mọi chỗ; chỉ cần chăm chỉ, chịu khó mỗi người làm công tác LLPB nói chung và PBVH nói riêng có thể tự học, tự mài sắc cây viết của mình. Bên cạnh tự học là việc tham gia các lớp bồi dưỡng, các “trại viết” do Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam hoặc các cơ quan có chức năng tổ chức. Đồng thời với đó phải là tâm huyết, đam mê và trách nhiệm. Có như vậy, việc khiến cho mỗi bài phê bình phải trở thành một áng văn không còn là khó khăn, thách thức.
Đ.N.T